Dẫn đề: Về cấu trúc, tức là về mặt hình thức, nếu tổng kết có bao nhiêu điểm mới và khác khi đối chiếu hệ thống Dự thảo Phần chung Bộ luật Hình sự tương lai với hệ thống Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 thì cho thấy, có tổng cộng 45 điểm mới và khác đối với kỹ thuật lập pháp về hình thức. Những thay đổi trong việc xây dựng tiêu đề và thứ tự cấu trúc của các chương, mục và điều trong văn bản lập pháp hình sự đầu - Dự thảo Phần chung Bộ luật Hình sự tương lai tương ứng theo 09 chế định lớn của pháp luật hình sự (mà trong văn bản lập pháp hình sự sau - Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 không có).

1. Mười hai điểm mới về kỹ thuật lập pháp trong chế định đạo luật hình sự mới

Tiêu đề Chương I “Về đạo luật hình sự”. Tên gọi của Chương này đã chỉ rõ nội hàm các điều tương ứng thuộc chế định này. Tên gọi Điều 1, tên gọi Mục 1 “Nguồn và nhiệm vụ của pháp luật hình sự Việt Nam” và tên gọi Điều 2 thuộc Mục này của Bộ luật hình sự.

Tên gọi Mục 2 “Các nguyên tắc của pháp luật hình sự Việt Nam” và bảy tên gọi tương ứng của 07 điều, đó là các điều từ Điều 6 đến Điều 12 thuộc Mục này của Bộ luật hình sự.

2. Chín điểm mới về kỹ thuật lập pháp trong chế định tội phạm

Bốn tên gọi tương ứng với 05 mục tại Chương II “Về tội phạm” là, đó là accs mục: Mục 4 “Khái niệm tội phạm và phân loại tội phạm”; Mục 6 “Lỗi hình sự”; Mục 7 “Các giai đoạn thực hiện tội phạm”; Mục 8 “Đồng phạm, che giấu và không tố giác tội phạm”.

Tên gọi Mục 5 “Đa (nhiều) tội phạm”; và bốn tên gọi của 04 điều (Điều 19 – Điều 22) thuộc Mục 5 Bộ luật hình sự.

3. Chín điểm mới về kỹ thuật lập pháp trong chế định trách nhiệm hình sự

Tên gọi đã chỉ rõ nội hàm các quy phạm của chế định lớn thứ tư tại Chương IV “Về trách nhiệm hình sự” (không có cơ cấu mục) và;

- Bảy tên gọi của 07 điều, đó là các điều từ Điều 52, Điều 55 đến Điều 60) thuộc Chương này của Bộ luật hình sự.

4. Ba điểm mới về kỹ thuật lập pháp trong việc xây dựng cơ cấu của chế định các biện pháp cưỡng chế hình sự

Đối với mục này, về kỹ thuật lập pháp trong việc xây dựng cơ cấu của chế định các biện pháp cưỡng chế hình sự, tên gọi đã chỉ rõ nội hàm các quy phạm thuộc chế định lớn thứ năm (gồm hai chế định nhỏ là Hình phạt và biện pháp tư pháp hình sự) tại Chương V “Về các biện pháp cưỡng chế hình sự” và hai tên gọi của Điều 61 và Điều 63 không thuộc mục nào trong Chương này.

5. Bảy điểm mới về kỹ thuật lập pháp trong chế định các biện pháp tha miễn

Tên gọi đã chỉ rõ nội hàm các điều khoản thuộc chế định lớn thứ bảy tại Chương VII “Về các biện pháp tha miễn”. Sáu tên gọi tương ứng của 06 mục thuộc Chương này là các mục sau:

+ Mục 13 “Không thi hành bản án do hết thời hiệu”;

+ Mục 14 “Miễn hình phạt”;

+ Mục 15 “Miễn chấp hành hình phạt”;

+ Mục 16 “Án treo và tha tù trước thời hạn”;

+ Mục 17 “Các biện pháp tha miễn về chấp hành hình phạt” (để thay cho việc liệt kê tên gọi rất dài tương ứng với tên gọi của 04 biện pháp tha miễn tại 04 điều 63, 64, 67, 68 Bộ luật Hình sự năm 2015) và Mục 19 “Đại xá và đặc xá”.

6. Ba điểm mới về kỹ thuật lập pháp trong chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội

Ba tên gọi tương ứng với ba mục thuộc Chương VIII, cụ thể là: Mục 21 “Biện pháp tư pháp hình sự riêng đối với người chưa thành niên phạm tội”; Mục 22 “Hình phạt riêng đối với người chưa thành niên phạm tội” và; Mục 23 “Quyết định hình phạt và các biện pháp tha miễn đối với người chưa thành niên phạm tội”.

7. Ba điểm mới về kỹ thuật lập pháp trong chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân phạm tội

Ba tên gọi của ba mục thuộc Chương IX này là: Mục 24 “Quy định chung về xử lý hình sự đối với pháp nhân phạm tội”; Mục 25 “Các biện pháp cưỡng chế riêng đối vối pháp nhân phạm tội” và; Mục 26 “Quyết định hình phạt và các biện pháp tha miễn riêng đối vối pháp nhân phạm tội”.

8. Điểm mới về kỹ thuật lập pháp trong cấu trúc

Đặc biệt, cũng cần lưu ý là trong số các điểm khác của kỹ thuật lập pháp về cơ cấu thì có 15 điều thuộc Chương VII “Về các biện pháp tha miễn” của Dự thảo Phần chung Bộ luật Hình sự tương lai vì tên gọi (tiêu đề) của các điều này có điểm khác là được xây dựng trên cơ sở tách ra từ các khoản của 07 điều (gồm hai Điều 29, Điều 62 thuộc Phần chung và 05 Điều 110, 247, 264, 265, 390 thuộc Phần riêng) Bộ luật Hình sự năm 2015 và chỉnh sửa lại không đáng kể (về nội hàm) sau đây:

- Mục 12 “Miễn trách nhiệm hình sự” (gồm 10 điều nhưng ở đây chỉ dẫn ra 08 điều 95- 102 Dự thảo này, trên cơ sở được tách ra từ các khoản của Điều 29 thuộc Phần chung và 05 điều 110, 247, 264, 265, 390 thuộc Phần riêng Bộ luật Hình sự năm 2015) là:

+ Điều 95, miễn trách nhiệm hình sự do có sự thay đổi chính sách, pháp luật (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất bắt buộc tại điểm a khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự nám 2015 được tách ra).

+ Điều 96, miễn trách nhiệm hình sự do có quyết định đại xá (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất bắt buộc tại điểm b khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 được tách ra).

+ Điều 97, miễn trách nhiệm hình sự do tại thời điểm truy cứu trách nhiệm hình sự có sự chuyển biến của tình hình (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tùy nghi tại điểm a khoản 2 Điểu 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 được tách ra).

+ Điều 98, miễn trách nhiệm hình sự do người phạm tội bị mắc bệnh hiểm nghèo (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tùy nghi tại điểm b khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 được tách ra).

+ Điều 99, miễn trách nhiệm hình sự do người phạm tội ăn năn, hối cải (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của vế thứ nhất ở trước từ “và” của trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tùy nghi tại điểm c khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 được tách ra).

+ Điều 100, miễn trách nhiệm hình sự do thuộc diện chính sách, cũng như lập công lốn hoặc có cống hiến đặc biệt được Nhà nước và xã hội thừa nhận (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của vế thứ hai ở sau từ “và” của trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tùy nghi tại điểm c khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 được tách ra).

+ Điều 101, miễn trách nhiệm hình sự do đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại tự nguyện hòa giải (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tùy nghi tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 ra).

+ Điều 102, miễn trách nhiệm hình sự do thuộc một trong năm trường hợp giảm nhẹ tại Phần riêng Bộ luật này (trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và chuyển lên Phần chung Dự thảo này năm trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tùy nghi tương ứng trong năm trường hợp phạm tội cụ thể được quy định tại Phần riêng lập pháp hình sự hiện hành là: khoản 4 Điều 110, khoản 4 Điều 247, Đoạn 2 khoản 7 Điều 364, khoản 6 Điểu 365 và; khoản 2 Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015).

- Mục 14, miễn hình phạt (gồm 03 điều 108 - 110 Dự thảo này) nhưng dưới đây chỉ dẫn ra Điều 109 là Điều tương ứng như Điều 102 về miễn trách nhiệm hình sự với tư cách biện pháp tha miễn có tính chất tùy nghi trong Dự thảo này vì cùng với Điều 102 cũng được xây dựng từ 05 khoản tại 05 điều 110, 247, 364, 365 và 290 của Bộ luật Hình sự năm 2015):

+ Điều 109. Miễn hình phạt do thuộc một trong năm trường hợp giảm nhẹ nhất định đối với một số tội phạm tại Phần riêng Bộ luật này nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự (mới).

- Mục 15, miễn chấp hành hình phạt (gồm 06 điều 112-117 Dự thảo này được xây dựng trên cơ sở tách ra từ các khoản của Điều 62 thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 vì Dự thảo chỉ đặt tên gọi mới còn nói chung vẫn giữ nguyên nội hàm của chúng):

+ Điều 112, miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của khoản 1 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015).

+ Điều 113, miễn chấp hành hình phạt trong các trường hợp đặc biệt (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của khoản 2 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015).

+ Điều 114, miễn chấp hành hình phạt do lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015).

+ Điều 115, miễn chấp hành hình phạt do đã tạm đình chỉ chấp hành hình phạt (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của khoản 4 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015).

+ Điều 116, miễn chấp hành hình phạt tiền do bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của khoản 5 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015).

+ Điều 117, miễn chấp hành hình phạt cho người bị kết án cải tạo tốt (chỉ đặt tên gọi mới vì về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm của khoản 6 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn)