1. Đứng tên trả góp điện thoại hộ người khác có trách nhiệm gì?
>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Do bạn không cung cấp rõ thông tin về vấn để giữa bạn và người mà bạn đứng tên mua điện thoại hộ, có thỏa thuận đảm bảo sự cam kết về trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của họ (trực tiếp cho công ty bán hàng hoặc cho cá nhân bạn) bằng việc viết giấy cam kết hay không nên chúng tôi giả định trường hợp bạn đứng tên mua trả góp điện thoại hộ người bạn của mình nhưng không có giấy tờ cam kết về nghĩa vụ trả nợ từ bên bạn của bạn.
Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về việc mua trả chậm, trả dần như sau:
Điều 453. Mua trả chậm, trả dần1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Việc bạn thay bạn của mình đứng tên trong hợp đồng mua bán điện thoại với phương thức trả góp là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, trong hợp đồng mua bán, bạn là chủ thể bên mua, bạn sẽ có trách nhiệm thực hiện đúng theo những cam kết đã được ghi nhận trong hợp đồng. Vì vậy, tại thời điểm này, dù bạn của bạn là người trực tiếp giữ điện thoại được mua trả góp nhưng hiện không thực hiện việc trả góp hàng tháng, thì bạn vẫn phải có trách nhiệm thực hiện thanh toán đúng theo tiến độ thanh toán trong hợp đồng.
Như vậy để giải quyết trường hợp này, bạn phải thực hiện việc thanh toán tiền trả góp điện thoại cho công ty bán điện thoại, ngoài ra còn phải thanh toán số tiền phạt vi phạm hợp đồng
Nếu bạn chưa có khả năng chi trả, bạn có thể thỏa thuận, đề nghị phía ngân hàng tạo điều kiện để thực hiện việc thanh toán một cách phù hợp nhất. Trong trường hợp này, ngân hàng có thể khởi kiện tới Tòa án yêu cầu bạn thanh toán số tiền trên. Khi đó, bạn sẽ tham gia tố tụng với tư cách bị đơn, và phải có trách nhiệm thực hiện theo hợp đồng đã cam kết .
Về việc bạn có bị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không thì:
Dựa trên những gì mà bạn cung cấp, khi giao kết hợp đồng mua bán tài sản trả góp, bạn có cung cấp thông tin xác thực (tức là không có hành vi lừa dối) cho bên bán hay không. Nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng, thông tin, giấy tờ (họ tên, số CMTND, địa chỉ..) bạn đều cung cấp đúng cho bên bán thì tức là bạn không có hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017:
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;d) Tái phạm nguy hiểm;đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, mục đích của bên bán chỉ là thu hồi số nợ của bạn chứ họ không ý định tố cáo để buộc bạn phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì số tiền không lớn, nên bạn nên thanh toán số tiền còn lại cho họ để tránh những rắc rối không đáng có về mặt pháp lý.
Ngoài ra trường hợp bạn chưa hề có thỏa thuận đảm bảo sự cam kết về trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ với họ thì sẽ không có đặt ra trách nhiệm với bạn.
2. Cho bạn mượn chứng minh thư (CMTND) để mua hàng trả góp bị xử lý thế nào?
Luật sư tư vấn:
Căn cứ Điều 7 Văn bản hợp nhất 03/VBHN-BCA quy định sử dụng Chứng minh nhân dân như sau:
"1. Công dân được sử dụng Chứng minh nhân dân của mình làm chứng nhận nhân thân và phải mang theo khi đi lại, giao dịch; xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát. Số Chứng minh nhân dân được dùng để ghi vào một số loại giấy tờ khác của công dân.
2. Nghiêm cấm việc làm giả, tẩy xóa, sửa chữa, cho thuê, cho mượn, thế chấp... Chứng minh nhân dân."
Điểm a) Khoản 2 Điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chứng minh nhân dân như sau:
"2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng chứng minh nhân dân của người khác để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;"
Như vậy công dân được sử dụng CMND của mình làm chứng nhận nhân thân và phải mang theo khi đi lại, giao dịch; xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát. Số CMND được dùng để ghi vào một số loại giấy tờ khác của công dân, pháp luật nghiêm cấm việc làm giả, tẩy xóa, sửa chữa, cho thuê, cho mượn, thế chấp... CMND. Như vậy việc Nhanh cho Hậu mượn chứng minh thư nhân dân là hành vi trái pháp luật.
Do đó Nhanh không thể yêu cầu Bạn của bạn viết bản cam kết bởi bản cam kết này sẽ không có giá trị.
Điều 461 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về việc mua trả chậm, trả dần như sau:
Điều 453. Mua trả chậm, trả dần1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Quy định về hình thức mua trả góp ô tô ?

Luật sư tư vấn Luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162
Trả lời:
Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Điều 453. Mua trả chậm, trả dần1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Theo thông tin bạn cung cấp, thì bạn có nhu cầu mua xe trả góp của một hãng taxi thì các bên phải tiến hành ký kết hợp đồng mua bán trả dần và phải tuân thủ các thỏa thuận về quyền và nội dung, thời hạn trả dần theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Theo quy định trên, thì việc bạn và hãng taxi ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh là không phù hợp với nội dung của loại hợp đồng này, do bạn là người có nhu cầu muốn mua xe nhưng chưa có đủ tiền để trả và công ty là bên có nhu cầu bán xe, còn theo quy định của pháp luật về hợp đồng hợp tác kinh doanh là loại hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế. Do đó hợp đồng này sẽ bị vô hiệu do giả tạo.
Như bạn cung cấp, sau một khoảng thời gian bên công ty lại yêu cầu ký với bạn hợp đồng thuê tài sản là xe ô tô. Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Điều 472. Hợp đồng thuê tài sảnHợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê.Hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Căn cứ theo quy định trên thì về ý chí của các bên và nội dung của hợp đồng hoàn toàn không phù hợp với nhau, như đã phân tích bên trên, bạn là người có nhu cầu muốn mua xe nhưng chưa có đủ tiền để trả và công ty là bên có nhu cầu bán xe, nếu các bên ký kết hợp đồng thuê tài sản thì về mặt nguyên tắc khi hết thời hạn thuê bạn phải trả lại tài sản là chiếc taxi và tiền thuê cho công ty, chứ không được mua xe của công ty.
Do đó, trong trường hợp này bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa đế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
4. Rủi ro khi mua nhà trả góp để con gái đứng tên?
Xin cho hỏi sau này tài sản này là của con gái toàn quyền phải không ? cho dù tiền đó là do cha mẹ cháu mua ?
Tôi hỏi như vậy vì rằng đứa con gái ấy là con riêng của chồng với vợ trước, mà tôi thì lại không có con , vợ chồng tôi đã lớn tuổi không đứng tên góp nhà được , mà con gái đã 22 tuổi, lại rất khó dạy bảo , rất bất hiếu với chính cha đẻ của mình ?Tôi rất lo nếu không tính kỹ có có thể về sau cháu lại đuổi tôi và cha cháu ra khỏi nhà ?
Rất mong Luật sư cho tôi biết tôi còn cách nào để mua nhà trả góp. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: L.D
Điều 3 Thông tư 32/2014/TT-NHNN sửa đổi thông tư 11/2013/TT-NHNN và nghị quyết 02/2013/NQ-CP Về cho vay hỗ trợ nhà ở bổ sung về đối tượng cho vay
Điều 3. Điều kiện cho vay
Ngoài các điều kiện cho vay theo quy định của pháp luật hiện hành về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; quy định tại Thông tư số 07/2013/TT-BXD ngày 15 tháng 05 năm 2013 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn việc xác định các đối tượng được vay vốn hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế Thông tư số 07/2013/TT-BXD khách hàng phải đáp ứng thêm các điều kiện sau:
1. Đối với khách hàng cá nhân vay để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; thuê, mua nhà ở thương mại:
a) Có hợp đồng mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; hợp đồng thuê, mua nhà ở thương mại với chủ đầu tư;
b) Có mục đích vay vốn để trả khoản tiền chưa thanh toán mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; thuê, mua nhà ở thương mại có diện tích nhỏ hơn 70m2, giá bán dưới 15.000.000 đồng/m2 đối với các hợp đồng đã ký với chủ đầu tư kể từ ngày 07 tháng 01 năm 2013; hoặc có mục đích vay vốn để trả các khoản tiền chưa thanh toán với chủ đầu tư phát sinh kể từ ngày 21 tháng 8 năm 2014 để mua nhà ở thương mại có tổng giá trị hợp đồng mua bán (kể cả nhà và đất) không vượt quá 1.050.000.000 đồng;
c) Có đề nghị vay vốn để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; thuê, mua nhà ở thương mại và cam kết khách hàng, các thành viên trong hộ gia đình của khách hàng chưa được vay vốn hỗ trợ tại ngân hàng theo quy định tại Thông tư này;
d) Có đủ vốn tối thiểu tham gia vào phương án vay theo quy định tại khoản 5 Điều này.
Khoản 3 Mục I nghị quyết 02/2013/NQ-CP quy định về đối tượng được hỗ trợ gói vay 30.000 tỷ như sau :
3. Về vốn tín dụng
a) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:.................
- Chỉ đạo các ngân hàng thương mại nhà nước dành một lượng vốn hợp lý (tối thiểu khoảng 3% tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại nhà nước) để cho các đối tượng thu nhập thấp, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang vay để thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở thương mại có diện tích nhỏ hơn 70 m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2 với lãi suất thấp, kỳ hạn trả nợ phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng và cho vay đối với các doanh nghiệp xây dựng nhà ở xã hội, doanh nghiệp chuyển đổi công năng của dự án đầu tư sang dự án nhà ở xã hội với lãi suất hợp lý và kỳ hạn trả nợ phù hợp với kỳ hạn của nguồn vốn và khả năng trả nợ của khách hàng. Trong quý I năm 2013 phối hợp với Bộ Xây dựng ban hành, hướng dẫn Quy chế cho vay các đối tượng trên để đảm bảo sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích các khoản tín dụng này.
Dành từ 20 - 40 nghìn tỷ đồng thông qua tái cấp vốn với lãi suất hợp lý và thời hạn tối đa 10 năm tùy theo đối tượng sử dụng vốn vay để hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại của Nhà nước để phục vụ cho vay đối với các đối tượng nêu trên.
Như vậy, Chúng tôi không thấy quy định nào của pháp luật về việc người trên 55 tuổi thì không được mua nhà theo hình thức vay gói 30.000 tỷ. Bạn kiểm tra lại điều kiện vay của mình và điều kiện vay riêng của từng ngân hàng để xem xét lại, trong trường hợp bạn vẫn được hỗ trợ vay thì bạn tiến hành mua nhà như bình thường.
Trường hợp ngân hàng mà bạn dự tính vay gói 30.00 tỷ để mua nhà có điều kiện về tuổi tác, thì bạn và con gái bạn lập một văn bản thỏa thuận về việc ủy quyền cho con gái bạn đứng tên trên hợp đồng mua bán và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà có công chứng. Như vậy, nếu có phát sinh xảy ra bất lợi cho bạn thì bạn có thể bảo vệ được quyền lợi của vợ chồng bạn.