1. Làm giả bảng lương để vay vốn ngân hàng có bị sao không ?

Thưa luật sư, tôi có định vay tín chấp của một ngân hàng thông qua lương, qua sự gợi ý của người tư vấn thì mức lương của tôi hơi thấp nên tôi buộc phải khai mức lương cao hơn thì tôi mới được vay vốn. Vậy tôi làm giả giấy tờ để vay tiền thì có vướng phải vấn đề pháp lý gì không ?
Xin cảm ơn luật sư !

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về làm giả bảng lương, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp của bạn, theo lời khuyên của chúng tôi bạn không nên giả mạo giấy tờ chứng minh thu nhập để vay vốn ngân hàng, theo quy định của bộ luật hình sự hiện hành, hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khac sẽ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản , tùy theo số tiền bạn chiếm đoạt được mà bạn sẽ phải chịu trách nhiệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;....

Việc sau khi vay được bạn trả nợ đúng hạn... chỉ là căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phải là căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự.

>> Xem thêm:  Vận chuyển tiền trái phép phạt bao nhiêu năm tù ? Xử lý khi chuyển tiền mà không nhận được hàng ?

2. Lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của người đi vay thông qua đáo hạn ngân hàng?

Thưa Luật sư! Em có một số vấn đề xin được luật sư tư vấn.. Xin luật sư cho em chút thời gian vì em đang trong tình cảnh khó khăn quá.Em cám ơn luật sư nội dung sự việc như sau Tháng 7/2015 Bà T có đáo hạn sổ vay ở ngân hàng với số tiền 450tr. Sổ thế chấp đứng tên của bà P T T, và bà T đứng ra vậy bà B 450tr để đáo sổ.
Giữa bà B và bà T có ký nhận với nhau 1 tờ giấy nhận nợ với nội dung “Bà T có vậy bà B số tiền 450tr được thế chấp bằng sổ hộ khẩu và chứng minh nhân dân của bà T để đáo hạn ngân hàng”. Sau khi ký nhận xong và thế chấp giấy tờ bà B đã mang số tiền 450tr ra ngân hàng đáo hạn cho bà T chứ không đưa tiền trực tiếp cho bà T. Ngân hàng đáo hạn xong cho bà T vay lại số tiền trên bà T đã trả lại cho bà B số tiền 450tr tại ngân hàng nhưng không có giấy tay ký nhận đã trả lại 450tr (chỉ có tờ giấy tính lãi 2 bên việt với nhau số tiền còn lại không có ký nhận ).
Sau đó bà T đã nhận lại giấy tờ thế chấp là sổ hộ khẩu và CMND của bà B nhưng quên không lấy lại giấy nhận nợ vì nghĩ hàng xóm cũng không qua đòi. Tới thời điểm này bà B làm đơn kiện bà T về khoản nợ 450tr trên với lý do bà T chưa trả nợ cho bà B và bà B vẫn còn giấy nhận nợ trong tay. Vậy trong trường hợp này em muốn xin lời khuyên từ luật sư. Nếu nhận được đơn kiện của bà B em phải làm sao..em làm đơn kiện lại bà B với tội danh lợi dụng tín nhiệm lừa đảo được không, hay em phải làm sao mong luật sư tư vấn và cho em cách giải quyết với ?
Em rất mong sự hồi âm của Luật sư và chân thành cảm ơn luật sư.

Lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của người đi vay thông qua đáo hạn ngân hàng?

Luật sư tư vấn hành vi lừa trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hành động của bà B chính là hành vi lợi dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản, Việc lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Qua đó dấu hiệu của hành vi này có những điểm cơ bản như:

- Về khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

- Về khách quan của tội phạm:

Việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ một hợp đồng hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản.

Sau khi đã nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý; về thủ gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như đối với thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Trong trường hợp này, T vay của B 450tr ; khi vay B có viết giấy nợ cho B, nhưng sau đó B không đưa giấy nợ sau khi T đã trả nợ đầy đủ cho B.

- Hậu quả:

Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Theo khoản 1 của điều luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 1.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 1.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm mới cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Do đặc điểm của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là người phạm tội chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý, do đó nói chung không có trường hợp phạm tội chưa đạt, vì nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản thì cũng có nghĩa là chưa có hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối, nhưng thủ đoạn đó không lừa được chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nên không chiếm đoạt được tài sản đang do mình quản lý thì mới coi trường hợp phạm tội này là ở giai đoạn phạm tội chưa đạt ( đã dùng thủ đoạn gian dối nhưng vì những lý do khách quan nên người phạm tội không thực hiện được thủ đoạn đó).

Nếu người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản có trị dưới 1.000.000 đồng, nhưng chưa chiếm đoạt được thì chưa cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, vì dù có chiếm đoạt được cũng chưa cấu thành tội phạm huống hồ chưa chiếm đoạt được. Tuy nhiên, trong trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 1.000.000 và chưa chiếm đoạt được nhưng lại thuộc trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt chưa được xoá án tích thì hành vi này đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nhưng về đường lối xử lý, tuỳ từng trường hợp cụ mà quyết định việc có truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội hay không. Theo chúng tôi chỉ nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã bị xử phạt hành chính nhiều lần về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án nhiều lần về tội chiếm đoạt hoặc họ là phần tử nguy hiểm, là đối tượng có nhiều tiền án, tiền sự, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.

Trong trường hợp trên đã cấu thành tội phạm với số tiền muốn chiếm đoạt là 450tr khi lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản.

- Các dấu hiệu về mặt chủ quan:

Cũng như đối với tội có tính chất chiếm đoạt, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện do cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp của bà B thuộc khoản 3 điều 175 Bộ Luật hình sự, theo đó bà B sẽ bị xử phạt với mức phạt tù từ 5 năm đến 12 năm tù

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cầm cố sổ đỏ để vay tiền có được không ? Sổ đỏ có thể là tài sản cầm cố không ?

3. Khất nợ không trả tiền vay có bị khởi tố hình sự theo quy định của luật mới ?

Thưa Luật sư, tôi có ký một hợp đồng cho anh A vay tiền, vay với số tiền là 20 triệu đồng, hợp đồng được công chứng hợp pháp, nay đã quá hạn sáu tháng rồi mà anh A vẫn không trả lại tiền cho tôi, anh A cứ khất ngày này qua ngày khác mặc dù có điều kiện có nhà tầng có xe ô tô có kinh tế ổn định lương tháng đầy đủ mà anh A không trả lại cho tôi.
Vậy Luật sư cho tôi hỏi tôi có thể báo lên cơ quan công an điều tra về vấn đề này có được hay không ? nếu tôi báo lên công an thì anh A này bị tội gì ? và Luật sư có thể cung cấp cho tôi mẫu đơn trình báo công an được không?
Mong Luật sư tư vấn cho tôi. Cám ơn Luật sư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Thứ nhất là hành vi cấu thành tội hình sự:

Như bạn có trình bày thì anh A là người bạn đã cho vay tiền số tiền là 20 triệu đồng , và bạn có hợp đồng vay đã được công chứng, và đã quá hạn sáu tháng rồi mà vẫn không trả cho bạn, anh A thường khất nợ hôm nay hôm khác nhưng mãi không trả cho bạn mặc dù hiện trạng tại thời điểm này có tài sản nhưng không trả lại tài sản cho anh, và bạn muốn trình báo lên cơ quan công an điều tra về hành vi này.

Có thể nói hành vi của anh A đã đủ điều kiện cấu thành lên tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cụ thể nó chạm vào Điểm a Khoản 1 Điều 175 Bộ Luật hình sự 2015 có quy định như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

- Thứ hai là mẫu đơn trình báo

Luật Minh Khuê tư vấn cho quý khách hàng về mẫu đơn trình báo công an như sau:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

ĐƠN XIN TRÌNH BÁO

Kính gửi: CÔNG AN QUẬN ……………………………………….

Tôi tên là :……………………………………………………….........................

CMND số : …………………………………………………….….......................

ĐKHKTT : ………………………………………………………........................

Chỗ ở hiện tại : ...................................................................................................

Tôi làm đơn này xin trình báo với quý cơ quan việc như sau:

Thứ nhất:

Vào ngày ……………………………………………………

…………………………………………………………………

…………………………………………………………………

Tiếp theo,

…………………………………………………………………

…………………………………………………………………

Thứ hai:

Ngày …/…./…..

…………………………………………………………………

…………………………………………………………………

Thấy có nhiều dấu hiệu bất thường nên

………………………………………………..………………

………………………………………………………………

Như vậy, hành động của……… chứng tỏ anh A đã ......

Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tôi ……….., ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến quyền tài sản của công dân

……………..……………………………………………………

……………………………………….…………………………

Nay tôi đề nghị Qúy cơ quan xem xét các vấn đề sau đây:

……………………………………………………………………

……………………………………………………………………

Xin chân thành cảm ơn.

Tài liệu kèm theo:

Hà Nội, ngày …. tháng ….. năm……

Người làm đơn

>> Xem thêm:  Đất chuyên dùng ? Đất chuyên dùng có được cầm cố, thế chấp hay không ?

4. Vay tính chấp ngân hàng có bị phạm tội hình sự không ?

Chào luật sư công ty luật Minh Khuê. Tôi có vay bank vp bank từ 2012, mua 1 chiếc xe tôi có trả trước số tiền 10 triệu và vay ngân hàng 22 triệu, một tháng trả 1 triệu 6 , lãi suất tại thời điểm đó 5,6% 1 tháng , tôi đóng được khoảng gần 10 triệu.
Tại thời điểm tôi mua xe kinh doanh ổn định, tôi mua xe đó cho ba tôi, nhưng đến thời điểm thang 7 năm 2012 mẹ tôi qua đời việc làm ăn kinh tế khó khăn, ba tôi lại tiến thêm bước nữa. Sau đó ba tôi vay nhà ngân hàng làm ăn và cũng bị bạn bè hại và thiếu tiền ngân hàng, ba tôi đã bán chiếc xe và giải quyết nợ. Tôi bỏ đi nơi khác sinh sống nhưng hộ khẩu vẫn còn, sau đó tôi đã không đủ khả năng đóng tiền nữa, trước đó tôi đã gặp ngân hàng xin giải quyết mỗi tháng trả nhưng ngân hàng bắt tôi 1 tháng phải trả trên 3 triệu. Tôi không đủ khả năng năng hàng tháng phải trả số tiền như vậy. Gia cảnh tôi còn 2 con nhỏ rất nhiều chi phí tôi không kham nổi, giờ phải ở trọ.
Ngân hàng gọi liên tục bảo không trả sẽ thưa tôi về tội chiếm đoạt tài sản và truy nã tôi. Vậy xin hỏi là tôi có bị gì không ? Nhưng số tiền lên tới gần 80 triệu, trong khi tôi vay có 22 triệu ?
Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn.
Vay tính chấp ngân hàng có bị phạm tội hình sự không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước tiên bạn cần hiểu rõ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản ... Căn cứ Khoản 1, Điều 174 và Khoản 1, Điều 175 - Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau :

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy thông qua những thông tin bạn cung cấp thì hành vi vay tiền của bạn chỉ nhằm mục đích mua xe với hình thức trả góp. Tuy nhiên, sau đó do hoàn cảnh kinh doanh của bạn không thuận lợi nên bạn không đủ khả năng trả số tiền do ngân hàng yêu cầu tức bạn không hề cố ý chiếm đoạt chiếc xe. Mặc dù bạn đã sinh sống ở nơi khác nhưng bạn cũng nói bạn vẫn còn hộ khẩu chứng tỏ bạn không có ý định bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản. Hơn nữa bạn vẫn mong muốn thỏa thuận với ngân hàng cho bạn trả tiền theo tháng nhưng do số tiền phải trả quá cao so với mức thu nhập của bạn nên bạn không trả được. Như vậy cũng không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trường hợp của bạn thì bạn nên tiếp túc thỏa thuận với ngân hàng về thời gian và số tiền trả nợ hàng tháng để được giải quyết.

>> Xem thêm:  Rủi ro khi nhờ người đứng tên vay trả góp mua nhà và đứng tên nhà hộ là gì ?

5. Vay tiền ngân hàng không trả có phạm tội hay không ?

Thưa luật sư, Tôi có vay một khoản tiền của ngân hàng nhưng vì nhiều lý do tôi mất khả năng trả nợ, ngân hàng đòi kiện (ra tòa hoặc cơ quan công an). Tôi rất lo sợ - Xin hỏi luật sư tôi có phạm tội gì không ? mức phạt thế nào ?
Xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác....
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Bộ luật dân sự 2015 có quy định hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Theo đó, bên vay phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay.

Như thông tin bạn cung cấp, bạn vay ngân hàng với số tiền 40 triệu đồng. Hiện nay bạn không có khả năng chi trả.

Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự gồm các yếu tố sau:

- Hành vi: bao gồm các giai đoạn:

+) Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc hợp đồng khác

+) Sau khi có được tài sản, người phạm tội không thực hiện như cam kết trong hợp đồng, sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.

- Hậu quả: người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản, hoặc đã bỏ trốn, hoặc không còn khả năng trả lại tài sản.

Trong trường hợp này, bạn không nêu rõ nguyên nhân nào dẫn đến việc bạn không có khả năng trả nợ ngân hàng nên chưa thể xác định bạn có đủ cấu thành để truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Nếu bạn sử dụng số tiền vay vào mục đích bất hợp pháp như chơi cờ bạc, lô đề hoặc có dấu hiệu bỏ trốn nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định trên.

Nếu bạn không có các hành vi trên thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, lúc này ngân hàng có quyền khởi kiện bạn tới Tòa án để yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nếu ngân hàng không đồng ý cho bạn thời hạn trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu Tòa án xác minh tài sản thuộc quyền sở hữu của bạn sau đó bán đấu giá thu hồi nợ cho ngân hàng.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Vay tiền trả góp bị quá hạn thanh toán thì phải chịu trách nhiệm gì ?