1. Hành vi lợi dụng quyền hạn chiếm đoạt tài sản công ?
>> Luật sư tư vấn luật hình sự về hành vi chiếm đoạt tài sản, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Thứ nhất, về việc bạn phải viết bản kiểm điểm.
Về việc lãnh đạo chỉ đạo bạn ra biên lai thu tiền khám bệnh nhưng bạn không đồng ý vì làm như vậy là sai với nguyên tắc kế toán. Hiện tại bạn bị lãnh đạo bắt làm bản kiểm điểm. Việc viết bản kiểm điểm này thuộc nội quy kỷ luật riêng của cơ quan. Theo đó dựa trên thông tin mà bạn cung cấp thì do không làm đúng theo yêu cầu của ban lãnh đạo nên bạn bị viết bản kiểm điểm, nếu trong trường hợp này bạn chứng minh được bạn không có lỗi, việc làm của bạn không vi phạm pháp luật hay nội quy kỉ luật của cơ quan thì bạn hoàn toàn không phải viết bản kiểm điểm. Điều đó đồng nghĩa với việc lãnh đạo bắt bạn viết bản kiểm điểm là không có căn cứ.
Thứ hai, về hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn nhằm chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì hiện tại lãnh đạo yêu cầu mua máy tính bàn 7,8 triệu và máy in 2,75 triệu để ở nhà của lãnh đạo mà cơ quan làm việc thì đã có máy tính rồi. Căn cứ theo Điều 353 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội tham ô tài sản, cụ thể:
"Điều 353. Tội tham ô tài sản
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm....."
Do thông tin bạn cung cấp chưa được cụ thể mà chỉ nêu là mua về để nhà lãnh đạo nên chúng tôi sẽ phân tích cấu thành của tội tham ô tài sản, nếu thỏa mãn các yếu tố này thì bạn có quyền khởi kiện lãnh đạo bạn về tội tham ô tài sản theo quy định tại điều 353 BLHS.
- Về chủ thể: Chủ thể của tội phạm này là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức nhà nước và doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước, từ đủ 16 tuổi trở lên và không trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 352 Bộ luật hình sự thì người có chức vụ là "người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ".
- Về khách thể: Tội phạm xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức trong nhà nước và của cả các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước. Hành vi tham ô tài sản đã tác động đến tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý. Tài sản này bao gồm tài sản của nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức trong nhà nước hoặc là tài sản của các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước.
- Về mặt khách quan: Hành vi khách quan của Tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà người phạm tội quản lý. Hành vi chiếm đoạt tài sản đó có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của người phạm tội, nếu người phạm tội không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó hoặc không thể thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản. Chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản một cách dễ dàng.
Hậu quả của hành vi phạm tội: Người tham ô tài sản thuộc 01 trong 03 trường hợp sau đây có thể cấu thành tội tham ô tài sản:
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên; lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi tham ô tài sản mà còn vi phạm.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về một trong các tội: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; lạm quyền trong khi thi hành công vụ.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Người nào tuy tham ô tài sản nhưng trị giá dưới 2.000.000 đồng và chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi tham ô tài sản, cũng chưa bị kết án về một trong các tội: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; lạm quyền trong khi thi hành công vụ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác hoặc tuy đã bị kết án về một trong các tội: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; lạm quyền trong khi thi hành công vụ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác nhưng đã được xóa án tích thì không phạm tội tham ô tài sản.
Nếu người lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá dưới 2.000.000 đồng, tuy trước đó họ đã bị xử lý kỷ luật về hành vi tham ô tài sản bằng một trong những hình thức kỷ luật theo quy định của Nhà nước hoặc theo quy định trong Điều lệ của cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức nhưng đã hết thời hạn được xoá kỷ luật thì cũng không phạm tội tham ô tài sản.
- Về mặt chủ quan: Tội tham ô tài sản cũng là tội phạm có tính chất chiếm đoạt nên cũng như đối với tội có tính chất chiếm đoạt khác, người phạm tội thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp, tức là, “người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra” (khoản 1 Điều 10 BLHS năm 2015); không có trường hợp tham ô tài sản nào được thực hiện do cố ý gián tiếp, vì người phạm tội này bao giờ cũng mong muốn chiếm đoạt được tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
Dựa vào những dữ kiện mà bạn cung cấp, mặc dù không rõ mục đích mua máy tính của lãnh đạo bạn là gì, nhưng có thể thấy được, số tiền dùng để mua máy tính là tài sản thuộc sở hữu của cơ quan, thuộc sự quản lý của lãnh đạo cơ quan. Do đó, nếu lãnh đạo cơ quan bạn sử dụng số tiền đó để mua máy tính với mục đích chiếm đoạt để sử dụng vào mục đích cá nhân thì có thể cấu thành tội tham ô tài sản.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!
2. Tư vấn việc giám đốc chiếm đoạt tài sản ?

Luật sư tư vấn luật hình sự qua tổng đài, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Trường hợp này, giám đốc công ty bạn đã có hành vi giả mạo chữ ký của các thành viên nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản (vốn góp) do đó giám đốc công ty bạn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giả mạo chữ ký trong công tác theo quy định tại Điều 359 Bộ Luật Hình sự 2015
Điều 359. Tội giả mạo trong công tác1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:a) Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu;b) Làm, cấp giấy tờ giả;c) Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:a) Có tổ chức;b) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu;c) Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 02 giấy tờ giả đến 05 giấy tờ giả.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 06 người trở lên” đến 10 giấy tờ giả;b) Để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:a) Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng 11 giấy tờ giả trở lên;b) Để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Để bạn có thể hiểu rõ hơn chúng tôi xin phân tích cấu thành tội phạm của tội giả mạo trong công tác như sau:
- Chủ thể: Chủ thể đặc biệt, phải có chức vụ quyền hạn. Ở đây giám đốc là người có chức vụ quyền hạn.
- Mặt khách quan: Người phạm tội phải thực hiện chức vụ quyền hạn để thực hiện các hành vi khách quan sau: Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; Làm, cấp giấy tờ giả; Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.
Trong trường hợp này, giám đốc công ty bạn đã giả mạo chữ ký của thành viên (những người có chức vụ, quyền hạn) vào các giấy tờ, tài liệu để chiếm vốn góp. Việc giả mạo chữ ký này không nhất thiết phải giả mạo chữ ký cấp trên, có thể giả mạo chữ ký của cấp tương đương hoặc cấp dưới.
- Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Trân trọng./.
3. Công ty chiếm đoạt tài sản của cá nhân sẽ phạm tội gì?
Luật sư trả lời:
Đễ xác định một hành vi cấu thành tội nào theo quy định của Bộ luật hình sự cần phải xác định những yếu tố sau: chủ thể, khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan.
Đối với trường hợp của anh, có thể xác định như sau:
Thứ nhất, anh đã tạo một tài khoản tại công ty vận chuyển A. Sau đó, công ty A đã nhận được hàng của anh và để tại kho ở Trung Quốc, vấn đề này đã được anh xác nhận trên hệ thống dữ liệu sao lưu trên mạng. Tổng giá trị của số hàng hóa của anh là 5.000.000 đồng. Sau đó công ty A đã nói rằng hàng của anh đã bị thất lạc và đưa ra mức đền bù gấp 03 lần chi phí vận chuyển.
Thứ hai, về mặt chủ quan( tức là lỗi của công ty A): công ty A đã nhận được hàng hóa của anh mà không giao trả dù anh đã nhiều lần có đề nghị giao trả hàng. Bên cạnh đó, công ty A nói hàng hóa đã bị thất lạc và đề nghị đền bù là gấp 03 lần chi phí vận chuyển. Như vậy, công ty A đã nhận thức rõ được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và cũng thấy rõ được hậu quả của việc không trả lại hàng cho anh nhưng vẫn thực hiện hành vi. Vì vậy, trong trường hợp này, lỗi của công ty A là lỗi cố ý trực tiếp.
Thứ ba, về mặt khách thể, theo như xác nhận của anh trên hệ thống dữ liệu sao lưu trên mạng, hàng của anh đã về tới kho của công ty A nhung mặc dù gọi đề nghị nhiều lần về việc trả hàng nhưng công ty A đã không trả lại hàng cho anh vì vậy, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của anh được luật hình sự bảo vệ.
Thứ tư, về chủ thể: chủ thể là công ty A là một công ty vận chuyển Việt Nam nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:
"Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;”
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”
Như vậy, từ những phân tích đưa ra ở trên, có thể thấy hành vi của công ty A đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 . Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 175 thì khung hình phạt sẽ là: phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Trân trọng./.
4. Tội lạm dụng chức vụ, chiếm đoạt tài sản xử lý như thế nào ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162
>> Tham khảo ngay câu trả lời của luật sư: Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản
5. Tư vấn về cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 175 Bộ Luật Hình sự 2015 thì
Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, Hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Như vậy, nếu người này thông qua việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bạn không thực hiện thủ tục chuyển nhượng, sang tên, và thời điểm hiện tại thì có hành vi bỏ trốn để trốn tránh trách nhiệm, không trả khoản tiền hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho bạn thì đây là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Theo đó, bạn có quyền làm đơn tố cáo người này tới cơ quan công an, để cơ quan này xác minh, điều tra, làm rõ sự việc và bảo vệ quyền lợi cho bạn.
Xin chào luật sư. Tôi có cho 1 người vay số tiền 20 triệu đồng. Khi cho vay, bên được vay có viết giấy vay nợ bằng tay và có đưa cho tôi chứng minh thư nhân dân. Thời hạn vay đã đi qua. Nhiều lần tôi có yêu cầu bên được vay trả số tiền 20 triệu đó nhưng bên được vay khất lần hết ngày này qua ngày khác. Vậy tôi xin hỏi. Nếu giờ tôi khởi kiện người đó ra tòa về tội danh lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được không ? Và tôi có thể lấy lại số tiền tôi cho vay không? Xin cảm ơn luật sư
>> Để có thể tố cáo người này về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì trên thực tế người này phải có hành vi bỏ trốn, dùng thủ đoạn gian dối hay sử dụng số tiền trên vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến việc không có khả năng trả nợ. Còn nếu không thuộc vào một trong những trường hợp trên, thì vấn đề không trả nợ được của người này chỉ là một trách nhiệm dân sự, trong tranh chấp về hợp đồng dân sự. Vì vậy, trong trường hợp này, bạn gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận/huyện nơi người này cư trú về hành vi vi phạm hợp đồng vay tài sản.
Cảm ơn Luật sư đã tư vấn, tôi còn thắc mắc như sau: khi tôi còn liên lạc được với bạn tôi, anh ta bảo nếu kiện hoặc trình báo anh ta se không sợ. Nếu có giấy triệu tập anh ta sẽ có mặt để không bị vào tội chiếm đoạt, nếu ra toà anh ta cung sẽ ra để anh ta xin mỗi tháng trả dần 2 triệu/ 1 tháng. Hiện anh ta vẫn cùng khẩu với bố mẹ, bố mẹ anh ta bảo sẽ trả cho tôi, nhưng khi tôi bảo làm biên bản và cam kết thì bố mẹ anh ta không đồng ý, bảo là khi nào có tiền thì trả. Vậy cho tôi hỏi nếu trình báo công an, anh ta về va ra toà ma toà đồng ý mỗi tháng trả cho tôi 2 tr thì tôi phải làm sao? Anh ta có hình bia gian dối là giả mạo chữ ký của vợ, vậy khi công an triệu tập anh ta về thì có còn là lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không? Bố mẹ anh ta bảo sẽ có trách nhiệm trả vậy tôi phải nhờ cơ quan nào đứng ra làm biên bản cam kết?
>> Trong trường hợp của bạn, bạn có quyền khởi kiện người này đến Tòa án nhân dân quận/huyện nơi người này cư trú, làm việc để được giải quyết. Và về cách thức thanh toán tiền nợ cho bạn thì 2 bên có thể thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được và có yêu cầu Tòa án giải quyết thì dựa vào tình hình thực tế, Tòa án sẽ giải quyết phương thức trả nợ cho bạn theo 1 lần, hoặc theo kỳ hạn nhất định. Nếu trong bản án của Tòa án ấn định 1 tháng người này phải trả cho anh 2.000.000 đồng (hoặc mức khác dựa vào thu nhập và số tiền người này nợ bạn) thì đến thời điểm trên, người có nghĩa vụ không thực hiện theo bản án, bạn có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án thực hiện các biện pháp cưỡng chế để buộc người này phải thực hiện nghĩa vụ của mình.
Trân trọng ./.
Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê