Mục lục bài viết
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có những quyền hạn và nhiệm vụ nào?
Tại Điều 23 Luật Thi hành án dân sự 2008, đề cập đến nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, được mô tả rõ như sau:
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự là người có trách nhiệm lớn và đa dạng, với nhiều nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể nhằm đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong quá trình thi hành án. Thứ nhất, ông có thẩm quyền ra quyết định về việc thi hành án, đưa ra các quyết định linh hoạt và chính xác dựa trên đánh giá công bằng và pháp luật. Thứ hai, Thủ trưởng có trách nhiệm quản lý và chỉ đạo toàn bộ hoạt động thi hành án dân sự của cơ quan, đảm bảo sự tổ chức và hiệu quả trong quá trình thực hiện quyết định của tòa án.
Thêm vào đó, Thủ trưởng phải có khả năng yêu cầu sự hợp tác từ cơ quan, tổ chức, và cá nhân khác để đảm bảo việc thi hành án diễn ra suôn sẻ. Ông cũng có quyền yêu cầu giải thích bằng văn bản từ cơ quan đã ra án nếu có điểm nào đó chưa rõ ràng hoặc không phù hợp với thực tế. Thêm vào đó, Thủ trưởng có trách nhiệm kiến nghị các biện pháp khắc phục nếu có kháng nghị, và đồng thời giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến thi hành án.
Đồng thời, Thủ trưởng cũng thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của Chấp hành viên, bao gồm việc trả lời kháng nghị, kiến nghị từ Viện kiểm sát và xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền. Thủ trưởng phải tổ chức thực hiện chế độ báo cáo và thống kê để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của quá trình thi hành án.
Ngoài ra, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh còn có quyền điều động, hướng dẫn nghiệp vụ, và kiểm tra công tác thi hành án đối với Chấp hành viên và công chức cấp tỉnh, cấp huyện. Tất cả những hành động này đều phải tuân theo hướng dẫn và chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
Phần thứ hai của điều luật nói về Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, người này sẽ thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được phân công hoặc ủy quyền từ Thủ trưởng và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.
Theo đó, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự được ra quyết định về thi hành án theo thẩm quyền; quản lý, chỉ đạo hoạt động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự và các quyền, nhiệm vụ kể trên.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành đối với những phần bản án, quyết định nào?
Tại Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự 2008 được điều chỉnh bởi khoản 15 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014, quy định một cách chi tiết về quyết định thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Theo đó:
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đảm nhận vai trò quan trọng trong quá trình thi hành án, đặc biệt là khi có yêu cầu thi hành án. Trong thời hạn nhanh chóng là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, Thủ trưởng phải ra quyết định thi hành án, trừ trường hợp quy định khác.
Ngoài ra, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cũng có thẩm quyền chủ động ra quyết định và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành đối với những phần bản án và quyết định liên quan đến:
+ Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án;
+ Trả lại tiền, tài sản cho đương sự;
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước;
+ Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;
+ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
+ Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
Trong vòng 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án hoặc quyết định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 36 Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án. Đối với quyết định tại điểm e Luật Thi hành án dân sự 2008, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra ngay quyết định thi hành án. Đối với quyết định tại điểm này, thời hạn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
Quyết định thi hành án phải đầy đủ thông tin về người ra quyết định, cơ quan ban hành, thông tin về bản án, tên và địa chỉ của người phải thi hành án, nội dung nghĩa vụ phải thi hành án, và thời hạn tự nguyện thi hành án. Chính phủ sẽ quy định chi tiết về điều này. Điều này giúp đảm bảo sự minh bạch và hiệu quả trong quá trình thi hành án dân sự.
3. Khi nào Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho cơ quan THA dân sự?
Theo quy định tại Điều 16 của Nghị định 62/2015/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 9 Điều 1 Nghị định 33/2020/NĐ-CP, cơ quan thi hành án dân sự phải tiến hành ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự trong những trường hợp sau đây:
- Cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự tại địa phương mà người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở. Thủ trưởng cơ quan này cần căn cứ vào bản án, quyết định được thi hành hoặc kết quả xác minh để quyết định việc ủy thác.
- Trong trường hợp người phải thi hành án có nhiều tài sản ở nhiều địa phương, cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện ủy thác theo thứ tự sau đây:
+ Theo thỏa thuận của đương sự;
+ Tại địa phương có tài sản đủ để thi hành án;
+ Tại địa phương có tổng giá trị tài sản lớn nhất.
- Trường hợp bản án hoặc quyết định tuyên tài sản bảo đảm cho khoản phải thi hành án cụ thể mà tài sản đó ở nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác khoản đó đến cơ quan thi hành án dân sự tại địa phương có tài sản bảo đảm. Nếu tài sản đang xử lý để thi hành án nhưng có tranh chấp và đã được tòa án thụ lý giải quyết mà đương sự có tài sản ở địa phương khác, thì cũng cần ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi có tài sản để thi hành án.
Cơ quan thi hành án nơi ủy thác phải thường xuyên cập nhật, theo dõi và thông báo ngay cho cơ quan thi hành án nhận ủy thác biết kết quả giải quyết tranh chấp của tòa án để phối hợp tổ chức thi hành án. Cơ quan thi hành án nhận ủy thác cũng phải kịp thời thông báo tiến độ, kết quả xử lý tài sản cho cơ quan ủy thác thi hành án để theo dõi và phối hợp trong việc tổ chức thi hành án.
- Quyết định ủy thác thi hành án phải ghi rõ nội dung ủy thác, khoản đã thi hành xong, khoản tiếp tục thi hành và các thông tin cần thiết cho việc thực hiện ủy thác. Khi gửi quyết định ủy thác thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự cần kèm theo bản án, quyết định; bản sao biên bản kê biên, tạm giữ tài sản và các tài liệu khác có liên quan, nếu có. Trong trường hợp phải ủy thác cho nhiều địa phương, Chấp hành viên sao chụp bản án, quyết định và các tài liệu khác có liên quan thành nhiều bản, có đóng dấu của cơ quan thi hành án dân sự nơi ủy thác để gửi cho cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác.
Các quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, quyết định tạm hoãn xuất cảnh và các quyết định về thi hành án khác liên quan đến ủy thác có hiệu lực cho đến khi có quyết định thay thế của cơ quan nhận ủy thác. Điều này nhằm đảm bảo tính hiệu quả và liên tục trong quá trình thi hành án dân sự.
Xem thêm bài viết: Những trường hợp nào bị tước quyền công dân? Thủ tục thi hành án phạt tước một số quyền của công dân., Người thiếu nợ không có tiền trả cho chủ nợ thi hành án sẽ làm gì?
Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật