Căn cứ pháp lý:
- Luật Môi trường cơ bản Nhật Bản năm 1993;
- Luật phòng chống ô nhiễm nguồn nước Nhật Bản năm 1958;
- Luật cơ bản về phòng chống ô nhiễm năm 1967.
1. Chính sách của Chính phủ Nhật Bản về bản vệ môi trường
Tốc độ phát triển quá nhanh của các ngành nghề sản xuất công nghiệp đã làm gia tăng những gánh nặng đối với môi trường, dẫn đến môi trường sống bị suy thoái, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và sự phát triển của đất nước. Tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là môi trường không khí và nước ngày càng gia tăng. Trước thực trạng này, Chính phủ Nhật Bản đã phải tiến hành các giải pháp để cải thiện hệ thống pháp luật và thiết lập cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, nhằm giải quyết cùng lúc 3 vấn đề: Giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường; Giảm được chi phí kiểm soát ô nhiễm và chi phí về sức khỏe của cộng đồng; Giảm giá thành sản xuất và giảm chi phí năng lượng. Đây cũng chính là tư duy mới về quản lý sản xuất, nghĩa là: "Không phải chỉ lo xử lý chất thải ở công đoạn cuối của sản phẩm, mà phải tính toán ngay từ đầu làm sao để sản xuất hợp lý nhất, phát thải ít nhất".
2. Thiết lập khung pháp lý và cơ quan quản lý môi trường
Chính từ tư duy là kiểm soát, sản xuất hợp lý, phát thải ít nhất ngay từ đầu vào, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành những quy định pháp luật nghiêm ngặt về tiêu chuẩn phát thải chất thải, kiểm soát ô nhiễm nước, không khí và giám sát ô nhiễm chất độc hại. Đặc biệt coi trọng chính sách giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, khuyến khích các doanh nghiệp và các tổ chức nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát ô nhiễm môi trường. Năm 1972, Luật Bảo tồn thiên nhiên chính thức được ban hành. Hệ thống Luật Môi trường cơ bản được ban hành vào năm 1993, đã đưa ra Hệ thống kiểm soát ô nhiễm, bao gồm các chính sách và quy định về Hệ thống kiểm soát ô nhiễm không khí, Hệ thống kiểm soát ô nhiễm nước, các vấn đề ô nhiễm đất, các tiêu chuẩn quốc gia về chất độc hại; Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn về chất lượng môi trường; Những biện pháp kiểm tra và kiểm soát nghiêm ngặt môi trường sản xuất công nghiệp; Các quy định về trách nhiệm của cơ sở gây ô nhiễm...
Trong Hệ thống kiểm soát ô nhiễm, quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí (Luật Kiểm soát ô nhiễm không khí) tập trung vào 3 nội dung chính: Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí; Các tiêu chuẩn và quy định phát thải; Tổng tải lượng ô nhiễm ở các thành phố, tiêu chuẩn kiểm soát tổng lượng phát thải, tiêu chuẩn về xây dựng, về đường biên và tiêu chuẩn đối với các nồng độ trong môi trường không khí. Đồng thời, Luật còn đề cập đến những biện pháp ứng phó với các chất ô nhiễm không khí nguy hại, kiểm soát các nguồn lưu động, quy định về các phương tiện vận tải chạy trên đường.
Bên cạnh đó, ô nhiễm nước cũng tạo ra những áp lực không nhỏ đối với môi trường, với hàng loạt các nhà máy sản xuất điện từ than, các nhà máy sản xuất công nghiệp, đe dọa các hệ thủy sinh và phá hủy cảnh quan thiên nhiên. Vì thế, Luật Kiểm soát ô nhiễm nước chính thức được thông qua vào năm 1970. Luật bao gồm các tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng nước, quy định cho các nhà máy và hệ thống kiểm soát tổng lượng chất ô nhiễm tại các ao hồ, sông suối, biển, cùng với đó là các phương pháp cụ thể cho những khu vực nước đặc thù, tập trung vào 3 vấn đề: Tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước; Tiêu chuẩn và quy định phát thải; Kiểm soát tổng lượng chất ô nhiễm.
Tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước quy định áp dụng đồng bộ cho tất cả mọi nguồn nước công cộng; đồng thời, được chia thành nhiều nhóm tùy theo mục tiêu sử dụng nước ở ao, hồ, sông. Trong đó, ô nhiễm nước có thể được phân thành nhiều loại khác nhau tùy theo ảnh hưởng và cơ chế của ô nhiễm. Nước thải công nghiệp được quy định bởi quy chế kiểm soát nước thải nhằm giảm tải lượng phát thải. Một trong những biện pháp kiểm soát nước thải thông dụng nhất chính là đặt ra quy chế nồng độ phát thải chứa trong nước thải. Các nguồn phát sinh ô nhiễm được phân loại tùy theo việc có xác định được địa điểm phát sinh hay không.
Về vấn đề ô nhiễm môi trường đất, Nhật Bản đã ban hành Luật Ngăn ngừa ô nhiễm đất tại vùng đất nông nghiệp. Luật đã đưa ra các biện pháp đặc biệt nhằm quản lý tài chính quốc gia cho việc ngăn ngừa ô nhiễm và quy định về trách nhiệm của các công ty vận hành, chi phí vận hành; Các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm, cũng như các biện pháp xử lý ô nhiễm; Xây dựng hệ thống xử lý đất ô nhiễm dựa vào "Luật về các biện pháp đặc biệt đối với dioxin".
3. Sự tham gia của toàn xã hội trong bảo vệ môi trường
Sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội dân sự
Bên cạnh một hệ thống chính sách kiểm soát ô nhiễm nghiêm ngặt, Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương, cũng như nhân dân Nhật Bản rất nỗ lực trong việc làm sạch môi trường. Tại Nhật, có hàng nghìn tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực môi trường, hàng trăm tờ báo chuyên về môi trường, về xử lý chất thải và bảo tồn đa dạng sinh học. Khắp nơi đâu đâu cũng có các thông điệp về bảo vệ môi trường, tràn ngập trên các dãy phố, trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, tác động vào nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân Nhật Bản về tình yêu đối với môi trường và cuộc sống, vì một màu xanh cho thế hệ mai sau.
Hoạt động khu vực tư nhân
Trong thời kỳ đầu của tăng trưởng kinh tế tại Nhật Bản, khu vực tư nhân hầu như không tham gia vào các hoạt động quản lý ô nhiễm và phát triển đô thị. Tuy nhiên, sau một loạt các vụ việc dính líu đến pháp lý cùng với các chính sách hỗ trợ tài chính cho các giải pháp môi trường đã nhanh chóng thay đổi thái độ của doanh nghiệp đối với vấn đề ô nhiễm và quản lý đô thị.
Kết quả là, tổng số tiền đầu tư của khu vực tư nhân vào các cơ sở kiểm soát ô nhiễm tăng lên đáng kể. Họ cũng nhận ra rằng quản lý ô nhiễm môi trường là trách nhiệm xã hội và thực hiện có hiệu quả có thể nâng cao kinh doanh của họ. Các doanh nghiệp cuối cùng đã phát triển các công nghệ và bí quyết về chống ô nhiễm môi trường và tiết kiệm năng lượng. Kết quả là công nghiệp Nhật Bản đã dẫn đầu những công nghệ môi trường trên thế giới.
4. Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở Nhật Bản
Những địa phương có khu công nghiệp lớn như Tokyo đã ban hành quy định và ký kết các thoả thuận phòng, chống ô nhiễm. Về phía Nhà nước, năm 1958 đã ban hành Luật phòng chống ô nhiễm nguồn nước; năm 1967, ban hành Luật cơ bản về phòng chống ô nhiễm (Luật phòng chống ô nhiễm tổng hợp), đến năm 1970, tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 64, ban hành và sửa đổi 14 luật liên quan đến phòng, chống ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản cũng tiến hành đồng loạt các giải pháp để cải thiện hệ thống pháp luật và thiết lập cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, nhằm giải quyết cùng lúc 3 vấn đề: Giảm thiểu ô nhiễm, BVMT; Giảm được chi phí kiểm soát ô nhiễm, chi phí về sức khỏe của cộng đồng; Giảm giá thành sản xuất, giảm chi phí năng lượng. Để đạt được mục tiêu đề ra, Chính phủ Nhật Bản ban hành những quy định pháp luật nghiêm ngặt về tiêu chuẩn phát thải chất thải, kiểm soát ô nhiễm nước, không khí và giám sát ô nhiễm chất độc hại, đồng thời, coi trọng chính sách giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng về BVMT, khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức xã hội nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát ô nhiễm môi trường. Đây cũng chính là tư duy mới về quản lý sản xuất, nghĩa là không phải chỉ lo xử lý chất thải ở công đoạn cuối của sản phẩm mà phải tính toán ngay từ đầu, làm sao để sản xuất hợp lý, phát thải ít nhất.
Đặc biệt, tháng 11/1993, Luật Môi trường căn bản được ban hành, vạch ra hướng đi mới cho các chính sách môi trường của Nhật Bản. Mục tiêu chính của Luật là BVMT bằng cách công nhận nó là hệ thống hỗ trợ cuộc sống thiết yếu của con người và truyền lại cho các thế hệ tương lai. Mục tiêu này kỳ vọng đạt được bằng cách xây dựng một xã hội bền vững về kinh tế mà không gây tổn hại cho môi trường, đồng thời, đóng góp tích cực vào việc bảo tồn môi trường toàn cầu. Luật Môi trường căn bản của Nhật Bản gồm 3 chương: Chương 1 đưa ra 3 nguyên tắc cơ bản để bảo tồn môi trường và quy định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong xã hội (Trung ương, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và công dân); Chương 2 là danh sách những chính sách cơ bản về bảo tồn môi trường, bao gồm xây dựng Kế hoạch môi trường cơ bản, thúc đẩy đánh giá tác động môi trường, các giải pháp chính sách mới (giải pháp kinh tế nhằm xóa bỏ trở ngại đối với bảo tồn môi trường và biện pháp ứng phó với vấn đề môi trường toàn cầu); Chương 3 quy định các điều kiện cần thiết để triển khai nội dung ở chương 2.
Gần đây nhất, ngày 31/5/2019, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định “Chiến lược tuần hoàn tài nguyên nhựa”, nhằm giảm thiểu lượng rác thải nhựa xả ra môi trường và thúc đẩy hoạt động tái chế rác. Chiến lược này hướng đến việc bắt buộc các cửa hàng bán lẻ không được phục vụ miễn phí mà phải tính phí cho túi nhựa, nếu người tiêu dùng đi mua hàng mang theo túi vải sẽ được giảm 2 yên cho một lần mua hàng, ngược lại sẽ bị tính phí túi 2 yên. Bên cạnh đó, việc Chính phủ Nhật Bản quyết định bắt đầu từ năm tài chính 2019, hạn chế sử dụng sản phẩm nhựa tại căng tin và cửa hàng bên trong khoảng 200 cơ quan nhà nước như văn phòng chính quyền hay trường đại học công lập cũng có tác động tích cực trong kế hoạch thực hiện các giải pháp BVMT của quốc gia.
5. Vai trò của chính phủ trong hoạt động quản lý ô nhiễm môi trường
Theo truyền thống, chính phủ tại các nước công nghiệp phát triển có vai trò không lớn trong điều tiết các hoạt động kinh tế, xã hội mà Nhật Bản cũng không là một ngoại lệ. Song riêng trong trường hợp quản lý môi trường, Chính phủ Nhật Bản có vai trò rất lớn. Phải chăng tầm quan trọng của môi trường đối với sự phát triển bền vững của quốc gia này đã tạo lập cơ sở cho Chính phủ Nhật Bản gia tăng vai trò của nó đối với lĩnh vực quan trọng này.
Theo chính giới Nhật Bản, ngoài vai trò là một cơ quan hành chính trung ương, Chính phủ Nhật Bản còn có vai trò như một doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh tế và như một thực thể tiêu dùng. Để thực hiện vai trò này, ngay từ năm 1995 Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng kế hoạch “Hành động xanh”. Kế hoạch này được coi là nhiệm vụ cụ thể mang tính thường niên đối với Chính phủ Nhật Bản. Mục tiêu của kế hoạch là hướng tới giảm tải ô nhiễm môi trường bằng cách chỉ dẫn các tổ chức hành chính của Chính phủ cũng như hỗ trợ tích cực cho chính quyền các địa phương, doanh nghiệp và công chúng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Nội dung của kế hoạch này bao gồm: gắn việc bảo vệ môi trường khi mua và sử dụng các loại hàng hóa dịch vụ đối với các cơ quan hành chính trung ương và địa phương, gắn việc bảo vệ môi trường với việc xây dựng và quản lý các tòa nhà cao tầng, khi thực thi các nhiệm vụ quản lý nhà nước khác, gắn nội dung bảo vệ môi trường khi tổ chức đào tạo đội ngũ viên chức và thiết lập hệ thống kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch này.
Nội dung của kế hoạch “Hành động xanh” được cụ thể hóa theo năm tài chính; theo đó, mức sử dụng giấy tái chế trong công việc hành chính của Chính phủ sẽ được gia tăng hàng năm; nội dung các văn bản, tài liệu phải ngắn gọn; phôtôcopy trên cả hai mặt giấy; tiết kiệm điện trong các đơn vị thuộc chính phủ; tiết kiệm xăng dầu khi sử dụng xe công; giảm tiêu hao năng lượng đối với các vật dụng thuộc công sở chính phủ ở mức xấp xỉ 10% hàng năm kể từ năm 2000...v.v.
Điều lưu ý là các chỉ tiêu cụ thể đã được văn phòng nội các giao cho các cơ quan trực thuộc. Đây là điều mà ít ai nghĩ tới bởi Nhật Bản là một quốc gia giàu có. Chẳng hạn khi triển khai nội dung công việc gắn với việc bảo vệ môi trường trong mua sắm và sử dụng các loại hàng hóa, dịch vụ cho các cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chính phủ thừa lệnh Thủ tướng quy định các cơ quan này chỉ mua các loại giấy nhãn hiệu Eco-Mark và GreenMark, đây là các loại sản phẩm tái chế phế thải, khuyến khích các cơ quan này chỉ dùng Email qua mạng LAN mà không dùng giấy để in Email và bản tin; cụ thể hơn, người ta quy định Văn phòng thủ tướng, Cơ quan phát triển Hokkaido và Cục kinh tế phải dùng giấy tái chế 100%; Bộ bưu chính viễn thông dùng 100% giấy tái chế để làm bưu thiếp, bì thư...v.v. và các cơ quan này phải lắp đặt hệ thống phân loại rác thải ngay tại văn phòng.
Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản yêu cầu các cơ quan trực thuộc chính phủ phải đưa nội dung chống ô nhiễm môi trường vào kế hoạch hàng năm của đơn vị; ở đó phải cụ thể hóa các nội dung trong kế hoạch “Hành động xanh” của chính phủ, có các chương trình tập huấn cán bộ nhân viên nâng cao nhận thức về việc bảo vệ môi trường thông qua các hành động cụ thể như tiết kiệm điện, nước, giảm làm việc ngoài giờ, giảm các cuộc họp... và một ví dụ được coi là duy nhất trên thế giới diễn ra ở đất nước này là vào mùa hè 2005, Thủ tướng đương nhiệm Koizumi đã phát động phong trào mặc áo mỏng, không comple, cà vạt khi tới công sở để giảm việc sử dụng máy điều hòa nhiệt độ tại các văn phòng, điều này ngược với thói quen ăn mặc trước đó và điều này đã tạo ra một thói quen văn hóa công sở rất đặc trưng kiểu Nhật Bản. Tuy nhiên, việc làm này của Thủ tướng Koizumi là một giải pháp tình thế nhằm tiết kiệm năng lượng trong bối cảnh giá dầu thế giới đang tăng cao. Suy cho cùng, đây cũng là một biện pháp để giảm tải trọng phế thải vào môi trường. Ngoài ra chính phủ Nhật Bản khuyến khích các bộ và các cơ quan liên quan xúc tiến các chương trình nghiên cứu, đánh giá tác động, nhất là định lượng hóa các tác động đến môi trường đối với các loại sản phẩm gắn với chu kỳ sống của chúng (sản xuất – phân phối – tiêu dùng – thải hồi) dựa trên tiêu chí của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO), khuyến khích việc phổ biến gắn nhãn hiệu môi trường cho doanh nghiệp và người tiêu dùng, hỗ trợ mạng lưới tiêu dùng xanh, xúc tiến mua các loại sản phẩm thân thiện với môi trường, ủng hộ và khuyến khích hợp tác bảo vệ môi trường giữa các nhóm công dân và doanh nghiệp...
Bài viết tham khảo:
1. Quản lý Nhà nước về môi trường ở Nhật Bản và Những gọi ý cho Việt Nam; Nguyễn Thị Ngọc (ThS, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á);
2. Quản lý môi trường ở Nhật Bản (Tạp chí Công Thương Thứ sáu, 12/06/2015);
3. Điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô của Nhật Bản- khía cạnh khoa học công nghệ và môi trường; Ngô Xuân Bình (2002), Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á.