Trước đến giờ công ty vẫn trả lương cho bạn em đầy đủ, nhưng tháng 7 vừa rồi bạn em do làm việc có sai sót (sai sót dẫn đến phải đền hợp đồng mua hàng nhưng bạn em đã bỏ tiền túi ra để đền hợp đồng, và mọi việc đã thu xếp ổn thỏa) nên giám đốc nói vì lý do đó nên không trả lương tháng 7 (gần 6 triệu đồng) cho bạn em. Vậy em có một số câu hỏi mong luật sư tư vấn giúp:

 1. Vì công ty không ký hợp đồng với bạn em nên pháp luật có bảo vệ bạn em trong trường hợp này được hay không?

2. Nếu có thì tại điều khoản nào trong luật?

3. Và bạn em sẽ phải tìm đến cơ quan nào để được hỗ trợ đòi lại quyền lợi của mình?

4. Luật pháp có cho phép công ty không trả lương cho người lao động (kể cả người có ký hợp đồng) lúc người lao động làm việc có sai sót không? 

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật lao động của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi 1900.6162

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động  năm 2012

Nghị định số 95/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

2. Nội dung phân tích

Theo quy định của Bộ luật Lao động thì hình thức của hợp đồng lao động có thể được gao kết bằng văn bản hoặc bằng lời nói theo quy định tại Điều 16

"Điều 16. Hình thức hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói."

Tuy nhiên bạn làm việc một năm nhưng vẫn không ký hợp đồng. Đối với việc không giao kết hợp đồng lao động, nếu xét về mặt tình, cả người sử dụng lao động và người lao động đều sai. Người sử dụng lao động sai khi không giao kết hợp đồng lao động; người lao động cũng sai khi không đòi hỏi ký kết hợp đồng lao động để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nếu xét về mặt lý, khi xem xét trách nhiệm về việc không giao kết hợp đồng lao động, pháp luật quy trách nhiệm cho người sử dụng lao động. 

Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động VN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định về hành vi vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động như sau: 

"Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên".

Nghị định này chỉ quy định xử phạt người sử dụng lao động khi không giao kết hợp đồng lao động mà không quy định xử phạt người lao động.

Khi không giao kết hợp đồng lao động, trách nhiệm của người sử dụng lao động chỉ là bị xử phạt vi phạm hành chính, còn quyền lợi của người lao động thì rất bấp bênh, bởi: hợp đồng lao động là cơ sở của mối quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ, ràng buộc trách nhiệm của NSDLĐ đối với các quyền lợi của NLĐ, có thể kể đến như tham gia bảo hiểm xã hội, tiền lương, tiền công, tai nạn lao động, chế độ thai sản...

HĐLĐ cũng là cơ sở bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ trước các hành vi vi phạm HĐLĐ và pháp luật lao động của NLĐ.

Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, HĐLĐ chính là cơ sở pháp lý quan trọng dùng để bảo vệ quyền lợi của mỗi bên.

Trong trường hợp này ban có thể giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải viên và Tòa án theo quy định tại Điều 200,201 Bộ luật Lao động năm 2012

"Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân."

"Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết."

Vì bạn có tranh chấp về tiền lương nên theo quy định của pháp luật là bắt buộc phải được giải quyết thông qua hòa giải cơ sở. Ngoài ra bạn có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lên Lao động thương binh xã hội để được hòa giải. Pháp luật có quy định :

"Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lao động.Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong quản lý nhà nước về lao động. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình."

 Nếu hòa giải không thành thì bạn có thể yêu cầu tòa án giải quyết.

Về việc trả lương cho người lao động khi người đó làm việc sai sót hay không do thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và có thể trong nội quy của công ty. Và tùy vào từng mức độ sai sót, việc thỏa thuận các bên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua emailTư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật lao động.

>> Xem thêm:  Giám định tỷ lệ thương tật khi bị tai nạn giao thông ? Bồi thường thiệt hại khi bị tai nạn

 

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?