Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019, nếu người lao động bị người sử dụng lao động quấy rối tình dục tại nơi làm việc thì được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước.
Như vậy, so với Bộ luật Lao động năm 2012 (Điều 37), thì Bộ luật Lao động năm 2019 không còn yêu cầu người lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 03 ngày mà được quyền nghỉ việc ngay lập tức.
Việc người sử dụng lao động có hành vi quấy rối tình dục người lao động tại nơi làm việc là vi phạm hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật Lao động năm 2019; vì vậy, Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần phải báo trước cho người sử dụng lao động trong trường hợp này là nhằm bảo vệ nhân phẩm, danh dự cho người lao động một cách kịp thời.
Ngoài ra, nếu việc xâm phạm nhân phẩm, danh dự của người lao động một cách nghiêm trọng thì người lao động có thể ý kiến đến tổ chức đại diện người lao động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý người sử dụng lao động theo đúng quy định của pháp luật (có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự).
Luật Minh KHuê phân tích chi tiết quy định trên như sau:
1. Thế nào là quấy rối tại nơi làm việc?
Căn cứ theo điều 84, nghị định 145/2020/NĐ-CP thì có quy định về hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc theo đó thì quấy rối tình dục tại nơi làm việc có thể xảy ra dưới dạng trao đổi như đề nghị, yêu cầu, gợi ý, đe dọa, ép buộc đổi quan hệ tình dục lấy bất kỳ lợi ích nào liên quan đến công việc hoặc những hành vi có tính chất tình dục không nhằm mục đích trao đổi nhưng khiến môi trường làm việc trở nên khó chịu và bất an, gây tổn hại về thể chất, tinh thần, hiệu quả công việc và cuộc sống của người bị quấy rối.
Quấy rối tình dục tại nơi làm việc bao gồm:
- Hành vi mang tính chất gồm hành động, cử chỉ, tiếp xúc, tác động vào cơ thể mang tính tình dục hoặc gợi ý tình dục.
- Gấy rối tình dục phi lời nói gồm ngôn ngữ cơ thể, trưng bày, miêu rả tài liệu trực quan về tình dục hoặc liên quan đến hoạt đồng tình dục trực tiếp hoặc qua phương tiện điện tử.
Nơi làm việc được quy định tại khoản 9 điều 3 của Bộ luật lao động là bất cứ địa điểm nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động, bao gồm cả những địa điểm hay không gian có liên quan đến công việc như các hoạt động xã hội, hội thảo, tập huấn, chuyến đi công tác chính thức, bữa an, hội thoại trên điện thoại, các hoạt động giao tiếp qua phương tiện tiện tử , phương tiện đi lại do người sử dụng lao động bố trí từ nơi làm việc và ngược lại, nơi do người sử dụng lao động cung cấp và địa điểm khác do người sử dụng lao động quy định.
Bên cạnh đó thì khoản 9 điều 3 Bộ luật lao động có quy định quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục của bất kì người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn hoặc chấp thuận. Nơi làm việc là nơi bất kỳ nơi nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động.
2. Người lao động bị quấy rối tại nơi làm việc thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không?
Căn cứ theo điều 35 của Bộ luật lao động 2019 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động thì có quy định như sau:
1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
- Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn
- Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng
- Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và có thời hạn dưới 12 tháng
- Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của chính phủ. Được hướng dẫn bởi nghị định 145/2020/NĐ-CP
2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
-Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại điều 29 của Bộ luật lao động. Điều 29 của Bộ luật lao động có quy định về chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động.
- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 điều 97 bộ luật lao động. Tại khoản 4 điều 97 của bộ luật lao động thì có quy định rằng trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày, nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương
- Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, bị cưỡng bức lao động
- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc
- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 điều 138 bộ luật lao động. Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn việc thực hiện hợp đồng lao động. Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động thì phải thông báo cho người sử dụng lao động kèm theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định, trừ trường hợp mà các bên có thỏa thuận khác
- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 điều 16 của bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng. Theo đó thì người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày, tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu.
Như vậy thì đối với trường hợp mà người sử dụng lao động có hành vi quấy rối tình dục người lao động tại nơi làm việc thì bản thân người lao động họ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người sử dụng lao động mà không cần phải báo trước cho người lao động. Ngoài ra, nếu việc xâm phạm nhân phẩm, danh dự của người lao động một cách nghiêm trọng thì người lao động có thể ý kiến đến tổ chức đại diện người lao động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý người sử dụng lao động theo đúng quy định của pháp luật, có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn có liên quan đến việc quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động khi bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Mong rằng với những thông tin mà chúng tôi cung cấp đã giúp ích cho các bạn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong quan hệ lao đông. Ngoài ra nếu các bạn còn có những thắc mắc khác có liên quan thì có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài: 19006162 để có thể được hỗ trợ và tư vấn một cách tốt nhất.