1. Quyền con người
Nhân quyền (hay quyền con người; tiếng Anh: human rights) là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đưa ra một nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ. Các chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson đã nêu, mà chính các chính phủ đó để bảo vệ các quyền tự do đó – các quyền mà mọi cá nhân "hiển nhiên có" do sự tồn tại của mình.
Như vậy, có thể khái quát, quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế.
2. Các thiết chế giám sát nhân quyền khu vực
Trên cơ sở các điều ước quốc tế về quyền con người khu vực như Công ước nhân quyền châu Âu năm 1950, Công ước nhân quyền châu Mỹ năm 1978 và Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền dân tộc năm 1982, các thiết chế giám sát nhân quyền khu vực cũng đã được hình thành.
Công ước nhân quyền châu Âu năm 1950, cùng với những sửa đổi bổ sung theo quy định của Nghị định thư số 11, đã thiết lập ủy ban châu Âu và Tòa án châu Âu về quyền con người, ủy ban châu Âu về quyền con người có nhiệm vụ giám sát các quốc gia thành viên Công ước trong việc bảo vệ và phát triển các quyền cơ bản của con người được quy định trong Công ước. Tòa án châu Âu về quyền con người cũng là công cụ quan trọng để bảo vệ quyền con người ở châu Âu. Thẩm quyền bắt buộc của Tòa đã được các quốc gia thành viên Công ước chấp nhận. Công ước châu Âu ghi nhận quyền của mỗi cá nhân công dân của mỗi quốc gia thành viên được kiện lên Tòa án châu Âu về quyền con người khi có các điều kiện:
- Có sự vi phạm một quyền được Công ước châu Âu về quyền con người và các nghị định thư bổ sung bảo vệ;
- Cá nhân khởi kiện là nạn nhân của sự vi phạm;
- Không còn một biện pháp hữu hiệu trong nước nào nữa để bảo vệ quyền của cá nhân;
- Đơn kiện được thực hiện dưới sáu tháng sau khi các biện pháp trong nước đã được triển khai.
Tương tự Công ước nhân quyền châu Âu, Công ước nhân quyền châu Mỹ thiết lập một hệ thống gồm ủy ban liên Mỹ và Tòa án liên Mỹ về quyền con người có nhiệm vụ kiểm tra khả năng và những nỗ lực của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện các cam kết được ghi, nhận trong Công ước. Trong khi đó, Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền dân tộc lập ra một ủy ban có quyền điều tra và báo cáo về các đơn kiện vi phạm nhân quyền. Việc giám sát thường xuyên tình hình thực hiện Công ước được thực hiện trên cơ sở xem xét báo cáo quốc gia do ủy ban thực hiện. Toà án quyền con người châu Phi cũng đã được nhất trí thành lập nhưng trên thực tế chưa đi vào hoạt động.
3. So sánh giữa ba hệ thống thiết chế giám sát
Trong hệ thống các thiết chế được thành lập theo quy định của các điều ước quốc tế về quyền con người khu vực, công tác giám sát cuối cùng đôi với việc tuân thủ quyết định hoặc báo cáo của Tòa án hoặc ủy ban đều thuộc trách nhiệm của cơ quan liên chính phủ bao gồm đại diện các quốc gia thành viên thuộc khu vực đó. Những quyền được bảo vệ và các cơ chế giám sát được thành lập đều được lý giải trên cơ sỗ phản ánh những đặc điểm văn hoá đặc thù của khu vực.
So sánh giữa ba hệ thống thiết chế giám sát được thành lập trên cơ sở các điều ước quốc tế về quyền con người khu vực có thể thấy hệ thống thiết chế giám sát của Công ước nhân quyền châu Âu là thiết chế được sử dụng hiệu quả nhất, trong thời gian dài nhất và là thiết chế phát triển nhất, đặc biệt là xét từ góc độ cá nhân sử dụng cơ chế này, từ góc độ các cơ quan giám sát và từ góc độ các quốc gia tuân thủ quyết định của cơ chế này. Thiết chế giám sát của Công ước nhân quyền châu Mỹ hiện đang hoạt động tích cực trong việc đưa ra các ý kiến tư vấn lẫn việc xem xét các đơn kiện của cá nhân. Còn thiết chế nhân quyền của châu Phi thì mới bắt đầu có những tiến bộ nhất định. Sự hình thành và phát triển của các hệ thống thiết chế này góp phần quan trọng trong việc nghiêm chỉnh thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người của các quốc gia.
4. Châu Âu và quyền con người
Châu Âu có thể được cho là nơi đầu tiên tuyên bố về quyền con người, quyền công dân và cũng là nơi đi tiên phong trong việc giáo dục về quyền con người. Vào những năm 60 và 70 của thế kỷ XX đa số các nước châu Âu gặp phải những khó khăn về kinh tế; lạm phát, khủng hoảng tài chính, sinh thái... Phong trào sinh viên vào năm 1968, các cuộc biểu tình của thanh niên phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã dẫn tới những biến đổi lớn trong kinh tế của hàng loạt nước Tây Âu. Việc giảng dạy các môn khoa học xã hội ở các cấp học phổ thông rơi vào khủng hoảng sâu sắc ở Mỹ, Canada và ở đa số các nước châu Âu. Các trường học có thiên hướng tăng cường giảng dạy các môn khoa học tự nhiên, kỹ thuật. Chính vì vậy mà chính phủ các nước châu Âu đã cố gắng xây dựng một hệ thống giá trị mới trong giáo dục thanh niên, đưa vào giảng dạy các môn học mới giúp thế hệ trẻ thích nghi với cuộc sống trong xã hội hiện đại. Vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX ở châu Âu đã xuất hiện các chương trình-dự án về khoa học xã hội và nhân văn. Vào những năm 70 đã đưa vào chương trình giảng dạy về giáo dục công dân, giáo dục chính trị. Những năm 80 đánh dấu mốc quan trọng trong giáo dục văn hoá đa dạng, giáo dục thanh niên tôn trọng giá trị quyền con người, tình yêu hoà bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các nền văn hóa.
Tuyên bố Viên năm 1993 cũng là văn kiện quan trọng chú ý tới những vấn đề giáo dục quyền con người. Các văn kiện này ảnh hưởng rất nhiều tới cộng đồng quốc tế, các tổ chức khu vực và quốc gia quan tâm tới giáo dục, phát triển và củng cố các quyền và tự do của con người.
Công ước châu Âu về bảo vệ quyền và tự do cơ bản của con người - The Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms (thông qua ngày 4 tháng 11 năm 1950) đã nêu rõ niềm tin sâu sắc vào tự do cơ bản của con người là bảo đảm cho công lý và hòa bình trên trái đất, một mặt được bảo đảm bằng một nền dân chủ và mặt khác là niềm tin vào quyền con người.
5. Các văn kiện pháp lý
Để bảo đảm và bảo vệ quyền con người các nước châu Âu đã thông qua nhiều văn kiện pháp lý quan trọng:
- Công ước về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản (1950) và 14 Nghị định thư bổ sung
- Hiến chương xã hội châu Âu (1961) sửa đổi năm 1991 và 1996 và các Nghị định thư bổ sung năm 1988 và 1995
- Công ước châu Âu về ngăn ngừa tra tấn và các hình thức đối xử hạ nhục và phi nhân tính khác (1987)
- Đạo luật cuối cùng của Helsinki (1975) và chu trình tiếp theo của CSCE/OSCE với Hiến chương Paris về châu Âu mối (1990)
- Hiến chương châu Âu về các ngôn ngữ khu vực và thiểu số (1992)
- Công ước khung về bảo vệ các quốc gia thiểu số (1994)
- Hiến chương về các quyền cơ bản của Liên minh châu Âu (2000)
6. Các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người
Trên cơ sở các văn bản pháp lý, các nước châu Âu đi tiên phong trong việc tạo cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người.
Tại Hội đồng châu Âu có:
- Tòa án châu Âu về quyền con người (Tòa án riêng biệt năm 1998)
- Ủỷ ban châu Âu về các quyền xã hội (sửa đổi năm 1999)
- Ủy ban châu Âu về việc ngăn ngừa tra tấn hay các hành vi đối xử vô nhân đạo hay hạ nhục khác (CPT, 1989)
- Ủy ban cố vấn của Công ước khung về các dân tộc thiểu số’ (1998)
- Ủy ban châu Âu về chủ nghĩa chủng tộc và thiếu khoan dung (ECRI, 1993)
- Ủy viên châu Âu về quyền con người (1999)
- Ủy ban Bộ trưởng của Hội đồng châu Âu OSCE:
- Văn phòng thể chế dân chủ và quyền con người (ODIHR, 1990)
- Cao uỷ về các dân tộc thiểu số (OSCE, 1992)
- Đại diện về quyền tự do thông tin (OSCE, 1997)
Trực thuộc Liên minh châu Âu có các cơ quan sau:
- Tòa án công lý châu Âu
- Trung tâm giám sát châu Âu về phân biệt chủng tộc và nạn bài ngoại (EUMC, 1998)
- Cơ quan châu Âu về các quyền cơ bản (2007)
Công cụ chính bảo vệ quyền con người ở châu Âu là Toà án quyền con người châu Âu đặt tại Strasbourg. Ngày nay, thẩm quyền bắt buộc của Tòa án này được tất cả các nước thành viên của Hội đồng châu Âu ghi nhận. Toà có số lượng thẩm phán bằng số lượng quốc gia thành viên của Hội đồng châu Âu. Trong từng vụ việc, sẽ có một người nắm giữ vị trí thẩm phán quốc gia để tham gia hỗ trợ tìm hiểu pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, khi được bổ nhiệm các thẩm phán chỉ làm việc với tư cách cá nhân.
Để đơn kiện được chấp nhận cần phải có đầy đủ bốn điều kiện tiên quyết chính:
- Có sự vi phạm một quyền được Công ước châu Âu về quyền con người và các nghị định thư bổ sung bảo vệ;
- Người thưa kiện là nạn nhân của sự vi phạm này;
- Không còn một biện pháp hữu hiệu trong nước nào nữa;
- Đơn kiện được thực hiện dưới sáu tháng sau khi các biện pháp trong nước đã hết.
Nếu được chấp nhận thì một Hội đồng gồm 7 thẩm phán sẽ xem xét nội dung của vụ việc. Phán quyết của Hội đồng sẽ là phán quyết cuối cùng nếu như vụ việc không được coi là có vai trò đặc biệt quan trọng hoặc biểu hiện một vấn đề mới liên,,.quan đến quyền tài phán. Trong trường hợp Hội đồng Thẩm phán không đưa ra được quyết định thì vụ việc sẽ được kháng cáo tại Hội đồng mở rộng gồm có 17 thẩm phán. Các phán quyết là mang tính ràng buộc và cũng phải bồi thường thiệt hại nếu có. Việc giám sát thực hiện phán quyết là nhiệm vụ của uỷ ban Bộ trưởng.
Hiện tại, vấn đề chính của hệ thống này là số lượng kháng thư nhận được rất lớn. số đơn đã tăng từ 1.000 năm 1999 lên hơn 44.000 năm 2004 gây ra sự quá tải cho cả hệ thống. Nghị định thư số 14 đã được thông qua nhằm giải quyết vấn đề này.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)