1. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp khi ranh giới thửa đất ?

Chào luật sư, xin hỏi trường hợp của tôi như thế: Tôi có mua 1 ngôi nhà có sổ hồng đầy đủ 5.2 x 28 m. Tôi tiến hành mua và ra phòng công chứng. Tôi cũng đã đi tra quy hoạch thì đây là mảnh đất trong khu dân cư. Tuy nhiên khi đi làm thủ tục sang tên trên phòng Tài nguyên và Môi trường huyện thì được báo lại là “ bị cấn thửa theo chiều ngang 200mm”.
Có nghĩa là nhà tôi và nhà kế bên cũng đã ra sổ cấn nhau 200mm. Hướng xử lý của huyện là nếu tôi chịu cắt 200mm đi bỏ đi trong sổ hồng thì sẽ cấp sổ lại cho tôi. Nhưng hiện tại là nhà tôi vẫn đủ kích thước ngang và nhà bên cạnh cũng đủ 4.5m và đất trống kế bên còn lại đã có ranh giới rõ ràng trên thực địa cũng như không có tranh chấp xảy ra.
Theo tôi điều đó có nghĩa là “tọa độ ranh bị bắn sai ” nhưng địa chính vẫn yêu cầu đo đạc lại và tôi đồng ý. Sau khi đo lại thì nhà vẫn đủ. Hướng xử lý của huyện là vẫn yêu cầu cắt đất không công nhận phẩn cấn ranh và sẽ dịch ranh qua thành ranh trừu tượng còn 5.0m giữa 2 nhà nhưng thực tế tôi vẫn sử dụng đủ. Đang chờ ra sổ thì bị thành phố bác hồ sơ và yêu cầu 2 công ty đo đạc của 2 nhà giải trình ?
Trường hợp của tôi như thế đó. Nhờ luật sư tư vấn giúp, Cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Chào bạn , cảm ơn sự tin tưởng của bạn dành cho luật Minh Khuê, với trường hợp của bạn chúng tôi xin đưa ra sự tư vấn như sau :

Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 :

Điều 175. Ranh giới giữa các bất động sản

1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.

2. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Điều 176. Mốc giới ngăn cách các bất động sản

1. Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.

2. Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thoả thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó.

Trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thoả thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn phải dỡ bỏ.

3. Đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý.

Vậy trong trường hợp của bạn , công ty đo đạc đã xuống đo đạc và xác định gia đình bạn vẫn đang sử dụng đúng vị trí tọa độ và đủ về diện tích đất mà nhà nước đã công nhận , tức ranh giới giữa thửa đất của bạn và thửa đất của gia đình bên cạnh vẫn nằm đúng vị trí và hợp pháp . Vì vậy , theo quy định nêu trên, hai gia đình phải tôn trọng ranh giới mà hai bên đã sử dụng theo bản đồ thửa đất .

Việc bảo vệ quyền lợi của gia đình bạn cũng cần đi đôi với việc đảm bảo không ảnh hương đến lợi ích của gia đình bên cạnh , do vậy trong trường hợp này , cơ quan có thẩm quyền cần yêu cầu hai công ty thực hiện việc đo đạc giải trình .

UBND cấp huyện đang yêu cầu giải rình và chưa có quyết định chính thức nên hiện tại gia đình bạn nên đợi quyết định chính thức của cơ quan này , nếu quyết định này chưa thực sự phù hợp với tình hình đo đặc và các bằng chứng thực tế mà bạn có thể trích dẫn thì bạn hoàn toàn có quyền khiếu nại lên UBND cấp tỉnh hoặc lựa chọn khởi kiện tại tòa án .

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp khi đất bị chồng lấn ? Kiện đòi lại đất đã chuyển nhượng ?

2. Tư vấn tranh chấp mua bán nhà có đặt cọc ?

Thưa luật sư, Tôi thấy nhà ông A treo biển bán nhà, tôi đến hỏi mua qua thỏa thuận giá bán 1.140.000.000đ và đặt cọc 50.000.000đ, trong thời hạn 1 tháng, tôi trả trước 700 triệu để ký hợp đồng chuyển nhượng và khi làm xong thủ tục chuyển nhượng tôi trả số còn lại. Tuy nhiên sau 4 ngày ký đặt cọc ông A trả lời không bán nhà cho tôi nữa ( không có lý do chính đáng). Về hợp đồng đặt cọc tôi làm theo mẫu có ông A ký và người làm chứng ký từng tờ. Về hoàn cảnh gia đình ông A vợ chết 2 con đi làm xa có mình ông A ký vào hợp đồng đặt cọc.
Tôi muốn tư vấn về chủ thể ký hợp đồng có đúng theo quy định không và tôi có quyền khởi kiện để phạt cọc ông A không?
Xin cảm ơn!

Hướng dẫn giải quyết tranh chấp khi ranh giới thửa đất không được xác định rõ ràng ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 117 và Điều 430 Bộ luật dân sự 2015 hợp đồng nhà ở được coi là hợp pháp và được công nhận khi đáp ứng đủ 4 điều kiện sau:

- Người tham gia hợp đồng mua bán nhà ở phải có năng lực hành vi dân sự;

- Mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán nhà ở không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong đó, điều cấm của pháp luật được xác định là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng;

- Những người tham gia giao kết hợp đồng mua bán nhà ở hoàn toàn tự nguyện;

- Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực tại thời điểm giao kết hợp đồng. Có thể nói, điều kiện về hình thức của hợp đồng mua bán nhà ở là sự khác biệt nổi bật so với các loại hợp đồng dân sự khác.

Như vậy, chủ thể khí ký kết hợp đồng của bạn là đúng pháp luật nếu người tham gia hợp đồng mua bán nhà ở có đủ năng lực hành vi dân sự.

Theo quy định tại điều 328, Bộ luật dân sự 2015:

"1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Trong trường hợp của bạn, do bên nhận cọc không thực hiện hợp đồng nên bạn có quyền yêu cầu phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc ( tiền phạt cọc).

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tranh chấp tường rào giữa hai nhà ? Khi nào miễn tiền sử dụng đất theo pháp luật ?

3. Tư vấn giải quyết tranh chấp khi cho mượn đất ?

Thưa luật sư, Năm 2003 do nhà tôi gặp khó khăn, chú tôi có cho gia đình tôi sử dụng mảnh đất xây nhà ở nhờ trên phần đất đó. Phần đất đó do chú tôi đứng tên sở hữu, nhưng giờ chú tôi muốn đuổi gia đình tôi đi, trong khi đó, khi cho đất cho vợ chồng tôi, chú đã hứa cho nhà tôi ở đến khi nào đất Nhà nước giải tỏa sẽ lấy lại.
Và khi xây nhà, tôi có viết giấy nhờ bà con hàng xóm làm chứng giúp, giờ cho tôi hỏi nếu chú đuổi đi gia đình tôi có được đền tiền hay không?
Xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo quy định của Điều 494 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về hợp đồng mượn tài sản như sau:

Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.”

Đối tượng của hợp đồng cho mượn tài sản là tất cả những tài sản không tiêu hao đều có thể là đối tượng của hợp đồng mượn tài sản. Vì vậy, Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cũng được xem là đối tượng của hợp đồng mượn tài sản.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, giữa vợ chồng bạn và chú bạn có phát sinh hợp đồng mượn tài sản. Theo đó, vợ chồng bạn và chú bạn có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản là khi nào đất được Nhà nước giải tỏa. Do đó, vợ chồng bạn phải trả lại đất cho chú bạn khi mảnh đất được Nhà nước thu hồi/ giải tỏa hoặc mục đích của vợ chồng bạn đã đạt được, gia đình bạn đã có đất ở mới để ở mà không cần đến mảnh đất này nữa hoặc chú bạn có quyền đòi lại mảnh đất trong các trường hợp sau:

- Đòi lại tài sản ngay sau khi vợ chồng bạn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn;

- Nếu chú bạn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù vợ chồng bạn chưa đạt được mục đích hoặc chưa đến thời điểm phải trả lại mảnh đất (khi Nhà nước thu hồi). Tuy nhiên, chú bạn phải báo trước một thời gian hợp lý cho vợ chồng bạn.

- Chú bạn có quyền đòi lại tài sản khi vợ chồng bạn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của chú bạn.

Do đó, trước hết, cần căn cứ vào thỏa thuận giữa vợ chồng bạn và chú bạn, theo như thông tin bạn cung cấp thì chú bạn có hứa là sẽ cho vợ chồng bạn mượn đến khi nào Nhà nước giải tỏa rồi mới lấy lại. Chính vì vậy, chú bạn chỉ được phép đòi lại nhà khi chú bạn chứng minh được việc mình có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn này. Nhưng chú của bạn phải báo trước một thời gian hợp lý, kèm theo các giấy tờ hoặc bằng chứng chứng minh việc đòi lại căn nhà là do nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng mảnh đất và căn nhà này.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 497 Bộ Luật dân sự năm 2015 thì bên mượn tài sản có quyền yêu cầu bên cho mượn thanh toán chi phí hợp lý về việc sửa chữa hoặc làm tăng giá trị tài sản mượn, nếu có thỏa thuận. Do vậy, nếu vợ chồng bạn có thỏa thuận với chú bạn về việc khi xây dựng nhà ở lên trên mảnh đất co bạn cho mượn hoặc có bất kỳ thỏa thuận nào khác về việc sửa chữa hoặc làm tăng giá trị của mảnh đất này lên thì vợ chồng bạn có quyền yêu cầu chú bạn thanh toán khoản tiền này căn cứ vào Giấy làm chứng của hộ gia đình, cá nhân đã làm chứng cho việc gia đình bạn có xây dựng nhà ở trên mảnh đất này.

Ngược lại, nếu vợ chồng bạn và chú của bạn không có thỏa thuận gì về việc sửa chữa hoặc làm tăng giá trị của mảnh đất này thì theo quy định của Bộ Luật dân sự năm 2015 thì bạn sẽ không được bồi thường hoặc thanh toán bất kỳ khoản tiền nào.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tranh chấp quyền sử dụng đất khi cho ở nhờ ? Tư vấn về việc lấy lại phần đất tranh chấp ?

4. Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê đất ?

Thưa luật sư, Xin tư vấn giúp: Tôi có cho ông NHQP thuê 1 miếng đất, có ra phường chứng thực thời hạn từ năm 2010 đến ngày 01-01-2015 sẽ hết hạn hợp đồng thuê đất nhưng đến nay ông NHQP, chuyển nhượng lại quyền kinh doanh cho người khác mà không thong báo cho chúng tôi biết,nay chúng tôi muốn lấy lại đất đó có được không? Và nếu đến hết hạnhợp đồng ngày 1-1 2015 mà bên thuê cũng không chụi trả đất thì phải làm thế nào?
Xin chân thành cảm ơn,rất mong được hồi âm!
Người gửi: xuanloc

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bạn thân mến, theo như thông tin bạn cung cấp thì ông NHQP thực hiện việc kinh doanh trên mảnh đất bạn cho thuê và tới lúc này ông ấy đang chuyển nhượng lại quyền kinh doanh cho người khác trên mảnh đất ấy.

Theo quy định tại Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:

"Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất."

Mặt khác, theo quy định tại BLDS năm 2015 thì bên thuê đất có quyền sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới, đúng thời hạn cho thuê. Do vậy, nếu việc ông NHQP chuyển nhượng quyền kinh doanh cho người khác và việc kinh doanh này đúng như mục đích của ông NHQP cam kết trong hợp đồng thuê đất thì không trái với quy định của pháp luật .

Tuy nhiên, theo quy định tại BLDS năm 2015 thì nếu như việc thuê đất của ông NHQP chuyển nhượng quyền kinh doanh lại cho người khác mà không đúng với mục đích cam kết trong hợp đồng thì bạn có quyền yêu cầu bên thuê đất chấm dứt ngay việc sử dụng đất không đúng mục đích. Nếu bên thuê không chấm dứt ngay hành vi vi phạm thì bạn có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu ông NHQP trả lại đất đang thuê và bồi thường thiệt hại.

Theo quy định tại của BLDS năm 2015 về chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất thì hợp đồng thuê quyền sử dụng đất chấm dứt trong trường hợp “hết thời hạn thuê và không được gia hạn thuê”.

Do đó, tới ngày 01/01/2015 thì bạn có quyền yêu cầu bên thuê phải hoàn trả đất đã thuê cho bạn, nếu như không có thỏa thuận khác. Nếu bên thuê không chịu trả đất thì bạn có thể làm đơn khởi kiện ra tòa án để giải quyết.

Chúc bạn may mắn! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

>> Xem thêm:  Cách thức giải quyết tranh chấp đất đai, nhà ở ? Tranh chấp đất đai khi sai lệch về diện tích ?

5. Tư vấn giải quyết tranh chấp trên phần đất để canh tác ?

Chào luật sư công ty luật Minh Khuê, Hiện nay tôi có vấn đề về tranh chấp đất như sau: Năm 1996 hợp tác xã có giao cho gia đình tôi và 15 hộ khác canh tác trên thửa đất số 21 có diện tích hơn 2000m2 (đất quý 1). Trong bản đồ hành chính xã chỉ thể hiện ranh giới thửa 21 mà không thể hiện ranh giới phân chia từng hộ.

Sau đó, 16 hộ này cùng thỏa thuận đồng ý gắp phiếu phân chia ranh giới, có trưởng thôn đứng ra chia nhưng không lưu văn bản, để các hộ canh tác theo đúng diện tích đất trong GCNQSDĐ của mình (mỗi hộ 1 sổ đỏ riêng có diện tích đất khác nhau theo nhân khẩu nhưng đều ghi thửa 21) và nhà tôi có 180m2 trong sổ đỏ và canh tác đúng diện tích thỏa thuận đã chia từ đó đến nay vẫn đang canh tác, không tranh chấp với ai. Năm 2014 nhà nước có quyết định thu hồi hơn 400m2 thuộc số thửa 21 này để làm đường. Phần diện tích bị thu hồi này thực tế chỉ vào 3 hộ đang canh tác trong đó có nhà tôi. Nay các hộ có chung thửa 21 này viết đơn yêu cầu UBND huyện chia đều tiền bồi thường theo tỉ lệ bị thu hồi cho cả 16 hộ này. Và UBND huyện đã ra quyết định chia đều tiền bồi thường cho 16 hộ. Đến khi gia đình tôi và 2 hộ có diện tích bị thu hồi biết được quyết định này của UBND huyện thì chúng tôi có làm đơn cho UBND xã và huyện yêu cầu không thể chia đều như vậy. Và yêu cầu ban GPMB huyện chi trả tiền bồi thường theo diện tích đất bị thu hồi thực tế cho 3 hộ đang canh tác nhưng không được chấp thuận .

Như vậy, tôi xin hỏi luật sư:

- UBND huyện quyết định chia đều diện tích như vậy có đúng không?

- Quyền lợi của 3 hộ gia đình tôi đòi lại như vậy có hợp lý không ? Chúng tôi phải làm thế nào để đòi lại quyền lợi hợp pháp của mình ?

Mong luật sư tư vấn giải đáp.

Tư vấn giải quyết tranh chấp trên phần đất được nhà nước  giao để canh tác ?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại điều 77 Luật đất đai 2013 có quy định bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp:

"Điều 77. Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định sau đây:

a) Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích đất do được nhận thừa kế;

b) Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

c) Đối với diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này".

Căn cứ vào quy định này, hiện nay, UBND cấp huyện ra quyết định chia đều tiền bồi thường đối với diện tích đất 400m2 cho cả 16 hộ là không phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy gia đình bạn không có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với mảnh đất này nhưng đã sử dụng ổn đinh, lâu dài từ trước đến ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì sẽ được bồi thường về đất đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng khi nhà nước thu hồi đất.

Trong trường hợp này, UBND cấp huyện ra quyết định như vậy là không phù hợp với quy định của pháp luật do đó bạn có thể làm đơn khiếu nại hoặc đơn khởi kiện theo quy định tại điều 204 luật đất đai 2013:

"Điều 204. Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính".

Theo Nghị định 43/2014/NĐ - CP hướng dẫn thi hành luật đai 2013 tại điều 89 quy định thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai của chủ tục UBND cấp huyện, cấp tỉnh:

"Điều 89. Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh

1. Người có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai nộp đơn tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao trách nhiệm cơ quan tham mưu giải quyết.

3. Cơ quan tham mưu có nhiệm vụ thẩm tra, xác minh vụ việc, tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp, tổ chức cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai (nếu cần thiết) và hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai. Hồ sơ giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm:

a) Đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai;

b) Biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã; biên bản làm việc với các bên tranh chấp và người có liên quan; biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp; biên bản cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp hòa giải không thành; biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp;

c) Trích lục bản đồ, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ liên quan đến diện tích đất tranh chấp và các tài liệu làm chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp;

d) Báo cáo đề xuất và dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp hoặc dự thảo quyết định công nhận hòa giải thành.

4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định công nhận hòa giải thành, gửi cho các bên tranh chấp, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan".

Vụ việc của bạn có thể được giải quyết theo thủ tục hành chính, thông qua các bước gửi đơn thư khiếu nại lên UBND cấp huyện yêu cầu hủy bỏ quyết định và ra quyết định mới theo đúng quyền lợi mà bạn được hưởng đồng thời gửi đơn yêu cầu phòng Tài nguyên môi trường lập bản đồ địa chính trên phần đất 2000m2 để việc khiếu nại diễn ra thuận lợi hơn . Nếu UBND cấp huyện từ chối bạn có thể khiếu nại đến UBND cấp tỉnh hoặc sở tài nguyên môi trường để được giải quyết việc này.

Nếu bạn không muốn thực hiện thủ tục khiếu nại, bạn có thể thực hiện thủ tục khởi kiện ra Tòa sau khi có biên bản hòa giải không thành của UBND cấp xã.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tính toán bồi thường thiệt hại trong tranh chấp hợp đồng ? Quyền thừa kế đất đai ?