Nhà ở thuộc tài sản công là một bộ phận quan trọng của tài sản nhà nước, có vai trò phục vụ lợi ích chung của xã hội và bảo đảm an sinh cho các đối tượng theo chính sách của Nhà nước. Việc quản lý, sử dụng loại nhà ở này không chỉ gắn với yêu cầu bảo toàn giá trị tài sản công mà còn liên quan trực tiếp đến hiệu quả thực thi chính sách công. Trong đó, đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công giữ vai trò trung tâm, chịu trách nhiệm thay mặt Nhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quy định pháp luật. Do đó, việc làm rõ trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn quản lý.
1. Đại diện chủ sở hữu nhà ở là gì?
Đại diện chủ sở hữu nhà ở là cá nhân hoặc tổ chức được chủ sở hữu nhà ở giao quyền nhân danh mình thực hiện một số quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc quản lý, sử dụng nhà ở theo quy định của pháp luật. Việc đại diện có thể được xác lập trên cơ sở ủy quyền hợp pháp hoặc theo quy định trực tiếp của pháp luật. Đại diện chủ sở hữu không làm thay đổi quyền sở hữu nhà ở, mà chỉ thay mặt chủ sở hữu thực hiện các hành vi pháp lý nhất định. Phạm vi đại diện được xác định rõ trong văn bản ủy quyền hoặc văn bản pháp luật có liên quan. Mọi hoạt động của đại diện phải nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhà ở.
Trong thực tiễn, đại diện chủ sở hữu nhà ở thường xuất hiện trong trường hợp chủ sở hữu là Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân không trực tiếp quản lý nhà ở. Ví dụ, đối với nhà ở thuộc tài sản công, cơ quan được giao quản lý nhà ở sẽ là đại diện chủ sở hữu để thực hiện việc cho thuê, bảo trì, sử dụng theo đúng mục đích. Đối với cá nhân, người được ủy quyền có thể thay mặt chủ sở hữu ký kết hợp đồng thuê nhà hoặc thực hiện thủ tục hành chính. Tuy nhiên, đại diện chủ sở hữu phải tuân thủ đúng giới hạn quyền được giao. Nếu vượt quá phạm vi đại diện, người đại diện phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
2. Trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công
Trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công được quy định tại Điều 15 Luật Nhà ở năm 2023. Điều 15 Luật Nhà ở năm 2023 quy định về trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công như sau:
"Điều 15. Trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công
1. Đối với nhà ở thuộc tài sản công được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Luật này, đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công có trách nhiệm sau đây:
a) Quyết định đối tượng được thuê nhà ở công vụ, được thuê, chuyển quyền thuê, mua nhà ở thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 13 của Luật này; quyết định đối tượng được thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân; quyết định đối tượng được bố trí nhà ở phục vụ tái định cư;
b) Lựa chọn đơn vị quản lý vận hành nhà ở, đơn vị bảo trì nhà ở;
c) Quyết định việc bảo trì, cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà ở; phê duyệt phương án di dời, cưỡng chế di dời, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bố trí chỗ ở tạm thời theo thẩm quyền;
d) Ban hành hoặc quyết định giá thuê, giá thuê mua, giá bán nhà ở, miễn, giảm tiền thuê, tiền mua nhà ở;
đ) Quyết định chuyển đổi công năng nhà ở theo quy định tại Điều 124 của Luật này;
e) Quyết định việc sử dụng kinh phí thu được từ hoạt động kinh doanh đối với phần diện tích dùng để kinh doanh dịch vụ trong nhà ở phục vụ tái định cư nhằm hỗ trợ kinh phí bảo trì và công tác quản lý vận hành nhà ở này;
g) Quyết định thu hồi nhà ở, quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở;
h) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
2. Đối với nhà ở thuộc tài sản công được đầu tư bằng nguồn vốn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 113 của Luật này, đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công thực hiện trách nhiệm quy định tại các điểm c, đ, e, g và h khoản 1 Điều này.
3. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công có thể giao cho cơ quan quản lý nhà ở thực hiện việc lựa chọn đơn vị quản lý vận hành, đơn vị bảo trì nhà ở, quyết định việc bảo trì nhà ở. Đối với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an còn có thể giao cho cơ quan quản lý nhà ở thực hiện quyền quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều này.
4. Chính phủ quy định chi tiết trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà ở, đơn vị quản lý vận hành trong việc quản lý, sử dụng nhà ở thuộc tài sản công".
Căn cứ khoản 1 Điều 15 Luật Nhà ở năm 2023, đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công có trách nhiệm quyết định đối tượng được thuê, thuê mua, mua nhà ở công vụ, nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang và nhà ở tái định cư. Quy định này thể hiện vai trò trung tâm của đại diện chủ sở hữu trong việc quản lý, phân bổ nhà ở công đúng mục đích và đúng đối tượng. Việc quyết định còn bao gồm cả chuyển quyền thuê nhà ở trong các trường hợp luật cho phép, nhằm bảo đảm tính linh hoạt nhưng vẫn đúng khuôn khổ pháp luật. Trên thực tế, khi địa phương bố trí nhà ở tái định cư cho người dân bị thu hồi đất, đại diện chủ sở hữu căn cứ quy định này để xét duyệt và ban hành quyết định cụ thể. Qua đó, trách nhiệm pháp lý gắn liền với yêu cầu công khai, minh bạch trong quản lý tài sản công.
Theo các điểm b, c và d khoản 1 Điều 15 Luật Nhà ở năm 2023, đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn đơn vị quản lý vận hành, đơn vị bảo trì và quyết định bảo trì, cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà ở. Đồng thời, đại diện chủ sở hữu còn có thẩm quyền ban hành hoặc quyết định giá thuê, giá thuê mua, giá bán và việc miễn, giảm tiền thuê, tiền mua nhà ở. Thực tiễn tại các khu nhà ở xã hội cho thấy, việc kịp thời quyết định bảo trì và điều chỉnh giá thuê giúp hạn chế xuống cấp công trình và ổn định đời sống người dân. Như vậy, trách nhiệm quản lý không chỉ mang tính thủ tục mà còn tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản công.
Căn cứ khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 15 Luật Nhà ở năm 2023, đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công còn có trách nhiệm tổ chức thực hiện và phân công thẩm quyền quản lý trong những trường hợp luật định. Đối với nhà ở được đầu tư bằng một số nguồn vốn nhất định, đại diện chủ sở hữu chỉ thực hiện các trách nhiệm như quyết định cải tạo, chuyển đổi công năng, thu hồi nhà ở theo quy định. Thực tiễn quản lý nhà ở công vụ trong lực lượng vũ trang cho thấy cơ chế phân công này giúp đáp ứng yêu cầu quản lý đặc thù và nhanh chóng. Qua đó, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu được đặt trong cơ chế phối hợp thống nhất, dưới sự hướng dẫn chi tiết của Chính phủ.
3. Nhà ở thuộc tài sản công bao gồm những gì?
Căn cứ khoản 1 Điều 13 Luật Nhà ở năm 2023, nhà ở thuộc tài sản công trước hết bao gồm các loại nhà ở do Nhà nước trực tiếp đầu tư nhằm phục vụ mục đích chính sách và quản lý hành chính. Cụ thể, đó là nhà ở công vụ của trung ương và địa phương theo quy định của pháp luật về nhà ở. Bên cạnh đó, nhà ở phục vụ tái định cư do Nhà nước đầu tư xây dựng hoặc mua nhà ở thương mại nhưng chưa bố trí tái định cư cũng thuộc tài sản công. Ngoài ra, nhà ở xã hội và nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân do Nhà nước đầu tư để bố trí cho các đối tượng hưởng chính sách cũng được xếp vào nhóm này.
Ngoài các loại nhà ở nêu trên, nhà ở thuộc tài sản công còn bao gồm: những nhà ở có nguồn gốc từ vốn ngân sách nhà nước hoặc được đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách. Những nhà ở này có thể được xác lập sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật qua các thời kỳ và đang cho hộ gia đình, cá nhân thuê theo pháp luật về nhà ở. Đồng thời, nhà ở của các chủ sở hữu khác nhưng được chuyển thành sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật cũng được coi là nhà ở thuộc tài sản công. Tuy nhiên, trường hợp này không bao gồm các nhà ở đã được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 13 Luật Nhà ở năm 2023.
4. Ý nghĩa của quy định trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công
Quy định về trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quản lý, sử dụng nhà ở công đúng mục đích, đúng đối tượng và hiệu quả. Thông qua việc xác định rõ trách nhiệm pháp lý, Nhà nước tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý tài sản công, hạn chế tình trạng buông lỏng quản lý, thất thoát, lãng phí. Đồng thời, quy định này tạo cơ sở pháp lý để giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ quan, tổ chức được giao quản lý nhà ở công. Qua đó, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà ở thuộc sở hữu nhà nước.
Bên cạnh đó, quy định trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và người được bố trí, sử dụng nhà ở thuộc tài sản công. Khi trách nhiệm được xác định rõ, đại diện chủ sở hữu phải chủ động thực hiện bảo trì, bảo dưỡng, bố trí, thu hồi nhà ở theo đúng quy định pháp luật. Điều này giúp bảo đảm chất lượng nhà ở, sử dụng lâu dài và ổn định, đáp ứng mục tiêu an sinh xã hội. Đồng thời, quy định này là căn cứ để xử lý vi phạm, nâng cao hiệu quả quản lý nhà ở công trong thực tiễn.
Kết luận
Như vậy, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà ở thuộc tài sản công có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản nhà nước. Đại diện chủ sở hữu là chủ thể trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của Nhà nước đối với nhà ở thuộc tài sản công theo quy định pháp luật. Việc thực hiện đúng trách nhiệm góp phần bảo toàn giá trị tài sản, hạn chế thất thoát và lãng phí trong quá trình quản lý, sử dụng. Đồng thời, trách nhiệm này còn bảo đảm nhà ở được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và phù hợp với chính sách an sinh xã hội. Trong bối cảnh yêu cầu tăng cường quản lý tài sản công hiện nay, vai trò của đại diện chủ sở hữu ngày càng được đề cao. Pháp luật đã đặt ra khuôn khổ rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế giám sát đối với chủ thể này. Việc tuân thủ nghiêm túc các quy định pháp luật góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nhà ở. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc khai thác, sử dụng tài sản công một cách bền vững. Đây cũng là tiền đề để tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà ở thuộc tài sản công. Cuối cùng, việc nâng cao ý thức trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu sẽ góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.