NỘI DUNG TƯ VẤN​

Hạn ngạch nhập khẩu là hạn chế trực tiếp về số lượng một số hàng hóa được nhập khẩu vào một nước. Hạn chế này thường được thực hiện dưới dạng ban hành các giấy phép nhập khẩu cho một nhóm các cá nhân hoặc công ty. Ví dụ, Hoa Kỳ áp dụng hạn ngạch đối với pho-mát nhập khẩu theo đó chỉ các công ty thương mại được cho cấp phép mới được tham gia nhập hàng và hàng năm chỉ được phân bổ một khối lượng pho-mát nhập khẩu tối đa nhất định. Trong một số trường hợp thì quyền nhập khẩu và bán hàng lại được trao trực tiếp cho chính phủ của nước xuất khẩu, ví dụ như trường hợp nhập khẩu đường của Hoa Kỳ. Thỏa thuận quốc tế về áp đặt hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may, Hiệp định đa sợi (MFA), đã hết hiệu lực từ tháng 12/2004.

1. Các loại hình cota nhập khẩu

Tại nước Mỹ vẫn duy trì một Số loại hình Côta dùng cho các mặt hàng nhập khẩu. Trong một Số trường hợp, không hạn chế đối với Số lượng sản phẩm có thể được nhập vào nước Mỹ. Trong thời hạn sử dụng Côta, nếu lượng hàng hóa nhập vào vượt quá Số lựợng quy định thì phải chịu thuế cao hơn (Côta tỉ giá biểu thuế). Ngành Hải quan áp dụng Cô ta tỉ giá biểu thuế cho một Số mặt hàng như : cá ngừ, chổi phất trần, và toàn bô hay một phần chổi lúa.

Để lựa chọn, Côta có thể là một Số lượng nhất định trong một thời gian cụ thể. Nếu lựợng hàng nhập khẩu vượt quá số lượng này thì sẽ không được phép nhập khẩu (Côta tuyệt đối). Lượng hàng nhập khẩu quá hạn có thể được phép xuất lại hoặc cho vào kho chờ thời hạn Côta tiếp theo. Một Số Côta tuyệt đối được áp dụng trên toàn cầu, một Số khác được áp dụng ở một nước cụ thể. Hải quan áp dụng Côta tuyệt đối vdi một Số loại keo sôcôla nhất định, Vonfram, thép thỏi, thép thanh, thép dụng cụ hợp kim, các sản phẩm thép cuộn, sữa và kem, bông vải sợi, đường, sirô, các mảnh bàn chải len được làm bằng sợi bông, mật mía, các sản phẩm chứa đường. Nước Mỹ duy trì Côta tuyệt đối với các mặt hàng nhập khẩu từ Cộng đồng châu Âu : các loại sô cô la nhất định, kẹo và nước hoa quả, táo hoặc lê, rượu bia, rượu bia đen, bia nâu rặng, bia hợi và các loại rượu trắng nguyên chất.

Ngoài ra, một số cơ quan thuộc chính phủ Mỹ được quyền cấp Côta nhưng vẫn bị hải quan chi phối. Chẳng hạn : Bộ Nội vụ và Bộ thương mại được phép cấp Côta nhập khẩu đồng hồ và các linh kiên để lắp ráp đồng hồ, Bô Nông nghiệp được phép cấp giấy nhập khẩu cho Côta nhập khẩu hàng năm để duy trì các mặt hàng nhất định như phomat và bơ sữa (xem phần sau).

Nước Mỹ cũng duy trì một hệ thống Côta toàn diện để ; theo dõi các sản phẩm nhập khẩu từ ngành dệt và hàng dệt. Loại Côta này được trình bày chi tiết hơn ở chương sau "Côta hàng dệt và vải vóc Hoa Kỳ".

2. Khái quát chung

Căn cứ theo biểu giá thuế các mục 806.30 và 807.00, một Số mặt hàng nhất định của Mỹ xuất khẩu ra nước ngoài rồi lại nhập khẩu vào Mỹ được hưởng thuế suất đặc biệt.

2.1 Tính thích hợp:

Mục 806.30 áp dụng cho các mặt hàng kim loại (trừ kim loại quý hiếm), sản xuất hoặc phụ thuộc vào một quá trình sản xuất ở Mỹ, được xuất khẩu ra nước ngoài để sản xuất, ròi quay trở về Mỹ . Sản phẩn phải được tiến hành thêm một Số bước khi quay trở lại Mỹ. Những sản phẩm này chỉ phải chịu thuế ngoại chế (sản suất tại nước ngoài).

Mục 807.00 áp dụng cho các mặt hàng được lắp ráp ở nước ngoài toàn bộ hay từng phần, sử dụng các cấu kiện do Mỹ sản xuất và chế tạo. Các cấu kiện này phải được xuất khẩu từ Mỹ trong điều kiện sẵn sàng để lắp ráp không được làm mất hình dạng vật lý của các cấu kiện (ví dụ như làm thay đổi hình dáng). Cuối cùng, không đựợc phép cải tiến các cấu kiện từ nước ngoài, trừ trường hợp lắp ráp hoặc các công việc-phụ thêm cho quá trình lắp ráp (ví dụ như gia công tinh, bởi trơn và sơn). Lắp ráp được định nghĩa là phương pháp dùng để ghép hay lắp các cấu kiện rắn lại với nhau, ví dụ như hàn mối, hàn bằng hợp kim dễ chảy, tán đinh, lắp tức, gắn keo, dát mỏng, khâu, bắt vít. Sản phẩm không cần phải chế biến gì thêm ở Mỹ. Các mặt hàng này phải chịu thuế đăng ký trừ đi chi phí hay giá trị cấu kiện Mỹ kèm theo (ví dụ như trên danh đơn hàng gửi).

Không một mặt hàng nhập khẩu nào lại vừa được lợi nhờ cả mục 806.30 và 807.00. Tuy nhiên, một mặt hàng có thể được xuất khẩu rồi nhập trở lại Mỹ theo một mục, sau đó lại được xuất ra nước ngoài rồi lại quay trở lại theo một mục khác nếu điều này là khả thi, và nếu hình thức mặt hàng đã được thay đổi một cách có hiệu quả sau lần nhập khẩu (Ví dụ một mặt hàng kim loại được xuất ra nước ngoài để sản xuất dựa theo mục 806.30 và lại được nhập vào Mỹ dưới dạng một mặt hàng mới được "sản xuất", hay một cấu kiện mới. Theo như cơ quan hải quan quy định thì mặt hàng này sẽ được chuyển ra nước ngoài để lắp ráp và quay trở về theo các điều khoản của mục 807.00.

Các hoạt động sau đây không được coi là lắp ráp : chế tạo quan trọng, hoạt động hoặc xử lý mà mục đích chính là chế tạo, hoàn thiên, hay cải tiến vật lý và hóa học một cấu kiện. Ví dụ như : (1) Nung chảy các thỏi được xuất khẩu và đổ kim loại đó vào các khuốn để tạo ra các bộ phận bằng gang ; (2) Cắt các bộ phận của quần áo theo mẫu từ các nguyên liệu xuất ; (3) Sơn cơ bản để tôn thêm vẻ đẹp của mặt hàng hoặc nhằm nổi bật các nét đặc trưng hoặc tính năng sản phẩm ; (4) Xử lý hóa học các cấu kiện hoặc các sản phẩm được lắp ráp nhằm làm nổi bật tính năng mới của sản phẩm như chống mưa, nén bền, xử lý khỏi co vải, nhuộm hoặc tẩy trắng sợi; và dùng máy, đánh bóng, láng bóng, gò, mạ (chứ không phải mạ giống với lắp ráp), rập nổi, ép, đóng dấu, rập khuôn, vẽ, tôi, rèn, làm cứng mặt (thấm cacbon) và các hoạt động khác, cách xử lý khác hay cách chế biến làm nổi bật tính năng mới và chất lượng của mặt hàng ITC. op.cit.pp A-25-26.

2.2 Mức thuế có thể áp dụng:

Mức thuế có thể áp dụng là mức thuế suất áp dụng cho toàn bộ mặt hàng nếu mặt hàng này được đăng ký theo các mục tại biểu TSUS, từ 1 đến 7. Đối với các mặt hàng được đăng ký theo mục 806.30, mức thuế sẽ được áp dụng theo giá trị sản xuất (giá trị gia tăng) bên ngoài nước Mỹ. Theo mục 807.00, thuế được áp dụng đối với các cấu kiện sản xuất tại Mỹ mà không bị mất hình dạng vật lý do thay đổi hình dáng và không bị biến đổi giá trị hay cải tiến theo điều kiện nước ngoài trừ trường hợp cấu kiện được lắp ráp.

Phương pháp tính thuế theo mục 806.30 khác với phương pháp tính thuế theo mục 807.00 ở chỗ mức thuế áp dụng này là một mức thuế cụ thể hay mức thuế cấu thành. Theo mục 806.30, mức thuế cụ thể hay cấu thành được chuyển thành mức thuế theo giá trị. Khi đó mức thuế theo giá trị được áp dụng cho giá trị sản xuất sản phẩm tại nước ngoài. Theo mục 807.00, mức thuế cụ thể hay cấu thành được áp dụng cho giá trị hàng hóa đăng ký trừ đi chi phí hay giá trị cấu kiện sản xuất tại Mỹ. Các mức thuế tại mục 806.30 và 807.00 không cố định, và Mỹ không phải duy trì các mục thuế này. Quốc hội có thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các mục thuế này mà không làm phương hại đến quyền lợi và trách nhiệm các hiệp định thương mại của Mỹ, thậm chí nếu hành động như vậy có thể dẫn tới việc tăng thuế quan.

3. Quá trình nhập khẩu:

Trước khi xuất khẩu một mặt hàng ra nước ngoài để sản xuất theo mục 806.30, chủ sở hữu xuất khẩu phải lập hồ sơ, giấy đăng ký mô tả mặt hàng hay nhà sản xuất theo mẫu thuế quan số 4455. Chủ sở hữu hoặc người xuất khẩu phải cho biết tên và địa chỉ của người sản xuất chịu trách nhiệm sản xuất mặt hàng tiếp theo đó khi sản phẩm nhập trở lại Mỹ. Nếu không, chủ sở hữu hoặc người xuất khẩu phải đưa ra bằng chứng, chứng thực hàng sẽ được trở lại Mỹ để chế biến tiếp. Mặt hàng này phải được hải quan Mỹ kiểm soát, và việc xuất khẩu củng sẽ được hải quan Mỹ giám sát.

Khi được nhập khẩu trở lại, bên nhập khẩu, người nhận hàng hay đại lý, cũng như bên sản xuất nước ngoài phải trình các giấy tờ kèm theo thông báo về hàng đã được sản xuất, phí sản xuất, cách sản xuất tại Mỹ. Ngoài ra, bên nhập khẩu còn phải đóng thuế dựa trên tổng chi phí hay giá trị sản xuất ngoài nước Mỹ như đã được viết trong hối phiếu và các giấy tờ nhập khẩu.

Để được hưởng ưu đãi về thuế như mục 807.00, bên nhập khẩu phải trình các hồ sơ cho hải quan, trong đó liệt kê các loại cấu kiện, các mô tả về quá trình lắp ráp, giá trị của mỗi loại cấu kiện tại thời điểm xuất khẩu từ Mỹ, tên và địa chỉ của người sản xuất.

Thường thường, khó có thể xác định được giá trị hay chi phí giao dịch của các yếu tố chịu thuế của một loại mặt hàng được nhập khẩu theo mục 807.00. Phần lớn các hoạt động mâu dịch diễn ra theo mục 807.00 đều do các hãng của Mỹ và các công ty phụ thuộc thực hiện. Các công ty phụ thuộc ở nước ngoài này hoạt động và giao dịch hàng hóa dựa trên phí sản xuất chứ không phải theo phí thị trường. Theo đó, hải quan sẽ quyết định giá trị các mặt hàng theo mục 807.00, trên cơ sở giá trị được tính, từ đó khấu trừ giá trị các cấu kiện của Mỹ theo như mục 807.00 được phép miễn thuế. Ngoài ra, các nguyên liệu đóng gói của Mỹ cũng được miễn thuế. Các khoản khấu trừ này dựa trên các giá trị mà bên lắp ráp cho biết và được bên nhập khẩu xác nhận theo như định chế hải quan. Nếu các giá trị được trình không có căn cứ thì cần có các bằng chứng khác.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tìm hiểu về Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ

>> Xem thêm:  Kinh nghiệm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Thái Lan của Hoa Kỳ

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tác động của hạn ngạch như thế nào?

Trả lời:

Giá nội địa của hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng lên.

Lãng phí nguồn lực xã hội.

Có sự phân phối lại thu nhập.

Chính phủ không nhận được khoản thu về thuế (Trừ hạn ngạch thuế quan)

Có thể biến 1 doanh nghiệp thành một nhà độc quyền.

Gây ra tiêu cực trong việc xin hạn ngạch giữa các doanh nghiệp.

Câu hỏi: Một hình thức kết hợp thường thấy giữa hạn ngạch và thuế quan được biết đến đó là gì?

Trả lời:

Một hình thức kết hợp thường thấy giữa hạn ngạch và thuế quan được biết đến đó là hạn ngạch thuế quan  (tariff rate quota). 

Câu hỏi: Một hình thức khác của hạn ngạch nhập khẩu là gì?

Trả lời:

Một hình thức khác của hạn ngạch nhập khẩu là Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER). Đó là cách quy định một mức hạn ngạch được áp dụng bởi nước xuất khẩu, và thường là theo yêu cầu của chính phủ nước  nhập  khẩu.