1. Dự án sau bao nhiêu năm không triển khai thì bị thu hồi giấy phép ?

Chào Công ty Luật Minh Khuê, có thể cho tôi hỏi nhà tôi đang nằm trong diện quy hoạch cùng 1 số hộ khác với một bên là dự án tư nhân trước nhà từ năm 2000 đến nay.Do đền bù của chủ đầu tư với các hộ là không thỏa đáng , nên việc đền bù giải tỏa đến nay vẫn không được các hộ đồng ý . Bên dự án bây giờ người ta xây tường gạch xung quanh khu đất của họ và cho làm bãi gửi xe và chắc chắn việc thu hồi đất của các hộ dân như nhà tôi là không thể.
Nhà tôi đang là nhà cấp 4, do tình trạng nhà xuống cấp gây nguy hiểm trong sinh hoạt, tôi muốn làm đơn đề nghị xin xây nhà lên 3 tầng để bảo đảm sinh hoạt gia đình được an toàn có được không ? thủ tục làm đơn như thế nào. Và cho tôi hỏi là dự án sau bao nhiêu năm không triển khai thì bị thu hồi giấy phép ?
Xin cảm ơn!

Dự án sau bao nhiêu năm không triển khai thì bị thu hồi giấy phép ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai về thu hồi đất dự án, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về việc xin cấp giấy phép:

Theo quy định tại điều 94, Luật xây dựng 2014 quy định về điều kiện cấp giấy phép xây dựng có thời hạn:

"1. Điều kiện chung cấp giấy phép xây dựng có thời hạn gồm:

a) Thuộc khu vực có quy hoạch phân khu xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, công bố nhưng chưa thực hiện và chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

b) Phù hợp với quy mô công trình do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cho từng khu vực và thời hạn tồn tại của công trình theo kế hoạch thực hiện quy hoạch phân khu xây dựng đã được phê duyệt;

c) Chủ đầu tư cam kết tự phá dỡ công trình khi hết thời hạn tồn tại được ghi trong giấy phép xây dựng có thời hạn, nếu không tự phá dỡ thì bị cưỡng chế và chịu mọi chi phí cho việc cưỡng chế phá dỡ.

2. Đối với công trình được cấp giấy phép xây dựng có thời hạn phải đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và đáp ứng điều kiện quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 91 của Luật này.

3. Đối với nhà ở riêng lẻ phải đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 93 của Luật này.

4. Đối với công trình, nhà ở riêng lẻ được cấp giấy phép xây dựng có thời hạn, khi hết thời hạn mà kế hoạch thực hiện quy hoạch xây dựng chưa được triển khai thì cơ quan đã cấp giấy phép xây dựng có trách nhiệm thông báo cho chủ sở hữu công trình hoặc người được giao sử dụng công trình về điều chỉnh quy hoạch xây dựng và thực hiện gia hạn giấy phép xây dựng có thời hạn.

5. Đối với công trình, nhà ở riêng lẻ thuộc khu vực đã có quy hoạch phân khu xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì không cấp giấy phép xây dựng có thời hạn cho việc xây dựng mới mà chỉ cấp giấy phép xây dựng có thời hạn để sửa chữa, cải tạo."

Trường hợp của bạn có thể được làm đơn đề nghị sửa nhà lên 3 tầng, với điều kiện quy định tại khoản a, b, c điểm 1 khoản này đó là

2. Về thủ tục xin cấp giấy phép bao gồm:

Theo quy định tại điều 96, luật xây dựng hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng đối với trường hợp sửa chữa, cải tạo công trình.

"1. Đơn đề nghị cấp giấy phép sửa chữa, cải tạo công trình.

2. Bản sao một trong những giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu, quản lý, sử dụng công trình, nhà ở theo quy định của pháp luật.

3. Bản vẽ, ảnh chụp hiện trạng của bộ phận, hạng mục công trình, nhà ở riêng lẻ đề nghị được cải tạo.

4. Đối với công trình di tích lịch sử - văn hoá và danh lam, thắng cảnh đã được xếp hạng, công trình hạ tầng kỹ thuật thì phải có văn bản chấp thuận về sự cần thiết xây dựng và quy mô công trình của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa."

Về thu hồi giấy phép của dự án đầu tư:

Theo quy định tại điều 41, Luật đầu tư 2014 quy định về các trường hợp thu hồi giấy chứng nhận đầu tư:

"1. Cơ quan đăng ký đầu tư quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong trường hợp dự án đầu tư chấm dứt hoạt động theo quy định khoản 1 Điều 48 của Luật này.

2. Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Theo quy định tại điều 48, luật đầu tư 2014 quy định về các trường hợp chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư:

1. Dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau đây:

a) Nhà đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động của dự án;

b) Theo các điều kiện chấm dứt hoạt động được quy định trong hợp đồng, điều lệ doanh nghiệp;

c) Hết thời hạn hoạt động của dự án đầu tư;

d) Dự án đầu tư thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 47 của Luật này mà nhà đầu tư không có khả năng khắc phục điều kiện ngừng hoạt động;

đ) Nhà đầu tư bị Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án đầu tư hoặc không được tiếp tục sử dụng địa điểm đầu tư và không thực hiện thủ tục điều chỉnh địa điểm đầu tư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày có quyết định thu hồi đất hoặc không được tiếp tục sử dụng địa điểm đầu tư;

e) Dự án đầu tư đã ngừng hoạt động và hết thời hạn 12 tháng kể từ ngày ngừng hoạt động, cơ quan đăng ký đầu tư không liên lạc được với nhà đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của nhà đầu tư;

g) Sau 12 tháng mà nhà đầu tư không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện dự án theo tiến độ đăng ký với cơ quan đăng ký đầu tư và không thuộc trường hợp được giãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Điều 46 của Luật này;

h) Theo bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài."

Như vậy đối với dự án, sau 12 tháng mà nhà đầu tư không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện dự án theo tiến độ đăng ký với cơ quan đăng ký đầu tư và không thuộc trường hợp được giãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Điều 46 của Luật này.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền cưỡng chế của UBND cấp xã đối với công trình xây dựng trái phép ?

2. Thu hồi đất dự án được bồi thường như thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Công ty tôi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư năm 2002 về hoạt động sản xuất linh kiện điện tử, được nhà nước giao đất để thực hiện dự án. Tuy nhiên công ty tôi đã ngừng hoạt động từ năm 2005 và không làm thủ tục ngừng hoạt động. Ủy ban chưa thực hiện thu hồi đất của tôi mà đã giao đất cho người khác là phần đất dự án của tôi.
Ủy ban làm thế có đúng không ? Vậy tôi được bồi thường như thế nào về những công trình mà tôi đã xây dựng trên đất ?
Xin cảm ơn luật sư

Thu hồi đất dự án được bồi thường như thế nào về những công trình mà tôi đã xây dựng trên đất ?

Tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, Về vấn đề thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013:

Điều 64. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai

1. Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm

i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

Như vậy, công ty củ bạn đã ngừng hoạt động dự án từ năm 2005, nên thuộc trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai (không sử dụng trong 12 tháng liên tục và không thực hiện việc gia hạn sử dụng đất). Mặt khác, do vi phạm pháp luật về đất đai nên khi thu thồi, công ty của bạn không được bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất.

Thứ hai: về vấn đề giao đất của Ủy ban nhân dân tỉnh:

Điều 53 Luật đất đai quy định về việc giao đất, cho thuê đất như sau:

Việc Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất theo quy định của Luật này và phải thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật đối với trường hợp phải giải phóng mặt bằng.

Trong trường hợp này, nếu muốn giao đất cho một người khác sử dụng, Ủy ban nhân dân tỉnh phải tiến hành thủ tục thu hồi đất đối với dự án của công ty bạn theo quy định của pháp luạt đất đai. Khi Ủy ba chưa tiến hành thu hồi mà đã thực hiện giao cho tổ chức, cá nhân khác là vi phạm phám luật đất đai, quyết định giao đất đó không có hiệu lực.

Thứ ba: Thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư theo Luật đầu tư năm 2014

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì doanh nghiệp của bạn đã đăng kí đầu tư, được cấp giấy chứng nhận đầu tư từ năm 2002. Tuy nhiên, đến năm 2005 đã ngừng hoạt động và đến nay cũng không hề có thông báo về việc ngừng hoạt động này, nên doanh nghiệp của bạn sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư theo điểm g) điều 48 Luật đầu tư: g) Sau 12 tháng mà nhà đầu tư không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện dự án theo tiến độ đăng ký với cơ quan đăng ký đầu tư và không thuộc trường hợp được giãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Điều 46 của Luật này;

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai về thu hồi đất và mức bồi thường, gọi: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ? Hướng dẫn chính sách đền bù khi bị thu hồi đất đai ?

3. Các bước thu hồi đất theo pháp luật là như thế nào ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi về quy trình, các bước thu hồi đất theo pháp luật là như thế nào?
Cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Quy tình việc thu hồi đất được thực hiện theo một quy trình cơ bản như sau:

Bước 1: Thông báo thu hồi đất

Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất. Thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết phục mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc. Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc.

Bước 2: Lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi.

Niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.

Tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền;

việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi.

Bước 3: Ra quyết định thu hồi đất, theo đó cơ quan có thẩm quyền dưới đây sẽ ra quyết định

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai: quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;

Gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có) và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng

Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện.

Trường hợp người có đất thu hồi đã được vận động, thuyết phục nhưng không chấp hành việc bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất.

Trách nhiệm của UBND xã và người sử dụng đất: Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm;

Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

Bước 4: Tổ chức chi trả bồi thường

Theo quy định tại Điều 93 Luật đất đai, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi.

Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.

Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước.

Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả ngân sách nhà nước.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất

4. So sánh bồi thường dân sự với bồi thường thu hồi đất ?

Kính thưa luật sư! Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, tôi muốn nhờ Công ty một vấn đề là: “So sánh bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân sự với bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai” ?
Xin trân thành cám ơn.

So sánh bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân sự với bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai.

Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

So sánh bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân sự với bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai.

Giống nhau:

Bên bồi thường phải chi trả cho bên nhận bồi thường một khoản tiền hoặc những lợi ích vật chất khác. Đối với việc chi trả bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai thể hiện khá rõ trong Điều 74 luật đất đai 2013 về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất” Còn đối với bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân sự việc chi trả của bên bồi thường cho bên nhận bồi thường được quy định tại Điều 585, Bộ luật dân sự năm 2015 về nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Từ những quy định trên cho ta thấy bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân sự hay là bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai thì bên bồi thường luôn phải chi trả cho bên nhận bồi thường một khoản tiền hạc một lợi ích vật chất khác.

Khác nhau:

- Về chủ thể gây thiệt hại

+ Trong bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai, chủ thể gây thiệt hại là người thi hành công vụ. Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính trong lĩnh vực đất đai hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính trong lĩnh vực đất đai thực hiện nhiệm vụ thu hồi đất theo quy định của pháp luật.

+ Bồi thường dân sự, chủ thể gây thiệt hại là bất kỳ người nào có hành vi trái pháp luật do lỗi cố ý hoặc vô ý mà gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.

- Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường

+ Trong bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là Nhà nước mà không phải là trách nhiệm của cá nhân cán bộ, công chức hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhà nước vừa là chủ thể được trao quyền thu lại quyền sử dụng đất của người được nhà nước trao quyền sử dụng đất, đồng thời là cũng là chủ thể bồi thường cho người sử dụng đất đối với thiệt hại về đất, về tài sản gắn liền với đất và thiệt hại về chi phí đầu tư vào đất.

+ Bồi thường dân sự, chủ thể có trách nhiệm bồi thường là người gây thiệt hại hoặc có thể là người thứ ba như cha, mẹ, người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc là pháp nhân, người dạy nghề khi người của pháp nhân, người học nghề, người làm công gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc được giao.

- Bản chất của quan hệ bồi thường

+ Trong bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường. Mục đích của bồi thường nhà nước là đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho công dân nước mình. Bồi thường thu hồi đất mang bản chất là trách nhiệm bồi thường hành chính, được điều chỉnh theo các nguyên tắc của luật hành chính/luật công. Trường hợp này sẽ được áp dụng đối với việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh và các mục đích công phi kinh tế khác. Nhà nước với danh nghĩa là đại diện chủ sở hữu, đồng thời là người quản lý nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ cho lợi ích công, lợi ích quốc gia. Trong một số trường hợp, Nhà nước có quyền thu hồi đất của cá nhân nếu việc đó thực sự cần thiết cho lợi ích công hay vì nhiệm vụ quản lý nhà nước - xã hội. Có thể liệt kê các nhu cầu thiết yếu của xã hội như điện, đường, trường, trạm, y tế,...đây là các mục tiêu phi kinh tế, phi lợi nhuận mà ở đó chúng ta khó có thể tìm ra lợi ích của một người hay một nhóm cá thể nhỏ lẻ nào.

+ Trong bồi thường dân sự, chủ thể có trách nhiệm bồi thường là người có lỗi. “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Trong trường hợp người giám hộ không chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì người giám hộ phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Nhà trường phải bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi gây ra trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại; Bệnh viện, tổ chức phải bồi thường thiệt hại do người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại trong thời gian bệnh viện, tổ chức trực tiếp quản lý người mất năng lực hành vi dân sự.

-Mức giá bồi thường thiệt hại.

+ Trong bồi thường dân sự, thì mức giá bồi thường được xác định theo sự thỏa thuận của các bên, theo thiệt hại thực tế có thể chứng minh được, theo quy định của pháp luật. Điều 13 BLDS năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Điều 360 BLDS năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.Quy định này được hiểu: Bên vi phạm nghĩa vụ, mà hành vi vi phạm gây thiệt hại cho bên kia, thì phải có trách nhiệm BTTH (bồi thường thiệt hại). Trừ khi các bên có thỏa thuận khác, hoặc luật có quy định khác.Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng, Điều 419 BLDS năm 2015, quy định:

“1. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.

2. Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.

3. Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc.”

Từ quy định vừa trích dẫn có thể hiểu:

+ Mức yêu cầu BTTH có thể bằng và là lợi ích mà lẽ ra sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Ví dụ: Ông A cho ông B thuê nhà 05 triệu đồng/tháng. Thời gian thuê ghi nhận trong Hợp đồng là 01 năm. Tuy nhiên sau 3 tháng ông B không thuê nữa. Điều này làm ông A phải tìm người thuê mới trong 3 tháng. Như vậy, khoảng thời gian 3 tháng không có người thuê, tương đương thu nhập 15 triệu đồng, chính là khoản thiệt hại mà lẽ ra ông A được hưởng theo Hợp đồng cho thuê nhà. Do vậy, ông A có quyền đòi ông B bồi thường cho mình 15 triệu đồng.

+Trong bồi thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai.

Mức giá bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất là do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 114 Luật đất đai 2013 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Bảng giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sẽ do UBND tỉnh quy định phù hợp với tình hình kinh tế xã hội ở từng địa phương và quy hoạnh đã được phê duyệt.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn cách tính thuế xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật

5. Trường hợp thu hồi đất không được bồi thường ?

Thưa Luật sư, Em có một vấn đề cần nhờ sự giúp đỡ của luật sư. Hiện nay ở thôn em đang tiến hành làm đường xây dựng nông thôn mới, các cấp kêu gọi dân hiến đất, hiến cây nhưng không có đền bù. Người dân thì chấp nhận hiến đất, cây nhưng phải có đền bù để dân xây dựng tường rào. Vì phần đất lấn vào của dân rất nhiều mất hẳn tường rào. Ở thôn cũng đã đưa ra họp nhưng dân hỏi thì cũng chỉ trả lời là không có đền bù. Dân chưa ký vào văn bản nhưng kế hoạch làm đường vẫn tiến hành thi công.
Như vậy em xin hỏi luật sư các cấp làm như vậy có đúng không? Và người dân có được đền bù trong trường hợp này không?. Đất của dân đều có sổ quyền sử dụng đất ?
Mong luật sư giải thích giúp em với thời gian sớm nhất. Xin cảm ơn luật sư.
Người hỏi: Ngọc

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hiện nay, tại Điều 62 Luật đất đai năm 2013 có quy định như sau:

"Điều 62. Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây:

1. Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;

2. Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:

a) Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);

b) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia;

c) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;

3. Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm:

a) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương;

b) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải;

c) Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;

d) Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;

đ) Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản."

Như vậy việc trường hợp thôn bạn đang tiến hành làm đường xây dựng nông thôn mới, các cấp kêu gọi dân hiến đất thuộc trường hợp thu hồi đất phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, vì lợi ích quốc gia công cộng theo quy định trên.

Cũng theo quy đinh của Luật đất đai 2013 tại Điều 75 có quy định về điều kiện được bồi thường khi thu hồi đất như sau:

"Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

2. Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

4. Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

6. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp."

Vì vậy bạn có thể xem xét nếu đất của gia đình bạn đáp ứng được các điều kiện trên thì sẽ được bồi thường.

Tuy nhiên Luật đất đai cũng quy định những trường hợp thu hồi đất không được bồi thường về đất mà chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại Điều 82 và điều 76 LĐĐ 2013 như sau:

Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất:

Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này. Bao gồm:

a) Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật này;

b) Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;

c) Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;

d) Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

đ) Đất nhận khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;

3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;

4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này.

Như vậy nếu thuộc vào trường hợp trên thì ga đình bạn sẽ không được đền bù về đất mà chỉ được đền bù chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định của pháp luật.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài gọi 1900.6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi gây thiệt hại về tinh thần thì sẽ phải bồi thường ra sao ?