Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

 Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006 

2. Luật sư tư vấn:

Người lao động thỏa thuận với doanh nghiệp dịch vụ về việc ký quỹ theo quy định pháp luật để bảo đảm việc thực hiện Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tiền kí quỹ được pháp luật quy định nhằm đảm bảo người lao động thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

Điều 23 Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006 quy định:

>> Xem thêm:  Thủ tục bảo lãnh vợ sang Úc thực hiện thế nào ? Thủ tục bảo lãnh sang Mỹ làm việc ?

Người lao động trực tiếp hoặc thông qua doanh nghiệp dịch vụ nộp tiền ký quỹ vào tài khoản riêng được doanh nghiệp mở tại ngân hàng thương mại để giữ tiền ký quỹ của người lao động.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định cụ thể thị trường lao động mà doanh nghiệp dịch vụ được thoả thuận với người lao động về việc nộp tiền ký quỹ; quy định thống nhất trong phạm vi cả nước mức trần tiền ký quỹ của người lao động phù hợp với từng thị trường lao động mà doanh nghiệp dịch vụ được thoả thuận với người lao động về việc nộp tiền ký quỹ; chủ trì phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của người lao động.

Tiền ký quỹ của người lao động được hoàn trả cả gốc và lãi cho người lao động khi thanh lý Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Trường hợp người lao động vi phạm Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tiền ký quỹ của người lao động được doanh nghiệp dịch vụ sử dụng để bù đắp thiệt hại phát sinh do lỗi của người lao động gây ra cho doanh nghiệp; khi sử dụng tiền ký quỹ để bù đắp thiệt hại, nếu tiền ký quỹ không đủ thì người lao động phải nộp bổ sung, nếu còn thừa thì phải trả lại cho người lao động.

Tuy nhiên, Thông tư số 21/2013/TT-BLĐTBXH quy định NLĐ và doanh nghiệp dịch vụ thỏa thuận về việc ký quỹ theo ngành, nghề, nước tiếp nhận lao động với mức tiền ký quỹ không quá mức trần tiền ký quỹ quy định tại thông tư này. Phụ lục 01 thông tư này quy định rõ mức trần tiền ký quỹ là từ 300USD- 3000USD – mức cao nhất đối với thực tập sinh đi Nhật Bản và thuyền viên tàu cá Hàn Quốc, mức 1500USD đối với thuyền viên tàu cá tại Nhật Bản. Như vậy việc công ty A thỏa thuận ký quỹ với anh 10000USD là đúng quy định của pháp luật khi anh không phải là thực tập sinh, nhưng sẽ trái quy định pháp luật khi anh sang Nhật Bản để làm việc trên tàu cá xa bờ.

Vì vậy trong trường hợp này công ty A yêu cầu anh thực hiện việc ký quỹ là đúng và hợp pháp. Nhưng với việc ký quỹ số tiền 10000USD đúng quy định tùy vào công việc mà anh thực hiện.

Ngoài việc ký quỹ, công ty A có thể áp dụng thêm biện pháp bảo lãnh để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng. Giới thiệu người bảo lãnh theo thoả thuận với doanh nghiệp dịch vụ để bảo đảm thực hiện Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài là việc người thứ ba (sau đây gọi là người bảo lãnh) cam kết với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho người lao động trong trường hợp người lao động không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Việc bảo lãnh được thực hiện trong các trường hợp sau đây: Người lao động đi làm việc theo Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp dịch vụ không ký quỹ hoặc không đủ tiền ký quỹ theo quy định tại Điều 23 của Luật này. Pháp luật cũng quy định, bên bảo lãnh phải có đủ các điều kiện về chủ thể và điều kiện về kinh tế để đảm bảo thực hiện việc bảo lãnh đối với người lao động không kí quỹ hoặc người lao động không đủ tiền kí quỹ. Tuy nhiên, biện pháp bảo lãnh cũng có mối quan hệ với các biện pháp khác. Khi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh, pháp luật quy định người bảo lãnh thoả thuận với doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp về việc áp dụng các biện pháp cầm cố, thế chấp hoặc kí quỹ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh này có thể được lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng bảo lãnh.

Trong trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và gây thiệt hại cho doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp mà người lao động không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thì người bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để bù đắp thiệt hại phát sinh do người lao động gây ra cho doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp. Việc bảo lãnh có thể trong phạm vi một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ của người lao động đối với doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp.

Tuy pháp luật đã có những quy định về điều kiện của người bảo lãnh, thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài nhưng trên thực tế việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Điều kiện bảo lãnh sang Pháp hiện nay. ? Điều kiện được bảo lãnh sang Nhật là gì ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Một vài vấn đề liên quan đến bảo lãnh và lãi suất ngân hàng ? Giới hạn cho vay, bảo lãnh hiện nay ?