Tìm hiểu về nội dung "suy đoán vô tội" theo quy định của nước Cộng hòa Pháp cần thiết phải xem xét chúng thông qua hai hình thức biểu hiện đó là: Hệ quả về mặt thủ tục của nguyên tắc suy đoán vô tội và hệ quả về mặt luật nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ làm rõ nội dung "Hệ quả về mặt luật nội dung của suy đoán vô tội".

Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

1. Khái quát hệ quả về mặt luật nội dung của suy đoán vô tội

Điều 9-1 của Bộ luật Dân sự Pháp (được sửa đổi vào ngày 4 tháng 1 năm 1993) quy định: "mọi người đều có quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội. Khi một người bị giới thiệu trước công chúng như là thủ phạm của vụ việc đang được điều tra, thì thẩm phán có thể sủ dụng thủ tục khẩn cấp đẻ yêu cầu chèn, chỉnh sửa hoặc phổ biến một thông cáo nhằm chấm dứt hành vi xâm phạm suy đoán vô tội. Chi phí để áp dụng các biện phán ngăn chặn này do cá nhân, pháp nhân có hành vi xâm phạm suy đoán vô tội chịu".

Bằng cách xử phạt hành vi "giới thiệu công khai một người như là thủ phạm" của ành vi tôi phạm trước khi có bản án có hiệu lực, nhà làm luật muốn cấm đoán các tuyên bố kết tội sớm và mọi hình thức phán xét của truyền thông. Các biện pháp này không nhằm cấm cản tự do thông tin mà là ngăn chặn bất kỳ ai, đặc biệt là giới truyền thống tự cho mình quyền kết tội thay cho Toà án.

Tuy nhiên, ở đây không phải uy quyền của tư pháp được bảo vệ mà lợi ích tư liên quan đến danh dự mà bất kỳ ai cũng hưởng. Hơn nữa, hành vi xâm phạm suy đoán vô tội chỉ có thể được cấu thành nếu một người cụ thể bị đề cập tói. Do đó, mục đích của Điều 9-1 của Bộ luật Dân sự là nhằm bảo vệ cá nhân trước sự xâm phạm nhân bẩm, và án lệ làm rõ mối liên hệ giữa việc buộc tội công khai với xâm phạm danh dự và nhân phạm.

Pháp luật của nước Pháp dường như cung cấp sự bảo vệ đầy đủ cho sự suy đoán vô tội, trong và ngoài địa hạt tư pháp. Tuy nhiên, thực tế hoàn toàn khác và tất cả các luật gia đều đồng ý rằng, quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội không được tôn trọng nghiêm chỉnh và quyền này ngày càng ít được tôn trong khi đối mặt vói áp lực của truyền thông và mạng xã hội. Để hiểu điều này, chúng ta phải phân tích hệ quả của quyền tôn trọng đối với suy đoán vô tội (A) và các chế tài áp dụng trong trường hợp vi phạm (B).

2. Suy đoán vô tội với tư cách là quyền nhân thân

Khẳng định rằng mọi người đều có quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội là cần thiết nhưng không đủ. Cần phải xác định các đặc quyền xuất phát từ quyền này và những ai liên quan đến quyền này. Nói cách khác, cần xác định các chủ thể (1) và nội dung (2) của quyền Điều 9-1 của Bộ luật Dân sự ghi nhận.

>> Xem thêm:  Quyền nhân thân là gì ? Quy định về quyền nhân thân trong pháp luật dân sự ?

2.1. Các chủ thể của quyền được tôn trọng sự suy đoán vô tội

Phạm vi bảo vệ của quyền này rất rộng vì luật quy định là "mọi người" có nghĩa là mọi cá nhân đều có quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội. Việc lựa chọn một công thức chung như vậy có nghĩa là quyền này không chỉ được công nhận cho các cá nhân liên quan tố tụng hình sự. Tuy nhiên, đôi khi người ta giải thích rằng, vi phạm suy đoán vô tội bao gồm việc giới thiệu như là thủ phạm một người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đối tượng của một cuộc điều tra. Đây là một cách giải thích sai Điều 9-1 Bộ luật Dân sự. Điều 9-1 nhắm tới một người được giới thiệu một cách công khai như là thủ phạm của các hành vi đang là đối tượng của điều tra". Như vậy, các sự việc phải là đối tượng của một cuộc điều tra hay thẩm cứu tư pháp.

Đúng là trong thực tế, những ngưòi giới thiệu công khai như là thủ phạm thường là những người đã phải liên luỵ đến tố tụng hình sự. Nhưng điều này không thay đổi thực tế rằng, quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội được công nhận cho tất cả mọi người, kể cả những người bên ngoài các thủ tục tố tụng hình sự đang được tiến hành. Do đó, việc giới thiệu công khai một cá nhân như là tội phạm khi người này còn chưa bị truy tố sẽ xâm phạm tới quyền suy đoán vô tội mà ngưòi này được hưởng theo quy định của Điều 9-1 của Bộ luật Dân sự.

Do đó, quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội được công nhận cho mọi cá nhân và pháp nhân theo nghĩa này là một cấu thành của nhân thân. Đây là lý do mà quyền được tôn trọng về suy đoán vô tội được xem là một quyền nhân thân.

Việc xem nó là quyền nhân thân dẫn tới hệ quả là quyền suy đoán vô tội phải được mọi chủ thể khác tôn trọng.

Khi xây dựng điều 9-1 Bộ luật Dân sự, mục đích của các nhà làm luật là áp đặt sự tôn trọng đối với giả định vô tội đối với các nhà bình luận về thủ tục tố tụng hiện hành, đặc biệt là trên báo chí. Nhưng, trong trường hợp không có sự hạn chế về mặt pháp lý, quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội áp dụng cho bất kỳ chủ thể nào, dù là cá nhân riêng lẽ hay người của công chúng.

Trong đa số trường hợp, các hành vi vi phạm suy đoán vô tội được thực hiện bởí các cá nhân. Thường thì đó là các nhà báo. Nhưng một cá nhân sử dụng tiếng nói của phưong tiện truyền thông hoặc bất kỳ phương tiện công khai nào khác cũng có thể vi phạm quyền này. Điều thú vị và đáng lưu ý là, không có sự miễn trừ vì lý do tư cách đặc biệt ngườc tình luận. Cũng không có ngoại lệ cho dù tác giả của sự vi phạm suy đoán vô tội là một trong những nhân vật chính của vụ án hoặc nhận mình nạn nhân của hành vi phạm tội được xét xử. Ngoài phòng xử án, không có miễn trừ đối vói các bình luận chống lại đối thủ.

Các nhân vật công chúng các đại diện của Nhà nước cũng phải tôn trọng quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội. Chi thị của Liên minh châu Âu ngày 9 tháng 3 năm 2016 nhắc lại yêu cầu này. Theo các điều khoản của chỉ thị, các quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng, các tuyên bố công khai của các cơ quan công quyền, cũng như các quyết định tư pháp, ngoài trừ những người tham gia xét xử, không xem một nghi can hay một người bị truy tố như là thủ phạm khi hành vi phạm tội của người này chưa được pháp luật chứng minh một.

Khi thừa nhận quyền tôn trọng suy đoán vô tội, một quyền nhân thân bất kỳ ai cũng được thụ hưởng và được mọi chủ thể khác tôn trọng, Điều 9-1 của Bộ luật Dân sự dường như đưa ra một sự bảo vệ khá rộng rãi. Tuy nhiên, việc phân tích nội dung của quyền này phần sẽ làm làm thay đổi nhận định trên.

2.2. Nội dung của quyền được tôn trọng về suy đoán vô tội

Khi luật ngày 4 tháng 1 năm 1993 ghi nhân quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội trong Bộ luật Dân sự, đã có không ít bình luận về quyền này. Trong các cuộc thảo luận tại quốc hội, có nghị sĩ đề xuất trừng phạt việc công bố tên hoặc bất kỳ yếu tố nhận dạng nào của một người bị truy tố hình sự. Đề xuất này có giá trị bảo vệ suy đoán vô tội rất cao, nhưng hạn chế quyền thông thông tin về các thủ tục đang tiến hành, về thủ tục hiện tại. Đề xuất này rốt cuộc bị từ chối.

Do đó, hoàn toàn có thể công bố danh tính của một ngưòi bị nghi ngờ hoặc bị truy tố, cũng như mô tả chi tiết các sự việc mà người này bị cáo buộc. Điều 9-1 của Bộ luật Dân sự nghiêm cấm "trình bày, giới thiệu một người như là thủ phạm của các vụ việc đang là đối tượng của điều tra và thẩm cứu". Chúng ta nên hiểu quy định này như thế nào? Án lệ thông qua nhiều án lệ trong những năm qua cho phép xác định bản chất và tiêu chí đánh giá sự vi phạm quyền suy đoán vô tội. Tuy nhiên, ấn tượng chung rút ra từ các án lệ là việc vi phạm này rất khó để mô tả, điều này làm giảm đáng kể mức độ bảo vệ quyền tôn trọng suy đoán vô tội.

>> Xem thêm:  Chế tài dân sự là gì ? Đặc điểm của chế tài dân sự là gì ?

Toàn bộ hiệu quả của cơ chế bảo vệ quyền phụ thuộc vào cách đánh giá cái gọi là "giới thiệu như là có tội". Đối vói án lệ, việc vi phạm suy đoán vô tội chỉ phát sinh nếu có "kết luận dứt khoát cho thấy tồn tại định kiến về sự có tội của một người".

Cách giải thích này của án lệ tạo cho quyền suy đoán vô tội một nội dung hẹp. Nó không ngăn chặn bất kỳ sự ám chỉ nào về sự có tội có thể có và chỉ xử lý về mặt pháp lý được những tuyên bố rất rõ ràng, cụ thể, không ám chỉ, mơ hồ. Nói cách khác, việc xâm phạm quyền tôn trọng suy đoán vô tội chỉ cấu thành nếu việc buộc tội được khẳng định một cách dứt khoát và làm nảy sinh sự tin chắc trong tâm trí của công chúng.

Ví dụ, việc tác giả của một cuốn sách liên tục trình bày người bạn đời của con gái mình là "kẻ giết người" và "kẻ sát nhân" trong khi quá trình tố tụng đang được tiến hành, tạo thành sự khẳng định một niềm tin về việc có tội, xâm phạm tới suy đoán vô tội1.

Tương tự như vậy, việc một bài báo chí đã đề cập rõ ràng từ "có tội" được gắn vào tên của bị cáo (trong trường hợp này là một thẩm phán bị truy tố vì tội trộm cắp thẻ tín dụng), không kèm theo bất kỳ yếu tố gỡ tội nào, cũng không sử dụng thể điều kiện, cấu tạo vi phạm suy đoán vô tội vì toàn bộ bài viết khiến độc giả cho rằng cá nhân đó có tội .

Mặt khác, những nhận xét mà qua đỏ chỉ tạo nên một "ấn tượng cho thấy sự phạm tội" đựợc chấp nhận vì những nhận xét này không chưa đựng một sự khẳng định chắc chắn về hành vi phạm tội .

Vì vậy, pháp luật không cấm nêu lên tính có tội căn cứ vào các yếu tố khách quan của quá trình tố tụng. Do đó, án lệ chấp nhận các lòi lẽ khách quan chỉ mô tả các sự kiện vật chất hoặc các hành vi tố tụng như việc tạm giữ hay tạm giam. Do vậy, sẽ không cấu thành tội xâm phạm suy đoán vô tội, nếu bài báo chí đề cập rằng một cá nhân được xác định "sẽ phải trả lòi về tội ấu dâm" vì nó chỉ nêu cụ thể tên gọi của hành vi bị truy tố mà không đưa ra định kiến về thủ phạm.

Cũng không cấm nêu ra các thủ phạm tiềm năng kèm sự nghi ngờ về điều này. Cụ thể, việc sử dụng bảo lưu trong bài phát biểu thì sẽ không xâm phạm quyền suy đoán vô tôi, với điều kiện không có sự khẳng định rõ ràng về người phạm tội. Án lệ đánh giá đồng thời cả nội dung lẫn hình thức của các lời lẽ bị kiện.

Việc sử dụng dấu ngoặc kép để trích dẫn các tuyên bố và sử dụng thể điều kiện được khuyến nghị. Để tránh các rắc rối pháp lý, báo chí thường sử dụng thuật ngữ "kẻ giết người giả định", "kẻ hiếp dầm suy đoán" hay chung hơn là "kẻ phạm tội suy đoán" Những công thức ngôn ngữ này thể hiện sự cẩn trọng về ngôn từ và cách viết và thường xuyên bị chỉ trích vì làm sai lệch ý nghĩa của giả định. Tuy nhiên, án lệ chấp nhận những lạm dụng ngôn ngữ này, điều này dẫn đến việc chúng ta nói rằng, trên thực quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội có một phạm vi tương đối.

Ngoài phạm vi truyền thông báo chí, người ta có thể liên tưởng tới những giả thuyết khác giống như một sự buộc tội trước khi phán xét. Ví dụ, có thể xem là vi phạm quyền suy đoán vô tội khi một nhân viên bị sa thải dựa trên các sự kiện là đối tượng của một cuộc điều tra hình sự? Tòa phá án cho rằng, đầy không phải là trường hợp xâm phạm quyền suy đoán vô tội, vì quyền suy đoán vô tội không cấm người sử dụng lao động dựa vào những sự việc mà người này biết để đưa ra chế tài kỷ luật, dù quy trình tố tụng hình sự đang được tiến hành liên quan đến cùng một sự việc.

Lập luận tương tự được áp dụng với tư cách là một biện pháp bảo vệ. Ví dụ, việc đình chỉ tạm thời của một luật sư bị khởi tố vì giúp đỡ người nhập cư bất hợp không bị xem là vi phạm suy đoán vô tội .

>> Xem thêm:  Chế tài hành chính là gì ? Khái niệm về chế tài hành chính

Như vậy, thông qua một vài ví dụ chúng ta có thể hiểu rằng khó mô tả việc xầm phạm quyền tôn trọng suy đoán vô tội trong thực tế. Án lệ xác định một nội dung hẹp bằng cách đòi hỏi phải có các kết luận dứt khoát để quy kết một người có hành vi xậm phạn quyền này. Ở đây chúng ta thấy được dấu hiệu của sự yếu kém, thậm chí là không hiệu quả của quyền được Bộ luật Dân sự thừa nhận. Tuy nhiên, khi vi phạm quyền này được pháp luật khẳng định, chế tài xử phạt có thể được áp dụng, nhưng hệ thống này cũng tỏ ra không đầy đủ.

3. Chế tài đối với hành vi vi phạm quyền được tôn trọng sự suy đoán vô tội

Điều 9-1 của Bộ luật Dân sự quy định rõ ràng về các biện pháp để đảm bảo quyền suy đoán vô tội ở phương diện dân sự. Tuy nhiên, trong hệ thống pháp luật của Pháp có những quy định chuyên biệt cho phép bảo vệ danh tiếng của cá nhân khi thủ tục tố tụng đang được tiến hành. Như vậy, tồn tại cơ chế bảo vệ kép, cả dân sự (1) lẫn hình sự (2)

3.1. Bảo vệ bằng biện pháp dân sự

Theo Điều 9-1 Bộ luật Dân sự, khi hành vi xâm phạm quyền được tôn trọng về suy đoán vô tội được cấu thành, thẩm phán có thể, bằng thủ tục khẩn cấp, đưa ra mọi biện pháp cần thiết, chẳng hạn như chèn một cải chính hoặc phổ biến một thông cáo báo chí, nhằm mục đích chấm dứt hành vi xâm phạm giả định vô tội. Điều luật này cũng nhắc lại khả năng đòi bồi thường thiệt hại nhưng trên hết là nhấm mạnh các biện pháp nhằm chấm dứt hành vi vi phạm.

Theo các điều khoản của Điều 9-1 của Bộ luật Dần sự, trước tiên hành động chấm dứt hành vi xâm phạm có thể bao gồm trong việc yêu cầu chèn một cải chính. Các thẩm phán xác định hình thức mà cải chính này phải thực hiện và đảm bảo thực hiện đúng. Hiệu quả của biện pháp và tác động của việc cải chính đối với dư luận đòi hỏi việc này thực hiện nhanh chóng. Đây là lý do để yêu cầu theo thủ tục khẩn cấp.

Trong trường hợp vi phạm, cũng có thể yêu cầu phổ biến thông cáo tư pháp trên bất kỳ loại phương tiện nào. Cụ thể, thông cáo này nhằm thông báo cho công chúng rằng, người có liên quan được cho là vô tội cho đến khi hành vi phạm tôi được chứng minh rõ ràng. Việc đưa ra thông cáo này cũng có thể được yêu cầu theo thủ tục rút gọn khi cần thiết. Trong trường hợp một tác phẩm trong đó một số đoạn nhất định vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội (người này liên tục được mô tả là "sát thủ" và "kẻ giết ngưòi"), các thẩm phán có thể buộc tội nhà xuất bản có nghĩa vụ nhắc nhở người đọc về nguyên tắc suy đoán vô tội bằng cách chèn nội dung đó trong các bản in đang lưu kho cũng như cho các lần in mói.

Người ta có thể đặt câu hỏi về tác động của các biện pháp đó đối với tâm trí công chúng và khả năng thực sự chấm dứt hành vi xâm phạm sự suy đoán vô tội. Ở đây, cần nhắc rằng, nội dung của tác phẩm trong nhiều trang có thể khẳng định một cách cụ thể và chi tiết hành vi phạm tội của một cá nhân, Thật khó để nói rằng, biện pháp cải chính như vậy thực sự chấm dứt vi phạm trên thực tế

Nếu hiệu quả của việc điều chỉnh hoặc công bố thông cáo báo chí có vẻ rất tương đối, thẩm phán luôn có thể đưa ra "bất kỳ biện pháp nào khác" bằng thủ tục khẩn cấp. Trong số các biện pháp mà thẩm phán có thể đưa ra, có thể kể ra như tịch thu hoặc cấm xuất bản, cũng như lệnh cấm chiếu phim.... Các biện pháp này đôi khi được nạn nhân yêu cầu nhưng ít khi được Toà án chấp nhận và chúng bị xem như là hành vi kiểm duyệt.

Các thẩm phán phải giới hạn các quyết định của mình đối với các biện pháp thực sự cần thiết để chấm dứt hành vi xâm phạm, mà để không can thiệp một cách không tương xứng vào quyền tự do ngôn luận. Thường thì thẩm phán lựa chọn biện pháp đục bỏ hoặc sửa đổi một số điểm trong tác phẩm gây tranh cãi hơn là cấm xuất bản.

Ví dụ, trong trường hợp vi phạm suy đoán vô tội liên quan đến lòi của một bài hát, biện pháp được xem là bất tương xứng là yêu cầu dừng bán album, thẩm phán sẽ lựa chọn ra lệnh loại bỏ đoạn bài hát gây tranh cãi .

>> Xem thêm:  Đào ngũ là gì ? Khái niệm đào ngũ được hiểu như thế nào ?

Ngoài các hành động chấm dứt hành vi xầm phạm, nạn nhân cũng có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tính độc đáo của hệ thống bồi thường nằm ở sự độc lập của nó đối với luật chung về trách nhiệm dân sự. Rõ ràng, nạn nhân của một hành vi xầm phạm suy đoán vô tội không nên hành động trên cơ sở các quy định về trách nhiệm dân sự do lỗi. Trong trường hợp vi phạm quyền được tôn trọng sự suy đoán vô tội, cơ chế trách nhiệm pháp lý không dựa trên lỗi được áp dụng vì thẩm phán không đánh giá hành vi của người có vi xâm hại. Điều 9-1 nhằm mục đích trừng phạt một "hành vi xâm phạm khách quan đối với quyền nhân thân".

3.2. Bảo vệ nguyên tắc suy đoán vô tội bằng luật hình sự

Điều kỳ lạ là dù nguyên tắc suy đoán vô tội có tầm quan trọng lớn lao trong lĩnh vực hình sự, nhưng không có quy định riêng trong Bộ luật hình sự Pháp trừng phạt hành vi vi phạm suy đoán vô tội. Nói cách khác, xâm phạm quyền suy đoán vô tội của người khác không phải là tội phạm. Tuy nhiên, có nhiều quy định bảo vệ nguyên tắc suy đoán vô tội một cách gián tiếp.

Một ví dụ là việc cấm ghi âm thanh hoặc hình ảnh của phiên tòa. Đối với Hội đồng Hiến pháp, lệnh cấm này được chứng minh bằng mục tiêu quản lý tốt Toà án và bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội.

Một minh họa khác rõ ràng hơn là quy định của Điều 803 của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm hạn chế tầm nhìn của việc đeo còng tay. Khi một người bị còng tay, tất cả các biện pháp cần thiết phải được thực hiện, trong các điều kiện tương thích với các yêu cầu bảo mật, để ngăn người này khỏi bị chụp ảnh hoặc quay phim. Thông tư đưa quy định này vào Bộ luật tố tụng hình sự (năm 2000), nêu rõ rằng mục tiêu của quy định này là bảo vệ sự giả định vô tội và danh tiếng của người này.

Trong khi các biện pháp phòng ngừa phải được thực hiện bởi các cơ quan cảnh sát để ngăn chặn một người bị quay phim hoặc chụp ảnh bằng còng tay, phổ biến hình ảnh của một người bị còng tay có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chịu mức phát 15.000 euros. Chính xác hơn, hành vi phạm tội được cấu thành bởi "việc phổ biến, mà không có sự đồng ý, hình ảnh của một người được xác định hoặc nhận dạng có liên quan đến tố tụng hình sự nhưng không phải là đối tượng của một bản án kết tội và cho thấy người này đang đeo còng tay hoặc xiềng xích, hoặc anh ta bị giam trong phiên tòa trước khi xét xử.

Mặt khác, không nhất thiết phải nhìn thấy rõ còng tay trên màn hình hoặc trong ảnh chụp miễn là hình ảnh tạo ra suy luận rằng người này bị còng tay. Đối với án lệ, sự không rõ ràng trên ảnh có thể là kết quả từ thực tế là tay của người đó được giấu dưới áo khoác và được giữ bởi một hiến binh. Hành vi phạm tội cũng được cấu thành khi hình ảnh cho thấy một người đi bên cạnh một người hiến binh hoặc ra khỏi xe và vùng xung quanh tay đã được làm mờ.

Ở đây, không phải xử phạt việc tiết lộ một hành vi tố tụng mà là việc phổ biến trái phép hình ảnh có khả năng làm tổn hại danh dự của một người, có liên quan đến vụ việc, nhưng chưa bị kết án. Các điều kiện văn bản đề ra cho thấy rõ ràng rằng nguyên tắc suy đoán vô tội được bảo vệ. Bởi vì, một mặt hành vi vi phạm gắn liền với sự phổ biến công khai, mặt khác việc phổ biến chỉ bị cấm khi thủ tục tố tụng đang được tiến hành và sẽ việc cấm sẽ dỡ bỏ kể từ thòi điểm phán quyết kết tội được đưa ra.

Cuối cùng, cần lưu ý rằng thủ tục tố tụng đang diễn ra này có thể được thực hiện ở Pháp hoặc nước ngoài. Vì vậy, nếu bức ảnh được chụp ở nước ngoài kể từ khi nó được phổ biến ở Pháp thì vẫn vi phạm pháp luật. Sự bảo vệ bằng công cụ hình sự này có vẻ nghiêm ngặt nhưng rất hiếm khi được áp dụng trên thực tế. Các phương tiện truyền thông thường xuyên phổ biến hình ảnh của những người bị còng tay, mà không bị pháp luật xử lý. Việc bảo vệ rõ ràng là không hiệu quả.

Cuối cùng, trong luật pháp của Pháp, đọc các văn bản luật cho thấy rằng nguyên tắc suy đoán vô tội cơ bản là được bảo vệ. Suy đoán vô tội là một nguyên tắc có giá trị hiến định và tạo thành một nguyên tắc cơ bản của của tố tụng hình sự. Suy đoán vô tội cung cấp cho người bị buộc tội các đảm bảo tố tụng quan trọng. Hành động của cảnh sát và cơ quan tư pháp nhất thiết phải được tiến hành với sự tôn trọng nguyên tắc, ngay cả không dễ tìm thấy sự cân bằng. Mặt khác, bên ngoài phạm vi tư pháp, việc bảo vệ danh tiếng của mọi người thông qua việc công nhận quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội có vẻ yếu ớt. Trong những năm gần đây, áp lực truyền thông và tầm quan trọng đáng kể của các mạng xã hội (ví dụ điển hình là phong trào #metoo) trong việc xử lý các vụ việc đang diễn ra đã làm suy yếu thêm quyền bảo đảm suy đoán vô tội. Suy đoán vô tội chưa bao giờ là thành luỹ hữu hiệu chống lại sự lạm dụng quyền tự do ngôn luận.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về nội dung "Hệ quả về mặt luật nội dung của suy đoán vô tội". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Quản chế là gì ? Quy định pháp luật về hình phạt quản chế

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Quyền nhân thân là gì ? Tìm hiểu quy định về quyền nhân thân

Câu hỏi thường gặp về quyền được tôn trọng suy đoán vô tội

Câu hỏi: Chủ thể của quyền tôn trọng suy đoán vô tội là gì?

Trả lời:

Đúng là trong thực tế, những ngưòi giới thiệu công khai như là thủ phạm thường là những người đã phải liên luỵ đến tố tụng hình sự. Nhưng điều này không thay đổi thực tế rằng, quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội được công nhận cho tất cả mọi người, kể cả những người bên ngoài các thủ tục tố tụng hình sự đang được tiến hành. Do đó, việc giới thiệu công khai một cá nhân như là tội phạm khi người này còn chưa bị truy tố sẽ xâm phạm tới quyền suy đoán vô tội mà ngưòi này được hưởng theo quy định của Điều 9-1 của Bộ luật Dân sự.

Do đó, quyền tôn trọng sự suy đoán vô tội được công nhận cho mọi cá nhân và pháp nhân theo nghĩa này là một cấu thành của nhân thân. Đây là lý do mà quyền được tôn trọng về suy đoán vô tội được xem là một quyền nhân thân.

Câu hỏi: Hành vi vi phạm quyền tôn trọng suy đoán vô tội phổ biến ở Pháp là gì?

Trả lời:

Trong đa số trường hợp, các hành vi vi phạm suy đoán vô tội được thực hiện bởí các cá nhân. Thường thì đó là các nhà báo. Nhưng một cá nhân sử dụng tiếng nói của phưong tiện truyền thông hoặc bất kỳ phương tiện công khai nào khác cũng có thể vi phạm quyền này. Điều thú vị và đáng lưu ý là, không có sự miễn trừ vì lý do tư cách đặc biệt ngườc tình luận. Cũng không có ngoại lệ cho dù tác giả của sự vi phạm suy đoán vô tội là một trong những nhân vật chính của vụ án hoặc nhận mình nạn nhân của hành vi phạm tội được xét xử. Ngoài phòng xử án, không có miễn trừ đối với các bình luận chống lại đối thủ.

Câu hỏi: Chế tài đối với hành vi vi phạm quyền được tôn trọng suy đoán vô tội là gì?

Trả lời:

Điều 9-1 của Bộ luật Dân sự quy định rõ ràng về các biện pháp để đảm bảo quyền suy đoán vô tội ở phương diện dân sự. Tuy nhiên, trong hệ thống pháp luật của Pháp có những quy định chuyên biệt cho phép bảo vệ danh tiếng của cá nhân khi thủ tục tố tụng đang được tiến hành. Như vậy, tồn tại cơ chế bảo vệ kép, cả dân sự lẫn hình sự.