1. Dùng căn cước, chứng minh thư cũ khi đã có căn cước công dân gắn chip sẽ gặp rủi ro gì?

Theo quy định tại khoản 8 Điều 5 của Thông tư 60/2021/TT-BCA về trình tự cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước công dân (CCCD), khi công dân thực hiện thủ tục đổi CMND sang CCCD gắn chíp hoặc đổi thẻ CCCD gắn chíp, CMND và CCCD cũ sẽ bị thu hồi và không còn giá trị sử dụng từ ngày bạn nhận được CCCD gắn chíp. Tuy nhiên, có một số trường hợp công dân khai báo mất thẻ (nhưng sau này tìm lại được), không giao nộp lại thẻ, hoặc cán bộ thực hiện thủ tục quên thu lại (hoặc cắt góc) nên họ vẫn giữ CMND, CCCD cũ nguyên vẹn và sử dụng nó song song với CCCD gắn chíp. Mặc dù pháp luật không cấm việc sử dụng song song CMND, CCCD cũ, tuy nhiên, việc này có thể tiềm ẩn một số rủi ro nhất định, bao gồm:

- Bị phạt tiền: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP, việc không tuân thủ quy định về cấp, đổi, cấp lại thẻ CCCD có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng.

- Dễ bị giả mạo giấy tờ: CMND, CCCD cũ không gắn chíp có thể dễ dàng bị làm giả để sử dụng vào mục đích lừa đảo, vay tiền hoặc thực hiện các giao dịch trái pháp luật. Các căn cước, chứng minh thư cũ không có tính năng bảo mật cao như căn cước công dân gắn chip. Thông tin trên căn cước, chứng minh thư cũ có thể bị lộ ra, bị sao chép hoặc giả mạo dễ dàng hơn. Điều này tạo điều kiện cho việc sử dụng thông tin cá nhân của bạn vào mục đích lừa đảo, gian lận hay vi phạm quyền riêng tư.

- Các căn cước, chứng minh thư cũ không có tính năng gắn chip và không được tích hợp thông tin vào hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia.Các căn cước, chứng minh thư cũ không được liên kết với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia. Điều này có thể tạo ra khó khăn trong việc cập nhật thông tin cá nhân của bạn và làm cho các thông tin không được đồng nhất trong các cơ quan, tổ chức và giao dịch khác nhau. Điều này có thể gây trở ngại trong việc thực hiện các quy trình hành chính và giao dịch hàng ngày. Do đó, khi sử dụng căn cước, chứng minh thư cũ trong các giao dịch hành chính, có thể gặp khó khăn trong việc xác thực thông tin và có thể yêu cầu bạn phải cung cấp thêm các giấy tờ khác để chứng minh danh tính và thông tin cá nhân. 

- Khó cập nhật, thống nhất thông tin nhân thân trong tương lai: Thẻ CCCD gắn chíp đã tích hợp thông tin về nhân thân và được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Sử dụng CMND, CCCD cũ để làm các thủ tục hành chính có thể gây khó khăn trong việc cập nhật thông tin và có thể dẫn đến sự không trùng khớp thông tin giữa CMND, CCCD cũ và CCCD gắn chíp. 

Như vậy, mặc dù không có quy định cấm việc sử dụng song song CMND, CCCD cũ, việc này có thể gây rủi ro pháp lý, dễ bị giả mạo giấy tờ và khó cập nhật, thống nhất thông tin nhân thân trong tương lai. Do đó, công dân nên tuân thủ quy định và giao nộp CMND và CCCD cũ khi đã nhận được CCCD gắn chíp mới.

 

2. Dùng căn cước, chứng minh cũ vay tiền có phải lừa đảo không?

Trong trường hợp căn cước công dân, chứng minh thư cũ thì đồng nghĩa với việc không sử dụng được nữa (khi có căn cước công dân mới gắn chip) - không còn giá trị chứng minh nhân thân khi thực hiện giao dịch. Việc sử dụng một chứng minh thư cũ không còn hợp lệ hoặc đã hết hạn có thể tạo ra sự đánh lừa nếu người sử dụng cố ý giấu diếm thông tin này và sử dụng nó để vay tiền một cách gian dối. Tuy nhiên, để xác định liệu việc này có được coi là hành vi lừa đảo hay không, cần xem xét các yếu tố và thông tin cụ thể của trường hợp.

Một số yếu tố cần xem xét để đánh giá xem việc mang chứng minh thư cũ và vay tiền có phải là hành vi lừa đảo hay không bao gồm:

- Ý định gian dối: Có nỗ lực cố tình giấu diếm thông tin chứng minh thư cũ không còn hợp lệ hay đã hết hạn sử dụng, và có ý định lừa đảo hoặc gây thiệt hại cho bên cho vay.

- Đánh lừa và gây thiệt hại: Việc mang chứng minh thư cũ và vay tiền gây ra thiệt hại cho bên cho vay, ví dụ như không trả được tiền vay hoặc gây rủi ro tài chính cho bên cho vay.

- Các quy định pháp luật: Theo quy định của Điều 174 Bộ Luật hình sự năm 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo đó, người phạm tội có hành vi áp dụng các hình thức, thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác thì là lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, việc sử dụng căn cước công dân, chứng minh thư cũ không còn hợp lệ hoặc đã hết hạn để đi vay tiền có thể trở thành là hành vi lừa đảo. Tuy nhiên, nếu có các yếu tố khác, chẳng hạn như ý định gian dối và gây thiệt hại cho bên cho vay, thì việc này có thể được coi là hành vi lừa đảo. Theo đó, để xác định được chính xác việc sử dụng chứng minh thư cũ và căn cước công dân cũ đi vay tiền có phải là hành vi lừa đảo hay không thì còn xem xét vào các yếu tố: hành vi, mặt chủ thể, mật khách quan, .... để xác định một cách chính xác. 

 

3. Nếu bị đánh cắp thông tin để vay tiền thì có phải trả nợ hay không?

Theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015, vay nợ mang bản chất của thỏa thuận vay tài sản. Điều này có nghĩa là hợp đồng vay tài sản được hiểu là một thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, trong đó bên cho vay cam kết chuyển giao tài sản cho bên vay, và bên vay cam kết hoàn trả tài sản theo đúng số lượng, chất lượng và thời hạn đã thỏa thuận, kèm theo việc trả lãi (nếu có) theo điều kiện và tỷ lệ đã được thỏa thuận.

Trong trường hợp một người bị mất thông tin cá nhân như số CMND, CCCD do lừa đảo, và thông tin này được sử dụng để thực hiện giao dịch vay nợ mà người đó không có ý định hoặc không thực hiện, thì người đó không có nghĩa vụ phải trả nợ. Tuy nhiên, khi người bị lừa đảo bị bên cho vay đòi nợ vì giao dịch vay mà họ không thực hiện, người bị lừa đảo có quyền yêu cầu bên cho vay cung cấp các bằng chứng và giấy tờ liên quan đến việc vay mượn, như hợp đồng vay, giấy tờ chứng minh việc vay mượn và các chứng từ khác. Các thông tin này sẽ giúp người bị lừa đảo chứng minh rằng họ không phải là người thực hiện giao dịch vay và không chịu trách nhiệm trả nợ.

Đồng thời, để bảo vệ quyền lợi và lợi ích của bản thân, người bị lừa đảo có thể tố cáo sự việc cho cơ quan công an có thẩm quyền để họ tiếp nhận và điều tra vụ việc. Cơ quan công an sẽ tiến hành các biện pháp cần thiết để làm rõ thông tin và xử lý các bên liên quan theo quy định của pháp luật.

Như vậy, vay nợ là một thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, trong đó bên cho vay cam kết chuyển giao tài sản và bên vay cam kết hoàn trả theo thỏa thuận. Trường hợp thông tin cá nhân như số CMND, CCCD bị lừa đảo để thực hiện giao dịch vay mà người bị lừa đảo không thực hiện, người đó không phải trả nợ. Tuy nhiên, người bị lừa đảo có quyền yêu cầu bằng chứng và giấy tờ liên quan để chứng minh việc mình không thực hiện giao dịch. Ngoài ra, việc tố cáo sự việc cho cơ quan công an có thẩm quyền là cách để bảo vệ quyền lợi và lợi ích của người bị lừa đảo. Cơ quan công an sẽ tiến hành điều tra và xử lý các bên liên quan theo quy định pháp luật.

Quý khách hàng có nhu cầu thì tham khảo thêm nội dung bài viết sau của công ty Luật Minh khuê: Ngày cấp, nơi cấp căn cước công dân là ngày nào, ghi ở đâu?

Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng