1. Thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối

Theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam, có 6 loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh sau đây bị cấm tuyệt đổi (không cần đánh giá tác động hay khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh):

- Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan;

- Thoả thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan;

- Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán, hàng hoá, cung ứng dịch vụ giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan;

- Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thoả thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;

- Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;

- Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thoả thuận.

Lí do để áp dụng quy định cấm triệt để đối với 6 loại thoả thuận này là các thoả thuận này luôn có bản chất hạn chế cạnh tranh và thường không có cơ sở nào để biện hộ cho các thoả thuận đó. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 11 Luật cạnh tranh mặc dù bị cấm tuyệt đối nhưng vẫn có thể được hưởng miễn trừ theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật cạnh tranh năm 2018.

Quy định này có hơi khác so với thông lệ quốc tế. Pháp luật của Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ, Singapore... thường cấm triệt để theo nguyên tắc vi phạm mặc nhiên (per se rule) đối với 4 loại thoả thuận: thoả thuận ẩn định giá, thoả thuận phân chia thị trường, thoả thuận hạn chế sản lượng và thông đồng trong đấu thầu. Các loại thoả thuận này luôn bị coi là có tác động hạn chế cạnh tranh đáng kể và vi phạm luật cạnh tranh mà không càn điều tra tác hại cụ thể mà chúng gây ra hay lí do thực hiện thoả thuận. Trừ 4 loại thoả thuận này, tất cả các loại thoả thuận khác đều có thể được xem xét dựa trên nguyên tắc lập luận hợp lí (rule of reason) tức là cân nhắc giữa tác động hạn chế cạnh tranh và những lợi ích có được từ thoả thuận hạn chế cạnh tranh đối với nền kinh tể và người tiêu dùng.

>> Xem thêm:  Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có vi phạm luật sở hữu trí tuệ không ?

2. Thoả thuận hạn chế bị cấm có điều kiện và việc hưởng miễn trừ

2.1 Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm có điều kiện

Ngoài 6 trường hợp cấm tuyệt đối nói trên, tất cả các thoả thuận hạn chế cạnh tranh còn lại chỉ bị cấm khi thoả thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường. Quy định này có phần giống với nguyên tắc lập luận hợp lí (rule of reason), dựa trên lập luận rằng chỉ khi một thoả thuận gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường thìpháp luật cạnh ưanh mới cần phải can thiệp.

2.2 Các trường hợp miễn trừ

Ngay cả khi một thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm thì vẫn có thể được miễn trừ có thời hạn nếu có lợi cho người tiêu dùng và đáp ứng một trong các điêu kiện sau đây:

a) Tác động thúc đẩy tiến bộ kĩ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ;

b) Tăng cường sức cạnh ttanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa;

c) Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kĩ thuật của chủng loại sản phẩm;

d) Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá (Xem: Điều 14 Luật cạnh tranh năm 2018).

Lưu ý rằng việc miễn trừ này không áp dụng đối với 03 loại thỏa thuận là:

- Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thoả thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu ttong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;

- Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;

>> Xem thêm:  Điều tra vụ việc cạnh tranh theo thủ tục tố tụng cạnh tranh ?

- Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thoà thuận.

Có thể thấy, pháp luật cạnh tranh Việt Nam có những quy định hết sức đặc thù, mặc dù đã quy định theo hướng phân biệt giữa những thỏa thuận cạnh tranh bị cấm tuyệt đối và những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm có điều kiện (dựa trên nguyên tắc lập luận hợp lí) nhưng pháp luật cạnh tranh vẫn quy định thêm về việc miễn trừ đối với những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Mặt khác, cùng là những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối, trong khi những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận phân chia khách hàng/thị trường, thỏa thuận hạn chế/kiểm soát số lượng, khối lượng có thể được hưởng miễn trừ thì những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như thông thầu, ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường/phát triển kinh doanh hay loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận lại không được hưởng miễn trừ.

Mặt khác, hiện nay, pháp luật Việt Nam còn thiếu quy định về hai điều kiện quan trọng để hưởng miễn trừ, đó là:

1) Việc thực hiện thoả thuận hạn chế cạnh tranh phải là cần thiết và không thể tránh khỏi nhằm đạt được các mục tiêu nói trên; và

2) Việc thực hiện thoả thuận hạn chế cạnh tranh không được tạo cho các doanh nghiệp tham gia thoả thuận khả năng loại bỏ đáng kể cạnh tranh đối với hàng hoá và dịch vụ có liên quan.

Theo kinh nghiệm của nhiều nước thì một thoả thuận hạn chế cạnh tranh dù có thể được coi là đem lại hiệu quả kinh tế vẫn không được hưởng miễn trừ, trừ phi thoả thuận đó là cần thiết và không thể tránh khỏi, nghĩa là nếu như không có thoả thuận hạn chế cạnh tranh thì sự hợp tác giữa các doanh nghiệp sẽ không mang lại hiệu quả như mong muốn (ví dụ, các thoả thuận sản xuất chung có thể đi kèm với thoả thuận bán chung, thoả thuận này sẽ là hiệu quả nếu nhu không có thoả thuận này các doanh nghiệp sẽ không hợp tác đầu tư sản xuất do chi phí hoặc rủi ro quá lớn). Ngoài ra, thoả thuận hạn chế cạnh tranh được cho là đem lại hiệu quả kinh tế cũng sẽ không được hưởng miễn trừ nếu thoả thuận đó dẫn đến việc loại bỏ đáng kể cạnh tranh trên thị trường dựa trên việc đánh giá tính cạnh tranh trên thị trường trước và sau khi thoả thuận được thực hiện (chẳng hạn khi tình hình cạnh tranh trên thị trường đối với một sản phẩm vốn dĩ đã yếu thì việc cho phép thực hiện một thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong trường hợp này là hoàn toàn không nên).

Trong mọi trường họp, các doanh nghiệp xin hưởng miễn trừ phải chứng minh được thoả thuận hạn chế cạnh tranh có lợi cho người tiêu dùng (điều này có nghĩa là các doanh nghiệp có thể bắt tay hợp tác với nhau nhằm cắt giảm chi phí sản xuất, chẳng hạn trong các thoả thuận mua chung hay bán chung nhưng sự hợp tác này chỉ có thể được hưởng miễn trừ nếu việc cắt giảm chi phí này dẫn đến việc người tiêu dùng được hưởng mức giá thấp hơn trước kia, việc hợp tác đơn thuần chỉ nhằm tăng mức lợi nhuận của các doanh nghiệp tham gia thoả thuận, không mang lại lợi ích cho người tiêu dùng không thuộc phạm vi hưởng miễn trừ). Ngoài ra, việc thực hiện một thoả thuận hạn chế cạnh tranh, dù được miễn trừ, luôn luôn chỉ có thời hạn không quá 5 năm kể từ ngày ra quyết định hưởng miễn trừ (Xem: Điều 21 Luật cạnh tranh).

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Công ty luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập trên internet)

>> Xem thêm:  Nhiệm vụ, quyền hạn thủ trưởng, cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ?

>> Xem thêm:  Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban cạnh tranh quốc gia ?