1. Trường hợp miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị của tổ chức tín dụng

Theo quy định của Điều 45 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, việc miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm Chủ tịch, các thành viên khác của Hội đồng quản trị, Chủ tịch, các thành viên khác của Hội đồng thành viên, Trưởng ban, các thành viên khác của Ban kiểm soát, và Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc) của tổ chức tín dụng xảy ra trong các trường hợp sau:

- Được miễn nhiệm khi họ nộp đơn từ chức cho Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng. Việc này thường được coi là một hành động tự nguyện và được xem xét để duy trì tính minh bạch và đạo đức trong quản lý tổ chức tín dụng.

- Bị bãi nhiệm khi không tham gia vào hoạt động của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Ban kiểm soát trong vòng 06 tháng liên tục, trừ trường hợp không thể tránh khỏi. Việc này nhấn mạnh sự quan trọng của sự tham gia tích cực và đóng góp của các thành viên vào hoạt động quản trị của tổ chức tín dụng để đảm bảo hiệu quả và tính minh bạch.

- Bị bãi nhiệm khi không đáp ứng được các tiêu chuẩn và điều kiện quy định tại Điều 41 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024. Việc này nhấn mạnh sự quan trọng của việc đảm bảo rằng các thành viên của tổ chức tín dụng đáp ứng được các tiêu chuẩn và yêu cầu cụ thể để đảm bảo hoạt động của tổ chức diễn ra một cách hiệu quả và chuyên nghiệp.

- Bị bãi nhiệm khi thành viên độc lập của Hội đồng quản trị không tuân thủ các quy định tại khoản 2 của Điều 41 và khoản 3 của Điều 43 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.

- Có các trường hợp khác được miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm theo quy định của Hiến pháp của tổ chức tín dụng.

Sau khi bị miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm, Chủ tịch, các thành viên khác của Hội đồng quản trị, Chủ tịch, các thành viên khác của Hội đồng thành viên, Trưởng ban, các thành viên khác của Ban kiểm soát, và Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc) của tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trong thời gian họ tại vị. Trong vòng 10 ngày kể từ ngày quyết định miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm các cá nhân theo quy định được thông qua, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng phải báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước kèm theo tài liệu liên quan.

Ngoài ra, có những trường hợp đương nhiên mất tư cách thành viên của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát và Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc) của tổ chức tín dụng, bao gồm: Không đảm nhiệm được chức vụ theo quy định tại Điều 42 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Là người đại diện cho phần vốn góp của một tổ chức là cổ đông hoặc thành viên góp vốn của tổ chức tín dụng khi tổ chức đó bị chấm dứt tồn tại; Không còn là người đại diện cho phần vốn góp theo ủy quyền của cổ đông, thành viên góp vốn là tổ chức; Bị trục xuất khỏi lãnh thổ của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Tổ chức tín dụng đó bị thu hồi Giấy phép; Hợp đồng thuê Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc) hết hiệu lực; Không còn là thành viên của ngân hàng hợp tác xã hoặc quỹ tín dụng nhân dân; Mất đi.

2. Chủ tịch Hội đồng quản trị có phải là người đại diện theo pháp luật của tổ chức tín dụng?

Căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 11 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 thì người được uỷ quyền theo pháp luật của tổ chức tín dụng được xác định trong Điều lệ của tổ chức và phải là một trong những cá nhân sau: Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng; Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc) của tổ chức tín dụng.

Lưu ý: Người được uỷ quyền theo pháp luật của tổ chức tín dụng phải có cư trú tại Việt Nam. Trong trường hợp vắng mặt tại Việt Nam, họ phải ủy quyền bằng văn bản cho một cá nhân khác, người quản lý hoặc điều hành tổ chức tín dụng đang cư trú tại Việt Nam, để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người được uỷ quyền theo pháp luật của tổ chức tín dụng.

Do đó, theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, Chủ tịch Hội đồng quản trị là người được uỷ quyền theo pháp luật của tổ chức tín dụng.

3. Quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng quản trị của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần

Căn cứ theo quy định tại Điều 71 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 thì quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng quản trị của tổ chức tín dụng bao gồm:

- Chủ tịch phải đảm bảo rằng Hội đồng quản trị có một chương trình và kế hoạch hoạt động được lập ra một cách chi tiết và chặt chẽ. Điều này bao gồm việc xác định các mục tiêu cụ thể, nhiệm vụ và lịch trình cho Hội đồng quản trị trong thời gian tới. Chủ tịch phải đảm bảo rằng các quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị được thực hiện đúng cách. Điều này bao gồm việc giám sát và đảm bảo rằng các quyết định và hướng dẫn được thực hiện một cách hợp pháp và hiệu quả. Chủ tịch phải triệu tập các cuộc họp của Hội đồng quản trị theo lịch trình được xác định trước. Họ chủ trì và điều hành các cuộc họp này để đảm bảo rằng các vấn đề được thảo luận một cách cân nhắc và quyết định được đưa ra một cách minh bạch và công bằng.

- Đại diện cho Hội đồng quản trị ký các văn bản thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị. Tổ chức việc thông qua các nghị quyết và quyết định của Hội đồng quản trị. Giám sát và tổ chức giám sát việc thực hiện các nghị quyết và quyết định của Hội đồng quản trị. Chủ trì cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông. Đảm bảo rằng các thành viên của Hội đồng quản trị đều nhận được thông tin đầy đủ, khách quan, và chính xác, và có đủ thời gian để thảo luận về các vấn đề cần xem xét.

- Chủ tịch cần xác định và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên của Hội đồng quản trị dựa trên kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng của họ. Các nhiệm vụ này có thể liên quan đến các lĩnh vực như tài chính, quản trị rủi ro, chiến lược kinh doanh, hoặc quản lý nhân sự. Chủ tịch phải đảm bảo rằng các thành viên của Hội đồng quản trị thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả và đúng đắn. Họ cần theo dõi tiến độ của các dự án hoặc nhiệm vụ được giao và cung cấp hỗ trợ hoặc hướng dẫn khi cần thiết. Chủ tịch cũng cần thực hiện đánh giá hiệu quả làm việc của các thành viên của Hội đồng quản trị định kỳ. Điều này có thể bao gồm việc đánh giá sự tham gia, đóng góp và hiệu suất làm việc của họ trong các cuộc họp và quá trình ra quyết định.

- Trong trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị không thể tham dự các cuộc họp hoặc thực hiện nhiệm vụ của mình do vắng mặt hoặc các lý do khác, họ có thể chỉ ủy quyền cho một thành viên khác của Hội đồng quản trị để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Quyền chỉ ủy quyền này thường được quy định cụ thể trong Điều lệ hoặc các quy định nội bộ của tổ chức tín dụng. Khi chỉ ủy quyền, Chủ tịch cần chọn một thành viên có đủ khả năng và kiến thức để thay mặt và đại diện cho mình trong các cuộc họp hoặc trong việc ra quyết định quan trọng. Đồng thời, Chủ tịch cần đảm bảo rằng thành viên được chỉ ủy quyền hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của mình và sẽ thực hiện chúng một cách có trách nhiệm và chuyên nghiệp.

- Thực hiện việc đánh giá hiệu quả làm việc của từng thành viên Hội đồng quản trị và các Ủy ban của Hội đồng quản trị một cách định kỳ hàng năm, và báo cáo kết quả này cho Đại hội đồng cổ đông; Thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ của tổ chức tín dụng.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Hội đồng quản trị tổ chức tín dụng là công ty cổ phần có mấy thành viên? 

Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!