Mà mang đi thế chấp tư nhân, nói lý do ngân hàng đang làm thủ tục, rồi lại mang đi nơi khác thế chấp với số tiền là 130.000 000 đ (một trăm ba mươi triệu đồng) lãi suất 0,5% / 1 tháng, kể từ đó đến nay họ không thanh toán tiền lãi và gốc cho bên kia để chuộc lại Sổ đỏ của tôi. Tôi đến nhà họ đòi rất nhiều lần họ hứa hết năm này sang năm khác cho đến nay, trước đây tôi có báo lên CA khu phố mà không giải quyết. Hiện nay người đó chuyển nhà đi nơi khác, tôi không biết ở đâu, mà chỉ liên hệ hứa hẹn qua điện thoại. Xin luật sư tư vấn giờ tôi phải làm đơn thưa cấp nào? Xin chân thành cảm ơn. 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Làm đơn thưa cấp nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.1975

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty của chúng tôi. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự năm 2009

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 

Nội dung phân tích:

Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 2009 quy định : 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Trong trường hợp của bạn, bạn đã thỏa thuận với người quen của bạn là bạn sẽ ủy quyền cho người đó thế chấp giúp bạn quyền sử dụng đất. Người đó có hứa là sẽ lo giấy tờ thế chấp tại ngân hàng nhưng không thực hiện mà mang đi thế chấp tư nhân, nói lý do ngân hàng đang làm thủ tục, rồi lại mang đi nơi khác thế chấp với số tiền là 130.000 000 đ (một trăm ba mươi triệu đồng) lãi xuất 0,5% / 1 tháng. Đây là hành vi lừa dối bạn nhằm bạn tin tưởng và ủy quyền cho anh ta thế chấp quyền sử dụng đất . Đồng thời người này còn có hành vi  không thanh toán tiền lãi và gốc cho bên kia để chuộc lại Sổ đỏ của bạn và chuyển nhà đi nơi khác khiến bạn không biết ở đâu, mà chỉ liên hệ hứa hẹn qua điện thoại nhằm chiếm đoạt tài sản của bạn. Có thể xác định người đó thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 2009 .

Căn cứ theo Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
" Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."
Như vậy, bạn có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát, Tòa án hoặc các cơ quan tổ chức khác.

 Căn cứ vào điều 4 Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn thi hành một số quyết định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự

"Cơ quan có thẩm quyền chỉ được ra quyết định truy nã khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có đủ căn cứ xác định đối tượng quy định tại Điều 2 của Thông tư này đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả;

b) Đã xác định chính xác lý lịch, các đặc điểm để nhận dạng đối tượng bỏ trốn.

2. Khi có đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu mà trước đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà không bắt được thì Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định truy nã; trường hợp chưa có lệnh bắt bị can; bị cáo để tạm giam thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra ngay quyết định truy nã."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty chúng tôi. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài 1900.1975 để được tư vấn

TRÂN TRỌNG./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ