NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Lịch sử của sáng chế và sở hữu trí tuệ

Sẽ có ít ngưòi không nhất trí rằng khoa học, công nghệ và nghệ thuật sáng tạo ngày nay định dạng cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Những bưóc tiến lớn trong công nghệ thời xa xưa đã đưa loài người thoát ra khỏi hình thái xã hội phong kiến tại Bàng phía dưới. Trong khoảng 100 năm gẩn đây, khả năng dẫn dát của công nghệ đã trở thành một yếu tố quyết định tạo ra sự thịnh vượng và đã cung cấp nguồn năng lượng cho sự phát triển của các dân tộc.

BẢNG VỀ NHỮNG SÁNG CHẾ LỚN ĐÃ LÀM THAY ĐỔI TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA NHÂN LOẠI

Jonhannes Gutenberg

Đức

Máy in

Vào khoảng 1440, Gutenberg phát triền con chữ rời đầu tiên. Nhửng miếng kim loại được chế tạo riêng cho từng chữ cái có thể sử dụng nhiều lần để in ấn các bàn sao của nhiều cuốn sách.

Conrad Gesner

Thụy Sỹ

Bút chì

Vào khoảng 1560, Gesner nghĩ ra ý tưởng bọc một mẩu than bằng gỗ làm dụng cụ viết ( lấy từ tiếng Hy Lạp graphein có nghĩa là viết)

Maharaja Jai Singh

Ấn Độ

Dụng cụ thiên văn

Năm 1728, Jai-sigh một học già (ông đã đọc các tác phẩm cua các nhà thiên vãn Ptolemy, Euclid và Persian qũng như các nhà toán học Ả-rạp) đã xây dựng 5 đài quán sát thiên van ở Delhi, Jaipur, Varanasi, Ujjain và Mathura. Các dụng cụ thiên văn ở các đài quart sat vẫn còn đang hoạt động này đo đạc chính xác thối gian và vị trí của mặt trời và các vì sao.

Samuel Morse

Hoa Kỳ

Mã điện tín

Morse Morse đã phát triền ra điện tín cũng như chữ cái điện tử. Năm 1840 Ong đã nộp đơn yêu cáu cấp bàng độc quyền cho sáng chế của minh

Alfred Nobel

Thụy Điển

Thuốc nổ

Năm 1863 Nobel đã phát triền sáng chế quan trọng đáu tiên của mình, Thuốc nổ, cho phép làm nó nitroglyce rin bàng va chạm mạnh

Alexander G.Bell

Vương quốc Anh

Điện thoại

Năm 1876 Bell nhận quyền sáng chế cho phương pháp và thiết bị truyền tiếng nói và âm thanh khác dưới hình thức điện tín bằng cách gây song điện.

Guglielmo Marconi

Italia

Radio

Sáng chế bao gồm một cơ cấu làm cho Marconi sóng điện từ lan truyền trong không khí trong khi vẫn giữ được đặc trưng của nó. Năm 1886 Marconi đã nộp đơn yêu cầu cấp bàng độc quyền cho sáng chế của mình.

Orville và

Wilbur Wright

Hoa Kỳ

Máy bay

Năm 1903 anh em nhà Wright Kitty Wilbur Wright đã sáng chế ra máy bay đầu tiên của họ tại Hawk, Bác Carolina.

Vladimir K.

Zworykin

Liên bang Nga

Truyền hlnh điện tử

Nãm 1929 Zworykin đẫ sáng chế ra Zworykin điện tử ống tia ca-tốt cần thiết cho truyền hình.

Ladislao

Biro

Ác-hen-ti-na/ Hungary

Bút bi

Năm 1938 Biro nhận được bàng độc quyền sáng chế cho cây bút có một hòn bi nhỏ à đáu. Khi bút chuyển động trên giấy, hòn bi xoay chuyển lấy mực từ bầu đựng và đề mực lại trên giấy.

Konrad

Zuse

Đức

Máy tính có thể lập trình

Zuse được coi là nhà sáng chế của một máy có thể lập trình tính hiện đại (điện cơ nhị phân), nhờ mô hình Z1 của ông hoàn thành vào năm 1941.

Gertrude Elion

Hoa Kỳ

Dược phẩm hệ thống miễn dịch Ung thư và AIDs

Gertrude Elion,con gái cùa gia đinh nhập cư hẹ thống ngươi Lituniá và Ba-Lan la nhá hoá học đã miễn dịch nghiên cứu hệ thống miễn dịch ở người và chổng ung tròng công trình cùa mình tại Glaxo-Wellcome năm 1956 đã phát triển dược_phầm "mục_đích riêng" để phong toa tế bào ung_thư. Năm 1998 Côjihận Giải thưởng Nobel về hóá học.

James Russell

Hoa Kỳ

Đĩa Compact

Nam 1965 Rusell đã phát triển một hệ thống ghi, lưu trữ và phát lại âm nhạc sờ dụng ánh sáng (va công nghẹ la-de) thay vì tiếp xúc. Ruséell đã nhận 22 bàng độc quyền sáng chế cho hệ thong của mình.

Từ những nghi lễ xưa nhất, qua buổi đầu của nghệ thuật âm nhạc và múa, tục mai táng, tranh vẽ trên hang động, từ ngữ viết và trình diễn sân khấu đến sử dụng công nghệ hiện đại, chàng hạn như đĩa hát, phim nhựa, phát sóng không dây, phần mềm và ghi kỹ thuật số, loài người đã tự nhận biết và khàng định bản thân mình thông qua hoạt động sáng tạo và thể hiện văn hoá dưói hình thức những sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật. Phần nhiều những sáng tạo này vẫn còn tồn tại và phát triển mạnh cho đến ngày nay dưới hình thức văn nghệ dân gian hoặc hình thức tri thức truyền thống khác. Âm nhạc, phim ảnh, sách, nghệ thuật và những hình thức sáng tạo hoặc thể hiện khác cùa thời đại ngày nay là biểu thị của sự tiến bộ xã hội và chất lượng cuộc sống. Là tài sản cá nhân của những người sáng tạo ban đầu, các đối tượng đó được xã hội tôn vinh vì nhiều lý do (bao gồm vai trò kinh tế, chính trị và văn hoá của chúng), nhưng giá trị đặc biệt của chúng là chúng thể hiện sự tồn tại của các di sản do nỗ lực con người để lại.

Sở hữu trí tuệ là một khái niệm đã lâu đòi. Luật Venice nãm 1474 thường được nhắc đến như là sự tiếp cận có tính hệ thống đầu tiên đối vói bào hộ sáng chế dưới một hình thức của bàng độc quyền sáng chế, bởi vì đây là lần đẩu tiên luật này đã quy định một loại độc quyền của một cá nhân mà độc quyền này hạn chế lợi ích của công chúng. Vào thê' kỷ 16, dưới triều đại Tudor, nước Anh đã có một hệ thống bàng độc quyền sáng chế, Đạo luật về Đạc quyền năm 1642 là luật thành văn đầu tiên đã quy định việc cấp một đặc quyền cho sáng chế trong một khoảng thời gian có giới hạn. Nửa sau của thế kỷ 18 là thòi hoàng kim của thương mại và công nghiệp đối với nhiều nưóc và cũng là thời của sáng tạo nghệ thuật, đổi mới khoa học và cách mạng chính trị. Chính trong Thòi Khai sáng này, một số nước đã thiết lập hệ thống bàng độc quyền sáng chế đầu tiên của họ. Ví dụ, luật về bàng độc quyền sáng chế đau tiên của Pháp, quy định về bảo hộ quyền cùa người sáng chế, đã được ban hành năm 1791, sau Cách mạng Pháp và Tuyên ngôn vể Quyền con người và quyền công dân. Ờ Hoa Kỳ, nãm 1788 Hiến pháp đã quy định rõ về bằng đọc quyền sáng chế và sự bào hộ đối với sáng chế thong qua việc cấp độc quyển cho người sáng chế.

Trong trường hợp quyền tác già, chính sự lan rộng của máy in đã kích thích nhu cầu đối vói luật quyền tác giả. Trong thiên niên kỷ đầu tiên, nhân bàn sách là công việc nhàm chán và chậm chạp. Những người chép sách đã viết và sao chép sách bàng tay, trong đó một số có kỹ năng nghệ thuật hơn những người khác. Tác phẩm viết chỉ dành cho tổng lớp quan trọng trong xã hội. Tôn giáo có tổ chức là lực lượng chính thúc đẩy việc bào tồn tri thức thông qua sách cũng như làm tàng nhanh số lượng bàn sao sách. Sáng chế về con chữ rời và máy in của Dohannes Gutenberg vào khoảng năm 1440 là một trong các sự kiện lịch sử đã góp phần cho ra đời luqt quyền tác già đầu tiên trên thế giới.6 Giống như trong bảo hộ sáng chế, cũng chính Venice đã cấp cho John of Speyer, nhà in đầu tiên, độc quyền "in chơ' vào năm 1469.7

Với việc sáng chế của Gutenberg có thể sân sàng sử dụng được ở khắp Tây Âu vào nửa sau thế kỷ 15 , Giáo hội Thiên chúa giáo La-mã đã bát đầu cấm sách do những nhà cài cách viết và đặc quyền vể in ấn đã xuất hiện tại Anh và Pháp. Trong thế kỷ thứ 16, đặc quyền dành cho nhà in vẫn tiếp tục được duy trì nhàm bảo hộ lợi nhuận của nhà in và cho phép kiểm soát việc in ấn. Năm 1710 Đạo luật Anne đã được Quốc hội Anh ban hành, Đạo luật đã giâm bớt một chút sự kiểm soát đối với nhà xuất bàn trong in ấn và cũng đã thừa nhận quyền của tác già, cho họ hoặc người thừa kế của họ độc quyển in lại sách trong vòng 14 năm kể từ khi sách được in lẩn đầu.8 Được gọi tên là một "đạo luật khuyến học", Đạo luật Anne là một trong những nguồn tham khảo về bào hộ sở hữu trí tuệ trong Hiến pháp Hoa Kỳ.9 Ngay trong giai đoạn ban đầu này, sự phát triển của luật về bống độc quyển sáng chế và quyển tác giả cũng đã phân ánh sự thăng trầm của nền kinh tế. Tiếp theo sự lu mờ của Venice sau 1600, đã có một sự chuyển hưóng trong tiến bộ kinh tế từ miền nam tòi tây bắc châu Âu. Trước 1800, mặc du có thể nhận thấy được những ví dụ về sự tập trung hoá trong công nghiệp ở nhiều nước châu Au nhưng sự tăng trưởng sản xuất phần lởn vẫn là vấn đề mở rộng sàn xuất thủ công có quy mo nhỏ thay vì các phương pháp và tổ chức mói có tính cấp tiên. Tuy nhiên, trong khoảng 1750 và 1870 Châu Âu đã trải qua thay sự đổi Idn bắt nguồn từ sự phát triển đô thị, xây dựng đưòng sắt, đầu tư vốn, phát triển kinh tế xuyên đại dương, bên cạnh những hoạt động khác.’° Tới cuối thế kỷ 19, các yếu tố nói trên đã dẫn đến công cuộc công nghiệp hoá có quy mô lớn dựa trên các ý tưởng mdi vé công nghiệp hoá, sự xuất hiện của những chính phủ tập trung hóa và chủ nghĩa dân tộc ở mức độ mạnh mẽ hơn. Sự phát triển nói trên đã dẫn đến việc nhiều nước thiết lập hệ thống pháp luật hiện đại đẩu tiên của mình về bàng độc quyền sang chế va quyền tác giả."

Tuy vậy, sự phát triển của khái niệm pháp luật SHTT hiện đại không phải lúc nào cũng đơn giãn. Trong thế kỷ 19, những trào lưu tự do mậu dịch đòi huỷ bỏ hệ thống bàng đọc quyền sáng chế đã nhộn được sự ủng hộ rộng rãi.12 Nhưng làn sóng mạnh mẽ của chủ nghĩa dân tộc đặc trưng cho thòi kỳ đó dưòng như đã đóng một vai trò quan trọng trong việc ủng hộ đưa vào áp dụng và duy trì pháp luật sỏ hữu trí tuệ hiện đại.

2. Loại hình sở hữu trí tuệ

Kể từ khi ra đòi hai cột trụ của SHTT tức là sở hữu công nghiệp và quyển tác giả, những hình thức khác đã được phát triển và thiết lập hoặc trở thành một phần của loại hình đã có hoặc trở thành những loại hình mới. Công ước thành lập WIPO năm 1967 15 quy định SHTT bao gồm quyển liên quan đến;

  1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học;
  2. Cuộc biểu diễn của nghệ sỹ biểu diễn, bản ghi âm và cuộc phát sóng;
  3. Sáng chế thuộc mọi lĩnh vực nỗ lực của con người;
  4. Phát minh khoa học;
  5. Kiểu dáng công nghiệp;
  6. Nhãn hiệu, tên và chỉ dẫn thương mại;
  7. Bão hộ chống cạnh tranh không lành mạnh;
  8. Tất cả các quyền khác nảy sinh từ hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật.;

Nhiều điều ước quốc tế được ký kết từ năm 1967 trở lại đây, trong đó đáng chú ý là Hiệp định vể những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ ( Hiệp định TRIPS) thuộc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đã làm rõ thêm và chi tiết hoá những loại hình mới của sở hữu trí tuệ, ví dụ thiết kế mạch tích hợp, trên cơ sở công việc trước đây WIPO đã làm. Xu hướng này cho thấy tính năng động của SHTT trong việc thích ứng vói sự phát triển công nghệ và vãn hoá, chàng hạn như có liên quan tói những đối tượng như phần cứng và phần mềm máy tính, thông tin liên lạc kỹ thuật số, Internet và khoa học về gen.

Các lĩnh vực nêu tại điểm (1) thuộc nhánh "quyền tác giả", tại điểm (2) thuộc nhánh "quyền liên quan" của sở hữu trí tuệ. Các lĩnh vực nêu tại điểm (3), (4), (5), (6) và (7) tạo thành nhánh sở hữu công nghiệp của SHTT

Các hình thức thông thường nhất của sở hữu trí tụê được định nghĩa ngắn gọn dươi đây.

2.1 Bằng độc quyền sáng chế (sáng chế)

Một bàng độc quyền sáng chế là một độc quyền được cấp cho một sáng chế (một sân phẩm hoặc một quy trình đưa ra một cách thức mói để làm một việc gì đó, hoặc cung cấp một giải pháp kỹ thuật mói đối vơi một vấn để). Bàng độc quyên sáng dành cho sáng chế sự bào hộ trong một khoảng thòi gian hạn chế, thường là 20 năm tính từ ngày nộp đơn, ỏ nước hoặc các nưóc nơi sáng chế đó được cấp bàng, đổi lại nhà sáng chế phải bộc lộ công khai sáng chế đó. Chủ sở hữu của một bàng độc quyền sáng chế có quyền quyết định ai có thể hoặc không thể sử dụng sáng chế đã được cấp bàng, cũng như có thể cho phép hoộc cấp li-xỡng cho những bên khác để sử dụng sáng chế theo các điều kiện đã cùng nhau thoả thuận. Chù sở hữu cũng có thể nhượng quyền đối vói sáng chế cho một người khác, người này sau đó sẽ trở thành chủ sở hữu mới của bàng độc quyền sáng chế đó. Khi một bàng độc quyền sáng chế hết hạn, sự bảo hộ chấm dứt và và bất kỳ ai cũng có thể sử dụng sáng chế đó.

2.2 Nhãn hiệu hàng hoá

Một nhãn hiệu hàng hoá hoặc "nhãn hiệu" là một tên gọi có tính phân biệt, một biểu tượng hoặc dấu hiệu” nhận dạng được nguồn gốc của sân phẩm hoặc dịch vụ. Nhãn hiệu hàng hoá giúp người tiêu dùng phân biệt một sàn phẩm hoặc dịch vụ từ một nguồn vói các sàn phẩm hoặc dịch vụ do một nguồn khác tạo ra. Một nhãn hiệu mang lại cho chú sở hữu của nó sự bào hộ thông qua việc ngăn ngừa sự nhổm lẫn về nguồn gốc trong quá trình phân phối sàn phẩm, dịch vụ hoặc thông qua việc cấp li-xãng cho người khác sử dụng nhãn hiệu đó. Thời hạn bâo hộ không cố định, nhưng một nhãn hiệu có thể giữ được hiệu lực mãi mãi thông qua việc sử dụng liên tục trong thương mại hoặc thông qua việc đăng ký và quy trình gia hạn.

Bàng độc quyền sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá thưởng được nhắc đến theo tên gọi chung là "sở hữu công nghiệp".

2.3 Quyền tác giả và Quyền liên quan

Quyền tác giả bao gồm một tập hợp quyền dành cho người sáng tạo đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật của họ. Các tác giã, và ngươi thừa kế của họ, nám giữ các độc quyền để sử dụng hoặc cấp li-xăng cho người khác sử dụng tác phẩm theo các điều kiện thoà thuận. Người sáng tạo ra một tác phẩm có thể ngăn cấm hoặc cho phép, ví dụ:

  • Sao chép lại tác phẩm dưới hình thức khác nhau, chầng hạn như ấn phẩm hoặc bàn ghi âm;
  • Biểu diễn tác phẩm cho công chúng, như trong trường hợp một vở diễn hoộc tác phẩm âm nhạc;
  • Phát sóng tác phẩm, bao gồm phát thanh, truyền hình hoặc phát qua vệ tinh;
  • Dịch tác phẩm sang ngôn ngữ khác, hoặc phóng tác tác phẩm, chàng hạn như chuyển thể một tiểu thuyết thành phim.

Quyền tác giả áp dụng cho nhiều loại hình khác nhau của tác phẩm nghệ thuật, bao gồm hội hoạ, âm nhạc, thơ, vở diễn, sách, kiến trúc và múa, đồng thời áp dụng cho những tác phẩm thường không được coi là nghệ thuật như phần mềm máy tính, bản đồ và bản vẽ kỹ thuật.

Quyền liên quan là những quyền đã phát triển trong khoảng chừng 50 năm gần đây, "xung quanh" quyền tác già và bao gồm quyển của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn của người đó, quyền của ngươi chế tạo bản ghi âm đối vói bàn ghi âm đó và quyền của tổ chức phát sóng đối với cuộc phát sóng.

Để phổ biến chúng (ví dụ dưới hình thức xuất bản phẩm, bàn ghi âm và phim), nhiều tác phẩm sáng tạo được bão hộ theo quyền tác già thường đòi hỏi sự phân phối, truyền đạt đại chúng cũng như đầu tư về tài chính. Vì lẽ đó, ngươi sáng tạo thường chuyển nhượng các quyền của mình đối vói tác phẩm cho những cá nhân hoặc công ty có khã năng tập hợp, đưa ra thị trường và phân phối tác phẩm, đổi lại họ được trả tiền (trả một lần hoặc nhuận bút). Các quyển kinh tế này có giới hạn vể thời gian mà theo điều ưóc WIPO có liên quan thì là cuộc đời của tác giở và 50 năm sau khi tác giả chết. Ở một số nước, thời hạn trên đã được kéo dài tói 70 năm. Quyền tác già cũng có thể bao gồm quyền tinh thẩn, liên quan đến quyền nhận danh nghĩa tác giã đối vói một tác phẩm và quyền phàn đối sự thay đổi tác phẩm có thể gây hại cho uy tín của tác già.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê