1.  Tại sao cần giải đáp vướng mắc về hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự?

Trong quá trình thực thi pháp luật xảy ra các khó khăn, vướng mắc đặc biệt là liên quan đến hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự.

Chính vì thế cùng với thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về tham mưu giải đáp khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, đề xuất của các đơn vị, Viện Kiểm sát các cấp qua sơ kết, giao ban công tác 9 tháng năm 2023, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 14) giải đáp một số nội dung trong Công văn số 4962/VKSTC-V14 ngày 15 tháng 11 năm 2023 như dưới đây.

2. Những khó khăn vướng mắc liên quan đến hình sự, tố tụng hình sự

- Vướng mắc 1: Vướng mắc trong việc áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”

Trả lời:

Tính theo mặt kỹ thuật lập pháp, việc sử dụng cụm từ "thành khẩn khai báo" và "ăn năn hối cải" được quy định tại điểm s, khoản 1 của Điều 51 trong Bộ luật Hình sự năm 2015 được hiểu là nếu người phạm tội: (1) thỏa mãn một trong hai điều kiện "thành khẩn khai báo" hoặc "ăn năn hối cải"; hoặc (2) thỏa mãn cả hai điều kiện này, thì cũng chỉ được xem là thỏa mãn một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 của Điều 51 BLHS năm 2015. Từ đó, trong trường hợp người phạm tội thỏa mãn cả hai điều kiện "thành khẩn khai báo" và "ăn năn hối cải" mà không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác, thì cũng chỉ được coi là thỏa mãn một tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1 của Điều 51 BLHS năm 2015. Trong quá trình xây dựng và áp dụng BLHS năm 2015, VKSND tối cao đã tuân thủ nhất quán với quan điểm này.

Vào ngày 31/8/2023, TAND tối cao cũng đã phát đi Công văn 174/TANDTC-PC về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ "người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" tại điểm s, khoản 1 của Điều 51 BLHS năm 2015. Theo công văn này, tình tiết "người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" được hiểu là trường hợp người phạm tội tự thú về hành vi phạm tội, thừa nhận lỗi lầm về hành động của mình; "thành khẩn khai báo" và "ăn năn hối cải" không phải là hai yếu tố độc lập. Do đó, nếu người phạm tội "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải", thì chỉ được coi là có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 của Điều 51 BLHS năm 2015.

- Vướng mắc 2: Chưa có hướng dẫn cụ thể về tình tiết “người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Trả lời:

Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn mới có hiệu lực về tình tiết này, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng tinh thần của mục 5 của Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP, hướng dẫn đối với BLHS năm 1999 để xử lý và giải quyết vấn đề.

- Vướng mắc 3: Xác định thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp người bị xử phạt vi phạm hành chính mà không thi hành quyết định xử phạt (không thuộc trường hợp “cố tình trốn tránh, trì hoãn”, việc không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là do lỗi của cơ quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt).

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 thì cá nhân hoặc tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính sẽ không bị coi là đã bị xử phạt nếu không tái phạm trong thời gian 06 tháng kể từ ngày chấp hành quyết định xử phạt cảnh cáo, hoặc 01 năm kể từ ngày chấp hành quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không có vi phạm mới xảy ra. Điều 74 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định rằng thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định. Trong trường hợp cá nhân hoặc tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh hoặc trì hoãn, thời hiệu thi hành quyết định được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh hoặc trì hoãn.

Do đó, nếu người bị xử phạt vi phạm hành chính không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và không thuộc trường hợp "cố tình trốn tránh, trì hoãn", việc không thi hành quyết định xử phạt là do lỗi của cơ quan ra quyết định không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định, và đã hết thời hiệu thi hành quyết định, thì người đó sẽ được xem là chưa bị xử phạt nếu trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính không tái phạm.

- Vướng mắc 4: Xác định thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp người bị xử phạt vi phạm hành chính mới thi hành một phần quyết định xử phạt vi phạm hành chính, không thi hành tiếp phần còn lại (không thuộc trường hợp “cố tình trốn tránh, trì hoãn” việc thi hành phần quyết định xử phạt vi phạm hành chính còn lại và cơ quan ra quyết định xử phạt cũng không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổ chức cưỡng chế thi hành phần còn lại).

Trả lời:

Theo Điều 74 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, tính từ ngày ra quyết định. Nếu quá thời hạn này mà không thi hành quyết định, thì quyết định đó sẽ không còn hiệu lực nữa. Tuy nhiên, trong trường hợp cá nhân hoặc tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh hoặc trì hoãn, thì thời hiệu thi hành quyết định sẽ được tính từ thời điểm kết thúc hành vi trốn tránh hoặc trì hoãn.

Do đó, nếu người bị xử phạt vi phạm hành chính đã thi hành một phần quyết định xử phạt, nhưng không thi hành phần còn lại và không thuộc trường hợp trốn tránh hoặc trì hoãn, và cơ quan ra quyết định cũng không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổ chức cưỡng chế thi hành phần còn lại, thì người đó sẽ được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nếu trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt, họ không tái phạm.

- Vướng mắc 5: Trường hợp người bị xử phạt đã bị cơ quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính triệu tập lên làm việc, lập biên bản về việc chưa nộp phạt do hoàn cảnh khó khăn và cơ quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính không có biện pháp gì khác thì có xác định người bị xử phạt “cố tình trốn tránh, trì hoãn” không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 7, khoản 8a Điều 12 và Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 nếu người bị xử phạt không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là vì nguyên nhân khách quan (như không có khả năng nộp phạt...) và người bị xử phạt không cố tình trốn tránh, trì hoãn (ví dụ, chấp hành theo giấy mời làm việc của cơ quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính,...), và đồng thời, cơ quan ra quyết xử phạt vi phạm hành chính cũng không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt theo quy định, thì không thuộc trường hợp người bị xử phạt "cố tình trốn tránh, trì hoãn".

- Vướng mắc 6: Trong việc áp dụng hướng dẫn trường hợp đương nhiên được xóa án tích theo Điều 70 BLHS năm 2015, còn vướng mắc đối với trường hợp khi người bị kết án (sau này là bị can, bị cáo trong một vụ án mới) không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án thì có được coi là chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án hay không?

Trả lời:

Trong các trường hợp thi hành án chủ động như án phí hoặc hình phạt tiền, nếu chưa hoàn tất việc thi hành thì không đương nhiên xóa án tích.

Đối với việc thi hành trách nhiệm bồi thường cho bị hại thì theo Điều 70, khoản 2 của BLHS năm 2015 nêu rõ về điều kiện cần thiết để được đương nhiên xóa án tích: "Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hoàn tất thi hành hình phạt chính hoặc kết thúc thời gian thử thách án treo, người đó đã hoàn tất việc thi hành hình phạt bổ sung, và các quyết định khác của bản án...”.

Tính đến thời điểm hiện tại, pháp luật chưa có quy định cụ thể về việc xem xét liệu việc hết thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự (đối với trường hợp thi hành án dân sự theo yêu cầu của người được thi hành án hoặc yêu cầu của người phải thi hành án) có đồng nghĩa với việc "đã hoàn tất thi hành" các quyết định khác của bản án hình sự hay không, hoặc có đủ điều kiện để án tích tự nhiên bị xóa theo Điều 70 của BLHS năm 2015 hay không. Pháp luật chỉ quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp thi hành trách nhiệm bồi thường cho bị hại. Theo đó, "thời hiệu yêu cầu thi hành án" là thời hạn mà người được thi hành án, hoặc người phải thi hành án, có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án. Sau khi hết thời hạn này, họ sẽ mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Đồng thời, việc hết thời hiệu yêu cầu thi hành án cũng là một trong những lý do mà cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án.

Do đó, để xác định liệu có đủ điều kiện để đương nhiên xóa án tích theo Điều 70 của BLHS năm 2015 hay không thì cần phải dựa vào quy định tại khoản 1 Điều 70 của BLHS năm 2015, khoản 5 Điều 3, Điều 30, và điểm c của Điều 31 của Luật Thi hành án dân sự.

- Vướng mắc 7: Đề nghị hướng dẫn áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” trong việc định tội Giết người và tội cố ý gây thương tích.

Trả lời:

Tình tiết "phạm tội có tính chất côn đồ" được xem là một tình tiết "định tính". Trong thực tế áp dụng pháp luật, việc áp dụng tình tiết này đòi hỏi phải dựa vào từng trường hợp cụ thể để xác định và đánh giá toàn diện về các yếu tố sau: nguyên nhân, động cơ, mục đích, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội; tính chất, mức độ, phương thức, hành động thực hiện hành vi phạm tội; và thái độ, ý thức chủ quan của người phạm tội.

Theo quy định của pháp luật, các cơ quan liên ngành trung ương không có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn các quy định của BLHS năm 2015. Thay vào đó, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã chọn và ban hành Án lệ số 17/2018/AL vào ngày 17/10/2018, trong đó giải thích về tình tiết "có tính chất côn đồ". Các Văn phòng kiểm sát các địa phương cần tiến hành nghiên cứu và áp dụng thực hiện thông tin từ án lệ này. Ngoài ra, đối với các trường hợp chưa có hướng dẫn cụ thể, họ cần phối hợp với Tòa án cùng cấp để thực hiện quy định tại Điều 3 của Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, ngày 18/6/2019, về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Điều này bao gồm gửi đề xuất bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, chứa đựng lập luận và phán quyết về việc áp dụng tình tiết này, để TAND tối cao xem xét và phát triển thành án lệ.

3. Một số khó khăn vướng mắc khác liên quan đến thi hành án hình sự

- Vướng mắc 8: Vướng mắc trong áp dụng pháp luật về gặp khó khăn trong việc áp dụng Án lệ số 47 về tội Giết người.

Trả lời:

TAND tối cao đã phát hành hai Công văn hướng dẫn về việc áp dụng Án lệ số 47, bao gồm Công văn số 49/TANDTC-PC ngày 22/3/2023 và Công văn số 100/TANDTC-PC ngày 13/6/2023. Các đơn vị liên quan cần tiến hành nghiên cứu và áp dụng các văn bản hướng dẫn này trong quá trình giải quyết các vụ án và vụ việc.

- Vướng mắc 9: Trường hợp một người nhờ người khác bán hộ tài sản và xác định thời hạn phải trả lại tiền, người bán hộ tài sản sau khi bán được, hưởng hoa hồng theo thỏa thuận và không trả lại tiền mặc dù đã quá hạn thanh toán, người này nêu lý do số tiền bán được tài sản đã ăn tiêu hết (đi chơi, ăn nhậu, hát karaoke...) thì có áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS năm 2015 để xử lý hay không?

Trả lời:

Điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: "Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả".

Vì vậy, để thỏa mãn hành vi khách quan của tội phạm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì phải đáp ứng cả hai điều kiện sau: (1) đến thời hạn trả lại tiền; (2) vào thời hạn trả lại tiền đó, người phạm tội có điều kiện, khả năng trả lại tài sản nhưng cố tình không trả. Do đó, đối với trường hợp nêu trên, mặc dù đối tượng không có tiền để trả lại do số tiền bán được tài sản đã được tiêu hết (ví dụ: đi chơi, ăn nhậu, hát karaoke...), nhưng cơ quan có thẩm quyền vẫn phải tiến hành điều tra, làm rõ về việc đối tượng có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả lại tài sản mới có căn cứ áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Vướng mắc 10: Một số văn bản chưa phù hợp với thực tiễn, chưa có hướng dẫn cụ thể, như: Hướng dẫn giải quyết các tội phạm về ma túy đến thời điểm hiện tại đã hết hiệu lực nhưng chưa có văn bản thay thế hoặc bổ sung; còn có quan điểm không thống nhất khi áp dụng về tình tiết “phạm tội hai lần trở lên” đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy... Liên ngành Trung ương chưa thống nhất hướng dẫn cụ thể về hành vi tàng trữ ma túy thu giữ được khi đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Trả lời:

Các Thông tư liên tịch và các văn bản hướng dẫn áp dụng quy định về tội phạm ma túy từ Bộ luật Hình sự năm 1999 đến nay đã không còn hiệu lực. Hiện nay, Bộ Công an đang tiến hành rà soát và bãi bỏ các Thông tư liên tịch do Bộ Công an chủ trì, trong đó bao gồm các Thông tư liên tịch hướng dẫn xử lý tội phạm liên quan đến ma túy. VKSND tối cao đã phát hành Công văn số 3652/VKSTC-V14 vào ngày 29/8/2018, đề nghị TAND tối cao ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng các quy định về tội phạm ma túy của BLHS năm 2015.

Đối với khối lượng ma túy còn lại thu giữ được, nếu ngoài hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy còn có thêm hành vi tàng trữ ma túy, thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trong trường hợp khối lượng ma túy bị thu giữ trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, hoặc khi tội phạm đang diễn ra, cần đánh giá xem có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy độc lập không để xem xét xử lý.

- Vướng mắc 11: Liên ngành trung ương chưa thống nhất hướng dẫn cụ thể về công tác giám định tư pháp;... dẫn đến một số vụ việc phải kéo dài thời hạn xử lý, giải quyết, cũng như ảnh hưởng mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Trả lời:

Hiện liên ngành Trung ương (Bộ Công an chủ trì) đang xây dựng dự thảo Thông tư liên tịch quy định quan hệ phối hợp và trách nhiệm trong hoạt động trưng cầu giám định tư pháp về hình sự để hướng dẫn giải quyết các trường hợp này.

- Vướng mắc 12: Việc áp dụng pháp luật trong định tội danh liên quan đến tội Làm giả, sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức còn nhiều vướng mắc do có quan điểm xử lý khác nhau, chưa thống nhất, mặc dù đã có văn bản hướng dẫn nhưng chưa cụ thể, dẫn đến khó khăn trong xử lý tội phạm thực hiện chuỗi hành vi làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức và sử dụng tài liệu này để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Mặt khác, liên ngành Trung ương cũng chưa thống nhất hướng dẫn cụ thể về một số hành vi, như: Hành vi làm giả tài liệu cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả thực hiện hành vi trái pháp luật; còn vướng mắc trong giải quyết hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, thiệt hại về tài sản cần định giá để xác định khấu hao tài sản.

Trả lời:

Hiện VKSND tối cao đang tiến hành khảo sát, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc khi giải quyết các vụ án về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (theo Kế hoạch số 65/KH-VKSTC ngày 30/3/2023). Do vậy, đề nghị địa phương nêu rõ và phản ánh nội dung khó khăn, vướng mắc cụ thể liên quan đến việc xử lý tội phạm này tới VSKND tối cao (Vụ 2) để giải quyết theo đúng chức trách, nhiệm vụ.

- Vướng mắc 13: Có một số vụ án, vụ việc đang tạm đình chỉ theo Công văn hướng dẫn số 234 ngày 17/9/2014 của TAND tối cao về xác định hàm lượng ma túy, tuy nhiên đến nay liên ngành Trung ương vẫn chưa có hướng dẫn giải quyết dứt điểm các trường hợp này, dẫn đến số vụ án, vụ việc tạm đình chỉ còn tồn đọng nhiều.

Hướng dẫn được quy định tại Công văn số 234 không còn phù hợp với các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS năm 2015), Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), cũng như Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của BLHS năm 2015. Do đó, đối với các vụ án, vụ việc đã tạm đình chỉ theo hướng dẫn của Công văn số 234, cần tiến hành xem xét để phục hồi và giải quyết theo đúng quy định của BLHS, BLTTHS và Nghị định số 19/2018/NĐ-CP.

- Vướng mắc 14: Chưa có hướng dẫn cụ thể về ghi âm, ghi hình có âm thanh việc hỏi cung; chưa có quy định về xử lý vật chứng khi tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm tham nhũng, kinh tế.

Trả lời:

+ Hướng dẫn về ghi âm, ghi hình có âm thanh khi hỏi cung:

Liên ngành Trung ương đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 01/02/2018 để hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Viện trưởng VKSND tối cao cùng đã ban hành các quyết định để quy định cụ thể việc thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, và truy tố.

+ Quy định về xử lý vật chứng khi tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm tham nhũng, kinh tế:

Việc xử lý vật chứng khi tạm đình chỉ vụ án được quy định tại Thông tư liên tịch số 01 /2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT ngày 01/6/2020, tuân thủ quy định tại BLTTHS về quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ.

Các cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện quản lý, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ trong vụ án tạm đình chỉ theo quy định của BLTTHS. Đối với các trường hợp phức tạp, các cơ quan có thẩm quyền sẽ thống nhất biện pháp xử lý trước khi ra quyết định xử lý. Bộ Công an hiện đang triển khai xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể về việc xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự, bao gồm cả việc xử lý vật chứng trong các vụ án tạm đình chỉ.

Ngoài nội dung bài viết trên quý khách hàng có thể tham khảo bài viết có nội dung tương tự tại địa chỉ sau: Những khó khăn hiện nay trong công tác thi hành án

Nếu quý khách có bất kỳ vấn đề nào liên quan đến nội dung bài viết hoặc pháp lý, chúng tôi khuyến khích quý khách liên hệ trực tiếp đến hotline tel: 19006162 hoặc gửi email tới địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn. Đội ngũ chuyên viên của chúng tôi sẽ sẵn lòng hỗ trợ và giải quyết mọi thắc mắc của quý khách một cách tận tâm và chuyên nghiệp.