1. Khái niệm di chúc

Luật la mã quy định di chúc là việc định đoạt tài sản của con ngưởi trong trường hợp  người nắm giữ tài sản(chủ tài sản) trước lúc qua đời muốn trao lại tài sản với nội dung có sự chỉ định rõ ràng người thừa kế là ai
Các điểm cần chú ý:
-Trong di chúc,nội dung phải chỉ rõ ngay từ đầu  người thừa kế là ai.việc không ghi rõ những quy định về nguồn tài sản sẽ phân phát cho ai bao nhiêu và tên người thừa (nomen heridis) không được ghi thì di chúc hoàn toàn không có hiệu lực.Nếu nội dung di chúc không chỉ định người thừa kế(lý do khước từ tài sản) thì cũng phải ghi rõ tên những người được bảo lãnh cho người thừa kế còn ít tuổi.
-Di chúc được hiểu theo luật la mã là sự giao dịch(negotio) đơn phương,hay hiểu là sự thể hiện ý chí của người viết di chúc,vì vậy di chúc không phải là 1 hợp đồng (Contractu),bởi di chúc không  thể hiện ý chí cuả người thừa kế,và người thừa kế có thể khước từ việc hưởng tài sản thừa kế,hành vi tiếp nhận hoặc khước từ là hành vi độc lập tách rời với di chúc .từ đó nhận thấy người viết di chúc có quyền thay đổi việc chỉ định  thừa kế .Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào. Nếu có người lập nhiều di chúc thì di chúc sau có giá trị hơn di chúc trước

2. Khái niệm về kỷ phần bắt buộc

Vào thời kì cổ đại, người lập di chúc có toàn quyền định đoạt, Luật XII bangt không hạn chế quyền định đoạt của người lập di chúc: “Chủ gia chia tài sản thế nào thì sẽ theo như thế”, như vậy những người thân thuộc phải thực hiện ý nguyện của người chết 1 cách đầy đủ.
Tuy nhiên trong quan hệ gia đình phụ hệ thì tài sản thuộc quyền sở hữu của gia chủ. Tài sản này do các thành viên trong gia đình tạo ra, nếu người chủ gia đình định đoạt toàn bộ tài sản cho 1 người hoặc thậm chí là cho 1 người không phải là thành viên gia đình thì những thành viên trong gia đình sẽ không được hưởng chút tài sản nào. Vì lí do đó mà pháp luật đã hạn chế quyền định đoạt của gia chủ ( người lập di chúc ).
Sự phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội cho thấy những yêu cầu mang tính hình thức đối với người lập di chúc vẫn không bảo vệ được những quyền lợi hợp pháp của những người được hưởng thừa kế theo pháp luật. Vì vật, thông qua các hoạt động giải quyết tranh chấp thừa kế tòa quyết định các lập phần tài sản bắt buộc từ  tài sản thừa kế cho những cá nhân mà trong di chúc không thể hiện đầy đủ. Nếu người lập di chúc ko thực hiện việc chỉ định người thân thích được hưởng phần di sản của mìnhhoặc cho họ được hưởng 1 phần tối thiểu thì những người được hưởng phần tài sản thừa kế bắt buộc sẽ có quyền kiện để yêu cần quan tòa cho họ 1 kỷ phần bắt buộc.
Những người được hưởng phần tài sản bắt buộc nói trên ngày càng được quy định theo hướng mở rộng nhiều hơn: ngoài con cái do mình sinh ra- sui herders còn có con nuôi, anh, chị, em nội ngoại, trừ những kẻ bất hảo có ghi trong di chúc (personaturpis)
Tóm lại: Kỷ phần bắt buộc là phần di sản tối thiểu mà người thừa kế đưuọc hưởng trong trường hợp người để lại thừa kế không cho hưởng di sản hoặc cho hưởng ít hơn so với với phần di sản tối thiểu mà họ được hưởng. Vì vậy trong trường hợp này, người thừa kế bắt buộc sẽ có quyền khởi kiện yêu cầu quan tòa cho hưởng một kỷ phần bắt buộc hoặc yêu cầu được bổ sung phần tài sản hợp pháp để đủ kỷ phần bắt buộc

3. Chế định  kỷ phần bắt buộc trong từng thời kỳ

Thời kỳ đầu: kỷ phần bắt buộc bằng ¼ một suất thừa kế nếu chia theo luật.
Ví dụ: A có 2 con là B và C, có tổng tài sản là 100 aosơ, A để di chúc cho B toàn bộ tài sản và truất quyền thừa kế của C. Như vậy nếu A chết thì tài sản của A sẽ được chia như sau:
Một suất thừa kế theo luật là 100 : 2 = 50 aosơ
C sẽ được hưởng ¼ của 100 aosơ = 12.5 aosơ và B được hưởng phần còn lại
Dưới thời Justinian: Việc phân chia kỷ phần bắt buộc đưa quy định rất chi tiết với nguyên tắc sau:
Nếu 1 suất thừa kế chia theo pháp luật mà lớn hơn ¼ di sản thì kỉ phần bắt buộc mà người đó được hưởng sẽ bằng 1/3 của 1 suất thừa kế mà lẽ ra họ được hưởng.
Nếu 1 suất thừa kế theo pháp luật nhỏ hơn hoặc bằng ¼ di sản thì người đó sẽ được hưởng kỷ phần bắt buộc bằng ½ của 1 suất thừa kế 
Ví dụ 1: A có 3 người con là B, C ,D. A để lại di chúc cho B toàn bộ 900 aosơ, C và D bị truất quyền thừa kế. Nếu A chết, tài sản sẽ được chia như sau:
Một suất thừa kế theo pháp luật 900 : 3 = 300 aosơ là lớn hơn ¼ di sản  do đó C và D mỗi người được hưởng 1/3 suất thừa kế là 300 : 3 = 100 aosơ
Ví dụ 2: A có 6 người con là B, C, D, E, G, H. A di chúc cho B toàn bộ 900 aosơ, những người còn lại đều bị truất quyền thừa kế, như vậy tài sản của A sẽ đưuọc chia như sau :
Một suất thừa kế là 900 : 6 = 150 aosơ nhỏ hơn ¼ tài sản thừa kế do đó kỷ phần bắt buộc = ½ 1 suất thừa kế và bằng ½ của 150 aosơ= 75 aosơ
Một nguyên tắc quan trọng khác của Luật La Mã là không được tiến hành chia di sản vừa theo di chúc vừa theo pháp luật. Nghĩa là nếu có di chúc thì chỉ được chia theo di chúc, người được hưởng kỷ phần bắt buộc không được hiểu là chia thừa kế theo pháp luật.
Ngoài ra, thời kỳ này cũng có quy định những lý do chính đáng dẫn đến việc người lập di chúc không để lại tài sản bắt buộc cho ai đó nếu người đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người lập di chúc hoặc con gái dưới 25 tuổi lấy chồng không có sư đồng ý của cha mẹ.

4. Quy định về kỷ phần thừa thế trong Luật Dân sự 2015

“Kỷ phần thừa kế bắt buộc”  không phải khái niệm được quy định rõ trong luật tuy nhiên theo ngôn ngữ phổ thông của dân luật thì phần 2/3 của một suất thừa kế sẽ được gọi như vậy. Tuy nhiên việc tính 2/3 suất gặp không ít khó khăn do quy định của luật có nhiều cách hiểu đối với cách chưa thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc
– Cách 1: cho rằng tổng suất thừa kế bao gồm toàn bộ những người hưởng thừa kế theo pháp luật
– Cách 2: cho rằng tổng suất thừa kế trừ các trường hợp từ chối nhận di sản hoặc không có quyền thừa kế theo điều 621 Bộ luật dân sự 2015.

4.1. Di chúc để lại hợp pháp

Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”
Như vậy, trong trường hợp người chồng không từ chối nhận di sản hoặc khôngthuộc trường hợp những người không có quyền hưởng di sản thừa kế (Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015) thì sẽ được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc và sẽ được hưởng 1 phần di sản bằng 2/3 của một suất thừa kế nếu di sản thừa kế được chia theo pháp luật
Những người thừa kế này sẽ được hưởng 2/3 của một suất nếu di sản được chia theo pháp luật (Đây còn gọi là kỷ phần thừa kế bắt buộc). Tuy nhiên, để hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc cần đáp ứng những điều kiện:
– Thuộc hàng thừa kế thứ nhất là con chưa thành niên, đã thành niên mà không có khả năng lao động, cha, mẹ, vợ, chồng.
– Người lập di chúc không cho họ hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 của một suất nếu di sản được chia theo pháp luật.
– Không thuộc trường hợp từ chối nhận di sản theo quy định tại điều 620 Bộ luật dân sự
– Không thuộc trường hợp những người không có quyền hưởng di sản (điều 621 Bộ luật dân sự): Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
.
 

4.2. Di chúc để lại không hợp pháp

Di chúc để lại không hợp pháp thì di sản chia theo quy định của pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê