1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017

- Nghị định 32/2017/NĐ-CP

- Nghị định số 97/2018/NĐ-CP

- Thông tư 39/2016/TT-NHNN

- Thông tư số 19/2016/TT-NHNN

- Thông tư số 02/2013/TT-NHNN

2. So sánh giữa vốn tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng

Bảng so sánh giữa vốn tín dụng thương mại
và tín dụng ngân hàng

>> Xem thêm:  Ngân hàng chính sách xã hội là gì ? Mức lãi suất của ngân hàng chính sách xã hội

TT

Yếu tố

Tín dụng thương mại

Tín dụng ngân hàng

1

Chủ thể

Doanh nghiệp với doanh nghiệp

Doanh nghiệp với ngân hàng

TT

Yếu tố

Tín dụng thương mại

Tín dụng ngân hàng

2

Loại vốn

Hàng hóa

Tiền tệ

3

Quy mô

Nhở

Lớn

4

Thời hạn

Ngắn hạn

Từ ngắn hạn đến dài hạn

5

Phạm vi

Hẹp

Rộng

3. Pháp luật về hợp đồng cho vay

3.1. Hợp đồng cho vay là gì?

Hợp đồng cho vay là một dạng của hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự. Hợp đồng cho vay còn được gọi là hợp đồng tín dụng.

Cho vay vốn được ví như việc bán chịu một loại hàng hóa đặc biệt, đó là tiền tệ, mà rủi ro chủ yếu thuộc về bên cho vay. Vì vậy, pháp luật quy định nghiêng về phía bảo vệ chủ nợ trong quan hệ cho vay. Trước khi giải ngân, thế mạnh hoàn toàn thuộc về ngân hàng vì là người quyết định có hay không cho vay. Tuy nhiên, sau khi ngân hàng giải ngân, tình thế lại hoàn toàn đảo ngược. Khi ấy, bên vay là người nắm vai trò chủ động trong việc trả nỢ. Mặc dù ngân hàng có khá nhiều quyền như kiểm tra, giám sát vốn vay, thu hồi nợ, chuyển nợ quá hạn theo quy định của pháp luật về hợp đồng cho vay, nhưng vân là bên thụ động.

3.2. Các loại hợp đồng cho vay theo quy định pháp luật

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định có hai loại hợp đồng vay có kỳ hạn và không có kỳ hạn (Điều 463, Điều 469, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015). Tuy nhiên, đối với việc cho vay thông thường của các tổ chức tín dụng thì không có loại không có kỳ hạn mà chỉ có loại cho vay có kỳ hạn, có thể là ngắn hạn (có thời hạn cho vay tối đa 1 năm), trung hạn (có thời hạn cho vay trên 1 năm và tối đa 5 năm) và dài hạn (có thời hạn cho vay trên 5 năm)1, ngoại trừ trường hợp đặc biệt như việc cho vay theo hạn mức thấu chi đối với thẻ ghi nợ. (Điều 10 Thông tư 39/2016/TT-NHNN và khoản 2 Điều 15 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN)

Thời kỳ từ năm 1998 đến 2001, Ngân hàng Nhà nước đã từng quy định, cho vay ngắn hạn và cho vay trung hạn đều có thể trùng nhau thời hạn cho vay 12 tháng. (Điều 10 Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1)

Bên cạnh hợp đồng cho vay, các ngân hàng thường đưa ra thêm một loại văn bản nữa là khế ước nhận nợ, là một loại giấy nhận nợ. Khế ước nhận nợ thường cũng đủ các yếu tố chủ yếu của một hợp đồng cho vay.

Trong thực tế, nhiều ngân hàng ký hợp đồng tín dụng nguyên tắc hoặc hợp đồng hạn mức với bên vay, trong đó xác định các nguyên tắc chung và các nội dung thỏa thuận sơ bộ về việc cấp tín dụng hoặc cho vay một số vốn nhất định khi bên vay đáp ứng được đầy đủ những điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật cũng như của ngân hàng cho vay. Khi ấy, hợp đồng cho vay cụ thể có thể không cần nhắc lại những thỏa thuận chung, chẳng hạn như quyền, nghĩa vụ của các bên. Pháp luật ngân hàng gọi là thỏa thuận khung và thỏa thuận cho vay cụ thể. (khoản 3 Điều 23 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN)

Các bên thường sử dụng hợp đồng tín dụng nguyên tắc trong trường hợp bên vay có nhiều tài sản bảo đảm đưa vào ngân hàng để được vay vốn và cấp tín dụng khác nhiều lần, diễn ra trong một thời gian dài. Khi đó hợp đồng bảo đảm tiền vay được thiết lập để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng nguyên tắc, thay vì cứ mỗi hợp đồng cho vay lại phải ký một hợp đồng bảo đảm tiền vay, vừa mất chủ động trong giao dịch vay vốn, vừa tốn kém chi phí định giá, công chứng, đăng kỷ thế chấp lại.

3.3. Nội dung hợp đồng cho vay

Hợp đồng cho vay (thỏa thuận cho vay) phải được lập thành văn bản, có tối thiểu 13 nội dung, trong đó có một số nội dung như: số tiền cho vay; đồng tiền cho vay, đồng tiền trả nợ; phương thức cho vay; thời hạn cho vay; lãi suất cho vay (quy đổi theo tỷ lệ %/năm tính theo số dư nợ cho vay thực tế); giải ngân vốn cho vay và việc sử dụng phương tiện thanh toán để giải ngân vốn cho vay; việc trả nỢ gốc, lãi tiền vay và thứ tự thu hồi nợ gốc, lãi tiền vay; trả nợ trước hạn; cơ cấu lại thời hạn trả nợ; chuyển nợ quá hạn; các trưồng hợp chấm dứt cho vay; thu nợ trước hạn; chuyển nợ quá hạn; xử lý nợ vay; phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.

Việc chuyển nợ quá hạn chỉ áp dụng đốì vối số dư nợ gốc, nhằm mục đích xác định thời điểm chuyển nợ quá hạn, dư nợ quá hạn để tính lãi suất quá hạn, khác vối việc phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định khác. Trường hợp khách hàng có lãi tiền vay quá hạn thì tổ chức tín dụng không bắt buộc phải chuyển nợ gốc sang nợ quá hạn. Tuy nhiên, khi đó thì tổ chức tín dụng có thể thực hiện quyền đơn phương chấm dứt cho vay, thu nợ vay trước hạn theo thởa thuận vối khách hàng. (Điều 23 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN và Công văn số 1576/NHNN-CSTT).

>> Xem thêm:  Thủ tục tách sổ đỏ thực hiện như thế nào theo Luật đất đai hiện hành?

Việc phạt vi phạm được thực hiện theo thởa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng nhưng không được thởa thuận phạt vi phạm đôì với vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi1.

Trường hợp sử dụng hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng cho vay, tổ chức tín dụng phải thực hiện niêm yết công khai hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử của tổ chức tín dụng; đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng biết trước khi ký kết hợp đồng cho vay và có xác nhận của khách hàng về việc đã được cung cấp đầy đủ thông tin.

4. Quy định pháp luật về quản lý khoản vay

Pháp luật quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong việc quản lý khoản vay như sau: (khoản 3,4 Điều 94, điều 96 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017)

Thứ nhất, tổ chức tín dụng có quyền, nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng.

Tuy nhiên, từ năm 2017, Ngân hàng Nhà nước lại chỉ quy định đó là quyền của tổ chức tín dụng. (khoản 2 Điều 24 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN)

Thứ hai, tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu khách hàng vay báo cáo việc sử dụng vốn vay và chứng minh vốn vay được sử dụng đúng mục đích vay vốn;

Thứ ba, tổ chức tín dụng phải lưu giữ hồ sơ tín dụng, bao gồm:

+ Hợp đồng cấp tín dụng và tài liệu ghi rõ mục đích sử dụng vốn; hồ sơ về biện pháp bảo đảm;

+ Báo cáo thực trạng tài chính của khách hàng;

>> Xem thêm:  Vay tín chấp không có khả năng trả nợ có bị khởi tố hình sự không ?

+ Quyết định cấp tín dụng có chữ ký của người có thẩm quyền; trường hợp quyết định tập thể, phải có biên bản ghi rõ quyết định được thông qua;

+ Những tài liệu phát sinh trong quá trình sử dụng khoản vay liên quan đến hợp đồng cấp tín dụng.

Pháp luật quy định, tổ chức tín dụng có quyền quyết định miễn, giảm lãi suất, phí cho khách hàng theo quy định nội bộ của tô chức tín dụng1. Tuy nhiên, lại không có quy định về việc miễn, giảm nợ gốc, ngoại trừ trường hợp sử dụng dự phòng theo quy định của pháp luật ngân hàng.(khoản 4 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 4 Điều 21 Thông tư 39/2016/TT-NHNN và Thông tư số 02/2013/TT-NHNN)

Cũng như điều kiện ký kết, các bên không được tự do sửa đổi, bổ sung hợp đồng cho vay về việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ (gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ), mà phải thực hiện theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn, tổ chức tín dụng chỉ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ vổi điều kiện thời hạn cho vay không thay đổi1. Và việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đồng thời phải phân loại và trích lập dự phòng theo quy định của pháp luật. Tức là, mặc dù khoản nợ có thể vẫn chưa quá hạn do được gia hạn và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, nhưng không còn thuộc nhóm “Nợ đủ tiêu chuẩn”, mà có thể phải xếp vào các nhóm “Nợ cần chú ý” hoặc nhóm nợ xấu (gồm “Nợ dưới tiêu chuẩn”, “Nợ nghi ngờ” và “Nợ có khả năng mất vốn”)

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, bên cho vay không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ ba trường hợp sau đây: (Điều 465, 467 và điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015)

Thứ nhất, đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý;

Thú hai, khi luật khác có liên quan quy định khác. Luật Các tổ chức tín dụng quy định, tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cho vay1. Như vậy, quy định này đã mở rất rộng quyền thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng so với Bộ luật Dân sự;

Thứ ba, bên cho vay có quyền “đòi lại tài sản vay trước thời hạn nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích”.

Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật. (Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010)

Thời gian ân hạn hay còn gọi là thời hạn ân hạn được đề cập trong một số luật, nghị định (khoản 8 Điều 3 Luật quản lý nợ công năm 2017) và được giải thích như sau: “Thời hạn ân hạn” là khoảng thời gian tính từ khi Ngân hàng Phát triển Việt Nam giải ngân vốn vay đến khi khách hàng bắt đầu trả nợ gốc được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trong thời gian ân hạn, khách hàng chưa phải trả nợ gốc nhưng phải trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký, trừ trường hợp Thủ tướng Chính phủ có quy định khác. (Khoản 4 Điều 3 Nghị định 32/2017/NĐ-CP) hoặc “Thời gian ân hạn là khoảng thòi gian theo đó bên vay lại đã nhận nợ và chưa phải trả gốc khoản vay lại nhưng phải trả đầy đủ các khoản lãi và phí phát sinh theo hợp đồng cho vay lại. (khoản 4 Điều 3 Nghị định số 97/2018/NĐ-CP)

Trong một số trường hợp, thì ngoài việc ân hạn nợ gốc như quy định nói trên, còn có cả việc ân hạn, nợ lãi. Ví dụ, đối với chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung đã quy định thời gian ân hạn trả nợ gốc và lãi là 5 năm tính từ thời điểm hộ gia đình bắt đầu nhận khoản vốn vay đầu tiên.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Không có giấy vay tiền có khởi kiện đòi nợ được không ? Con nợ bỏ trốn có đòi được không ?

Câu hỏi thường gặp về hợp đồng cho vay

Câu hỏi: Thời hạn cho vay là gì?

Trả lời:

Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ ngày tiếp theo của ngày tổ chức tín dụng giải ngân vốn vay cho khách hàng cho đến thời điểm khách hàng phải trả hết nợ gốc và lãi tiền vay theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng và khách hàng. Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn cho vay là ngày lễ hoặc ngày nghỉ hàng tuần, thì chuyển sang ngày làm việc tiếp theo. Đối với thời hạn cho vay không đủ một ngày thì thực hiện theo quy định tại Bộ luật dân sự về thời điểm bắt đầu thời hạn.

Câu hỏi: Kỳ hạn trả nợ là gì?

Trả lời:

Kỳ hạn trả nợ là các khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã thỏa thuận mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay cho tổ chức tín dụng.

Câu hỏi: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ là gì?

Trả lời:

Cơ cấu lại thời hạn trả nợ là việc tổ chức tín dụng chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ như sau:

a) Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là việc tổ chức tín dụng chấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay của kỳ hạn trả nợ đã thỏa thuận (bao gồm cả trường hợp không thay đổi về số kỳ hạn trả nợ đã thỏa thuận), thời hạn cho vay không thay đổi;

b) Gia hạn nợ là việc tổ chức tín dụng chấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay, vượt quá thời hạn cho vay đã thoả thuận