1.Tập tục và pháp luật thời Văn Lang – Âu Lạc

Luật pháp thời Văn Lang – Âu Lạc là luật không thành văn, nhưng bước đầu chuyển sang luật pháp sơ khai. Luật không thành văn đó là lệ làng, luật tục và tập quán chính trị; luật thành văn gồm: văn bản đơn nhất, hội điển và pháp điển.

Luật pháp Văn Lang – Âu Lạc là không thành văn, đó là:

- Tập quán chính trị: là những quy tắc về điều hành công việc trong triều đình, được hình thành trong quá trình điều hành chính trị và một số nguyên tắc Nho giáo. Ví dụ: Vua đầu tiên nhường ngôi cho con (tập tục truyền ngôi, về sau được các vua bắt chước và coi như là tục lệ truyền thống của mình)

- Lệ làng: là nguồn luật cổ bổ sung cho luật pháp. Nó chính là quy tắc xử sự giữa các thành viên trong cộng đồng do làng xã đặt ra, dần dần một số quy tắc trên biến thành phong tục – tập quán (hương ước) là nguồn luật bổ sung. Lệ làng mang tính chất tự quản và luật nhà nước có mối quan hệ với nó theo hình thức nhị nguyên: vừa thống nhất vừa độc lập.

Theo Mã Viện, luật Hùng Vương hơn luật Hán 10 điều chứng tỏ nước ta đã có luật pháp và luật đó có từ trước khi Triệu Đà thôn tính Âu Lạc. Tuy nhiên, luật Văn Lang – Âu Lạc là luật tục (luật không thành văn) tức là tập quán pháp, điều chỉnh nhiều mối quan hệ xã hội, quan hệ hôn nhân – gia đình, quyền sở hữu và sử dụng ruộng đất; người ta gọi khác là luật truyền miệng (luật do vua trực tiếp ban ra không ghi thành văn bản; nhà Vua chỉ: gọi, sai, phán, triệu (những danh từ này là luật)

Chính sự dùng chữ viết thắt nút là ở thời Văn Lang – Âu Lạc (ghi nhớ 1 sự kiện đơn giản bằng cách thắt nút), nhìn chung nhà nước đã tạo ra 1 sự hình thành văn minh Việt cổ bằng những tộc người gần gũi nhau về ngữ hệ, chủng tộc; gắn liền với nông nghiệp trồng lúa nước và phong tục tập quán để tạo nên sự liên kết phong tục bộ lạc, liên kết chính trị.

Kinh tế thời Âu lạc đa dạng: trồng và chăn nuôi gia súc; dùng công cụ sắt để cày cấy; biết đắp đê phòng lụt; áp dụng phong phú các phương pháp canh tác để tạo ra văn minh; thuật luyện kim phát triển và tiến từ vùng trung du xuống đồng bằng, định cư và hình thành kết cấu xóm làng.

Chính trị - xã hội:

- Thành lập nhà nước sớm: Văn Lang (thế kỷ VII TCN) và Âu lạc (thế kỷ III TCN)

- 15 bộ, thiết lập bộ máy nhà nước truyền được 18 đời vua.

- Đóng đô ở Phong Châu, Phong Khê và xây thành Cổ Loa

2.Pháp luật nhà nước phong kiến Việt Nam

Nguồn luật chủ yếu của pháp luật phong kiến Việt Nam

-     Luật không thành văn: lệ làng, luật tục, tập quán chính trị

-     Luật thành văn: gồm có văn bản đơn nhất, hội điển và pháp điển

+ Văn bản đơn nhất: có 5 loại là chiếu, lệnh, dụ, lệ, sắc. Vì mệnh lệnh của vua là pháp luật nên vua nắm cả 3 quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chiếu là văn bản đầu tiên tập hợp những điều luật quan trọng, đặc biệt do vua ban cho quần thần (tháng 8/1831, vua Minh Mạng ra chiếu cấm phụ nữ mặt váy); lệnh là công việc vua giao quần thần thực hiện; dụ, lệ quy định những vấn đề cơ bản, lâu dài; sắc là ban tước cho quan lại, quý tộc (chế độ quan liêu). Thời Lý – Trần, văn bản phổ biến là lệnh và chiếu; thời Lê là lệnh, sắc và dụ; Nguyễn là sắc và chiếu… thể hiện tính tập quyền ngày càng cao.

+ Hội điển: (luật hội tụ) là hình thức tập hợp các văn bản pháp luật để sử dụng kịp thời, nhanh chóng và tiện lợi; nó bao quát các vấn đề của văn bản đơn nhất. Hội điển là cách thức hình thành pháp luật theo 2 cách là thời gian, lĩnh vực. Hội điển thời gian là hệ thống các văn bản pháp luật theo triều đại, đời vua; Hội điển lĩnh vực là hệ thống các văn bản có liên quan đến các lĩnh vực; ví dụ hội điển quan chế, tập hợp các quy định về chế độ quan liêu, hội điển ruộng đất là hệ thống các văn bản về chiếm hữu, sử dụng và chuyển nhượng ruộng đất.

Nguồn gốc của Hội điển là từ cổ luật của Trung Hoa. Hội điển xuất hiện vào thời Trần là bộ Quốc triều thông chế (1230, 20 tập). Nội dung của nó quy định về quan chế hành chính, tổ chức quan lại. Quốc triều thường lễ nói về lễ nghi (tiếp sứ, đại triều); Quân văn cách thức (1290) quy định mẫu, biểu, văn tự, công văn và quy định cách thức viết văn tự; Hoàng triều đại điển (1241) quy định các vấn đề trọng yếu trong nước… Về sau nhà Minh hủy diệt các loại văn tự trên hòng tiêu diệt trí tuệ của người Việt.

Pháp luật: 

Luật Hồng Đức (còn gọi là Lê triều hình luật) là đỉnh cao nhất trong cải cách của Lê Thánh tông và hệ thống cổ luật Việt Nam. Luật ra đời năm 1483, có 13 chương, 722 điều và là bộ luật quan trọng. Đây là thời kỳ ổn định quốc gia nên ban hành luật pháp điều chỉnh quan hệ xã hội, chế độ ruộng đất. Các chương trong bộ luật Hồng Đức (còn gọi là Quốc triều hình luật):

- Chương Danh lệ: 49 điều, quy định trọng tội (thập ác, mưu phản bị giết; ngũ hình). Bát nghị (8 hạng người được chiếu cố bằng cách phạt tiền, miễn trách nhiệm hình sự). Luật của phong kiến Việt Nam là hình sự; luật hình sự là bộ luật quy định những hình thức xử phạt đối với các tội danh: xâm phạm xã hội, gây rối an ninh trật tự; trọng tội với công dân. Ngoài ra cũng có những quy định không phải hình sự (Trung quốc không có điều này); việc thi hành án về hình sự, dân sự đều qua tố tụng (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, tuyên án)

- Chương Vệ cấm: 47 điều quy định các tội liên quan đến xâm phạm nơi ở của vua và hoàng tộc.

- Chương Vi chế: 144 điều quy định hình phạt với tội lạm dụng chức vụ

- Chương Quân chính: 43 điều, quy định các tội về quân sự (bỏ ngũ, trốn lính, đầu hàng giặc)

- Chương Hộ hôn: 58 điều, quy định về hình phạt liên quan tới hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân – gia đình.

- Chương Điền sản: 32 điều quy định về thuế má, khế ước, ruộng đất

- Chương Thông gian: 10 điều, ra hình phạt về ngoại tình, thông dâm.

- Chương Đạo tắc: 54 điều, hình phạt về tội trộm cắp

- Chương Đấu ẩu: 50 điều quy định hình phạt về tội vu khống, gian dối.

- Chương Trá ngụy: 38 điều, làm chứng gian

- Chương Tạp luật: 92 điều, quy định các tội linh tinh (không có trong 12 chương)

- Chương Bộ vong: 13 điều quy định thủ tục bắt người để xét xử (phải có trát, mộc).

- Chương Đoản ngục: 65 điều, quy định việc xử án (thưa gửi quan tòa), nội quy trong ngục.

=> Luật tập hợp, điều chỉnh các vấn đề về hình sự, dân sự, hôn nhân – gia đình, ruộng đất, hành chính và tố tụng. Ngoài ra còn một số đạo luật khác ban hành trong triều, nhất là Lục bộ như: Luật lại (quy chế quan lại, lạm dụng chức vụ); luật lễ (quy chế về nghi lễ, xâm hại và đột nhập cung vua); luật hình quy định các tội không xếp vào 6 chương, đề ra nhóm tội danh cụ thể để quy định hình phạt: chính trị, giết người, đánh người, lăng mạ, tình dục, gian dối, vi phạm trong tố tụng.

+ Luật không thành văn có 2 phần: tập quán chính trị, lệ làng; Lệ làng chỉ là nguồn luật bổ sung cho luật thành văn; 2 phần của luật không thành văn có tính độc lập mà thống nhất. Chúng ta chứng minh điều này: 

Trước khi có đường lối đổi mới của Đảng (1986), quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học - công nghệ và văn hoá của nước ta với các nước còn hạn chế cả về phạm vi đối tác cũng như lượng và chất. Vì vậy, các môi quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nưốc ngoài cũng chưa thể phát triển mạnh, việc xây dựng các quy phạm xung đột hưống dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ này cũng chưa trở thành vấn đề bức xúc, thu hút sự quan tâm hay chú ý đúng mức của các cơ quan Nhà nước cũng như của các chuyên gia pháp luật.

Thông thường, các văn bản pháp luật của Nhà nước ta từ ngày thành lập năm 1945 cho tối trước năm 1986, ở những mức độ khác nhau, chỉ có các quy định về chế độ, chính sách chung cho tất cả người nước ngoài, đặc biệt đối vối người nước ngoài định cư ỗ Việt Nam . Do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài và chưa có sự thúc bách của thực tiễn điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, các cơ quan có thẩm quyền chưa có điều kiện và thời gian nghiên cứu xây dựng các loại quy phạm xung đột cụ thể để hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội này mà chỉ dừng ở việc quy định chung là người nước ngoài ỏ Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam hoặc vấn đề này hay vấn đề khác của người nước ngoài do pháp luật Việt Nam quy định. Ví dụ:

-      Thông tư số 11/TATC ngày 12 tháng 7 năm 1974 của toà án tối cao về thủ tục giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài quy định thẩm quyền của Toà án Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề ly hôn và khẳng định rằng, khi giải quyết vấn đề ly hôn, Toà án Việt Nam áp dụng pháp luật Việt Nam.

-      Quyết định số 122/CP ngày 25-4-1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đôì vổi người nước ngoài cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam, Thông tư liên bộ Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ số 178 /LB-NG-NV ngày 25-5-1977 hướng dẫn thi hành Quyết định 122/CP này đã quy định: vấn đề quyền sỗ hữu, thừa kế, chọn ngành, chọn nghề, quyền và nghĩa vụ trong học tập, lao động, cư trú, đi lại của người nước ngoài cư trú, làm ăn sinh sống ở Việt Nam, tức là của người nưốc ngoài định cư ở Việt Nam do pháp Ịuật Việt Nam quy định

- Điều lệ về đầu tư nưốc ngoài ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 18-4-1977 (Điều 24) quy định: những tranh chấp giữa xí nghiệp, công ty có vốn đầu tư nưốc ngoài với các tổ chức kinh tế Việt Nam hoặc với nhân viên, công nhân Việt Nam làm việc trong các xí nghiệp, công ty đó • hoặc vối công dân Việt Nam khác, được xử lý theo pháp luật Việt Nam.

Trong nhiều văn bản pháp luật khác ban hành trong giai đoạn này cũng có cách quy định tương tự như cách quy định các văn bản nêu trên, về mặt lý luận cũng như trên thực tế, quy định trên được hiểu là nội dung của quy phạm xung đột một bên - quy phạm xung đột chỉ quy định trường hợp áp dụng pháp luật nước mình.

Có thể nói, từ ngày thành lập cho tới trưốc năm 1986, Nhà nước Việt Nam chỉ có các quy định về việc áp dụng pháp luật Việt Nam để điều chỉnh các môi quan hệ dân sự có sự tham gia của các cá nhân, pháp nhân nước ngoài; chưa quy định trường hợp áp dụng pháp luật Việt Nam để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố hước ngoài nhưng không có người nước ngoài tham gia; và cũng chưa có các quy định hướng dẫn chọn pháp luật nước ngoài để áp dụng trong những trường hợp nhất định.

Pháp luật và thực tiễn điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có yếu tố nưốc ngoài trước nàm 1986 đã khẳng định một quan điểm rất quan trọng là: trên lãnh thổ Việt Nam, ngưồi nước ngoài phải tuân theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản để xây dựng hệ thông các quy phạm điều chỉnh từng mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

3.Pháp luật triều Nguyễn

 Pháp luật phong kiến Việt Nam: Quốc triều hình luật – Hoàng Việt luật lệ

Pháp luật phong kiến Việt Nam chủ yếu là hình sự, không phân định nguyên tắc chung như thời hiện đại. Thời Lý – Nguyễn, pháp luạt hình thành, phát triển và dần hoàn thiện nội dung, nguyên tắc cụ thể. Về nội dung, pháp luật quy định:

- Tiền án, phương pháp đặc biệt về chính trị => thuộc khung hình sự.

- Điều chỉnh quan hệ hành chính => dân sự.

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật phong kiến Việt Nam:

- Vô luật – Vô minh: xét xử phải đúng người, đúng tội và không tùy tiện, đề cao pháp luật phong kiến, thể hiện rõ trong điều 681; 722 của Quốc triều hình luật, điều 381 của Hoàng Việt luật lệ.

- Chiếu cố: có 2 nhóm là chiếu cố theo địa vị xã hội; chiếu cố nhân đạo. Chiếu cố theo địa vị xã hội là thể hiện tính đẳng cấp khắc nghiệt, có 8 hạng người được chiếu cố; trong 8 hạng này, nếu là quan lại thì được Vua xem xét miễn giảm tùy theo chức vụ cao hay thấp. Chiếu cố nhân đạo theo truyền thống Lý – Trần, thể hiện ở điều 16, 17 của Quốc triều hình luật; điều 21, 22 của Hoàng Việt luật lệ. Chiếu cố về giới tính, quy định ở điều 1, 680 của Quốc triều hình luật; điều 7, 380 của Hoàng Việt luật lệ.

- Nguyên tắc chuộc tiền: thể hiện ở điều 6, 16 của Quốc triều hình luật; điều 21, 22, 24 của Hoàng Việt luật lệ, quy định cụ thể mức tội dạnh được chuộc bằng tiền.

- Nguyên tắc miễn giảm: thể hiện trong điều 450, 485 của Quốc triều hình luật (hành vị tự vệ chính đáng), ăn trộm tiền, giết người nếu đầu thú được miễn tử hình.

- Nguyên tắc chịu trách nhiệm hình sự thay người khác: đề cao tính cộng đồng, người này phạm tội thì người khác bị liên lụy (phạt đại hình, tru di tam tộc, mưu phản…) thể hiện ở điều 411, 412 của Quốc triều hình luật. Con ăn trộm, bố mẹ bị phạt tù khổ sai (điều 457).

- Nguyên tắc thưởng người tố giác, trừng phạt kẻ che giấu tội phạm (các tội mưu phản, đại nghịch), thể hiện ở điều 25, 39, 411 – 413, 424, 504 của Quốc triều hình luật; điều 223 – 224 của Hoàng Việt luật lệ

- Nguyên tắc xử phạt có so sánh: điều 41, 642 của Quốc triều hình luật, quy định trừng trị người ngoan cố, người ta không cho làm mà vẫn làm.

- Hệ thống hình phạt: chủ yếu là ngũ hình. Ngũ hình: là hình phạt chủ yếu của pháp luật phong kiến Việt Nam, quy định ở điều 1 của Quốc triều hình luật gồm: xuy, trượng, đồ, lưu, tử. Xuy là tội danh dùng roi, trượng để đánh nhằm răn đe; Đồ - lưu có hình phạt bổ sung: tịch biên gia sản, thích chữ, đánh roi (thời Lý – Trần, hình phạt bổ sung rất nặng nề). Thời Nguyễn, ngũ hình có thêm 3 hình thức: lăng trì, chém đầu và băm nhỏ xác. Ngũ hình được quy định cụ thể trong chương Danh lệ của 2 bộ luật.

- Các loại tội danh cụ thể:

+ Trọng tội: mưu phản, an ninh, quân sự, bất kính, bất mục, bất nghĩa, thập ác… thì bị xử phạt nghiêm khắc theo điều 223, 224 Hoàng Việt luật lệ => nói lên tính đàn áp khắc nghiệt để bảo vệ trật tự xã hội, nguyên tắc đạo đức

+ Đánh người gây thương tích, nhục mạ, gian dối… quy định theo chương Danh lệ của 2 bộ luật.

+ Tội chức vụ: bị xử phạt theo điều 100 – 285 của Hoàng Việt luật lệ.

+ Tội tình dục: liên quan đến đạo đức con người vì Nho giáo là tư tưởng chính thống, quy định trong điều 401 – 410 của Quốc triều hình luật, điều 332 – 340 của Hoàng Việt luật lệ. Tội danh này có bổ sung chương Tạp luật (chương 22: Thông gian 32 điều)

=> Chế độ hình phạt tàn ác, đọa đày thân thể người phạm tội, nhục mạ, gây nỗi đau tinh thần. Luật pháp thời Lê sơ bớt hà khắc hơn Lý – Trần, trong chừng mực nào đó có quan tâm đến lợi ích nhân dân, bảo vệ người nghèo, già cả, tàn tật; hạn chế tham quan. Quốc triều hình luật phản ánh đầy đủ, phù hợp điều kiện lịch sử lúc đó, thể hiện vương triều lúc này rất tiến bộ, có đóng góp lớn giúp văn minh Đại Việt phát triển rực rỡ nhất.

- Luật dân sự:

+ Quốc triều hình luật rất phát triển; có 3 hình thức sở hữu ruộng đất là: Sở hữu Nhà nước, sở hữu làng xã và sở hữu tư nhân. Chế định hợp đồng phát triển, rõ nhất là hợp đồng mua bán ruộng đất (điều 365 - 366), gia hạn hợp đồng 30 năm (điều 384); bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ (điều 587 - 588). Thừa kế là di chúc và theo luật, con trai và con gái (trưởng) được thừa kế tài sản; trong khi Hoàng Việt luật lệ thừa nhận các điều trên, nhưng chỉ cho con trai thừa kế tài sản. Về hôn nhân - gia đình, Quốc triều hình luật quy định có 2 hình thức là hứa hôn - nghĩa vụ; có chế độ chia tài sản giữa vợ - chồng (điều 374 - 376) và người vợ được sở hữu tài sản như người chồng. Hoàng Việt luật lệ quy định hôn nhân phải được 2 gia đình đồng ý, hình thức hôn thư - sính lễ; quy định các trường hợp kết hôn - ly hôn; không có chế độ chia tài sản giữa vợ - chồng.

- Trình tự tố tụng:

+ Pháp luật về tố tụng: tập trung cụ thể trong Quốc triều khám tụng điều lệ (1777) thời Lê trung hưng, điều 6 của chương Bộ vong (tứ bất, tội phạm chạy trốn, chương này 12 điều); chương Đoản ngục 65 điều quy định cụ thể việc xét xử, điều lệ trong ngục và riêng vụ kiện thưa 16 điều, trong đó mục xét xử so với hình sự, mục hôn nhân – gia đình trong dân sự không phong phú như các bộ luật trước (xét xử theo đặc quyền). Trình tự tố tụng chịu ảnh hưởng nhiều của xã hội tiểu nông Việt Nam. Pháp luật phong kiến chia thành 4 loại: việc rất nhỏ, việc nhỏ, việc trung bình và việc lớn => xử lý kịp thời, không tốn kém, mang tính hòa giải làng xã:

* Huyện: xử lý việc nhỏ (quan huyện xử lý).

* Lộ (đạo): xử lý các việc liên quan đến điền sản, thuế khóa, gia đình, trật tự công cộng… Lộ được xử lý các vụ nhỏ, không xử lý các vụi lớn, mang tính nghiêm trọng.

Thủ tục tố tụng:

+ Thông lý vụ án: thể hiện trong điều 508, 513 của Quốc triều hình luật, trị các tội: tiền gian, tố cáo. Quan thụ ý xét xử vụ đó dựa trên vật chứng (bằng chứng), vụ đó có đáng xử lý hay không.

+ Thẩm án: nhân chứng – vật chứng. Nhân chứng không thân thích, có oán thù với đương sự bị xử lý theo điều 714 của Quốc triều hình luật; điều 665, 669 của Quốc triều hình luật và điều 369 của Hoàng Việt luật lệ miễn thẩm vấn với người già trên 70 tuổi, người dưới 18 tuổi.

+ Xét xử: quy định trong điều 671, 679 của Quốc triều hình luật. Pháp luật quy định thời gian xét xử các vụ án: chửi mắng, nói xấu xử trong 2 tháng; trộm cướp 3 tháng. Xét xử phải có trát, người phạm tội không đến trình báo miễn tội, quan án y theo luật xét xử. Tùy theo mức độ, quá 3 tháng không xử thì bị biếm chức, 5 tháng thì bị xử đồ => tính nghiêm minh, sự công bằng. Trong khi đó ở Hoàng Việt luật lệ, điều 308, 362 và 388 quy định cụ thể: quan lại không xét hỏi ngoài cáo trạng (đ. 371), xét xử công khai (308, 388) và phải xử trong 3 ngày và không trì hoãn (303, 362)

Pháp luật Viêt Nam thể hiện điển hình trong Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ. Tổng quát, cổ luật Lê sơ phản ánh dân tộc, truyền thống dân tộc, tính nhân văn. Về kỹ thuật, quy phạm pháp luật mang tính cụ thể, chi tiết nhưng thiếu tính tổng quát => quy định có tính bắt buộc, dứt khoát. Riêng Hoàng Việt luật lệ có hạn chế lớn: các nội dung tiến bộ của Quốc triều hình luật bị bãi bỏ.

4.Pháp luật thời kỳ Pháp thuộc 

Pháp: Luật dân sự, luật thương mại, luật tố tụng hình sự; hình luật Nam Kỳ (sao chép từ luật Napoleon); sắc lệnh của Tổng thống Pháp; Nghị định của thống sứ, thống đốc, khâm sứ phải được Toàn quyền phê chuẩn mới được thi hành; Nghị định của Toàn quyền.

Phong kiến Nguyễn: văn bản điều hành của Vua là Dụ (vấn đề chung chung khá; Sắc (vấn đề chung chung, được hoàn chỉnh dần; phong thần cho thành hoàng làng); Chỉ (công nhận, bổ nhiệm quan lại). Luật pháp thời Pháp thuộc không có Hội điển, chỉ có Công báo. Các bộ luật thời Nguyễn có:

-     Hoàng Việt luật lệ

-     Bắc Kỳ pháp điển niên chế (1921, 9 chương với 37 điều: quy định xử án ở Bắc Kỳ)

-     Luật dân sự tố tụng Bắc Kỳ (1921, 14 chương với 303 điều)

-     Luật hình sự tố tụng Bắc Kỳ (13 chương)

-     Luật hình sự: 3 chương, 328 điều

-     Dân luật Bắc Kỳ

-     Trung Kỳ pháp điển niên chế

-     Luật dân sự tố tụng Trung Kỳ

-     Bộ luật hình Trung Kỳ

-     Bộ luật dân sự Trung Kỳ

Luật Trung Kỳ sao chép luật Bắc Kỳ. Luật của Nguyễn theo 10 bộ hoàn chỉnh => lên 12 bộ (ảnh hưởng của Pháp).

Địa phương: lệ làng được văn bản hóa thành hương ước (bộ phận, hình thức trong hệ thống luật pháp phong kiến.

Bộ luật quan trọng nhất là Dân luật Bắc Kỳ được ban hành năm 1931, có ảnh hưởng của luật Hồng Đức, Gia Long, Trung Quốc và Napoleon, đây là bộ luật tiêu biểu nhất thời Pháp thuộc; có 4 quyển, 1455 điều:

Lời mở đầu: nguyên tắc của Dân luật (công bố, bình đẳng, tự do cá nhân)

Chương 1: Hộ tịch, hộ khẩu

Chương 2: tài sản, hình thức sở hữu

Chương 3: khế ước, nghĩa vụ

Chương 4: chứng cứ

Thời Pháp thuộc thực hiện chính sách “chia để trị” với 2 hệ thống chính quyền, 2 hệ thống pháp luật; 3 nguồn luật khác nhau. Đối tượng áp dụng có 2 hạng người: Pháp – ngoại kiều; Việt Nam. Pháp – ngoại kiều được đối xử bình đẳng như ở chính quốc; người Việt được đổi xử như ở bản xứ.

5.Trước năm 1986

Trước khi có đường lối đổi mới của Đảng (1986), quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học - công nghệ và văn hoá của nước ta với các nước còn hạn chê' cả về phạm vi đối tác cũng như lượng và chất. Vì vậy, các môi quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nưốc ngoài cũng chưa thể phát triển mạnh, việc xây dựng các quy phạm xung đột hưống dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ này cũng chưa trở thành vấn đề bức xúc, thu hút sự quan tâm hay chú ý đúng mức của các cơ quan Nhà nước cũng như của các chuyên gia pháp luật.

Thông thường, các văn bản pháp luật của Nhà nước ta từ ngày thành lập năm 1945 cho tối trước năm 1986, ỏ những mức độ khác nhau, chỉ 

có các quy định về chế độ, chính sách chung cho tất cả người nước ngoài, đặc biệt đối vối người nước ngoài định cư ỗ Việt Nam . Do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài và chưa có sự thúc bách của thực tiễn điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, các cơ quan có thẩm quyền chưa có điều kiện và thời gian nghiên cứu xây dựng các loại quy phạm xung đột cụ thể để hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội này mà chỉ dừng ở việc quy định chung là người nước ngoài ỏ Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam hoặc vấn đề này hay vấn đề khác của người nước ngoài do pháp luật Việt Nam quy định. Ví dụ:

-      Thông tư số 11/TATC ngày 12 tháng 7 năm 1974 của toà án tối cao về thủ tục giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài quy định thẩm quyền của Toà án Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề ly hôn và khẳng định rằng, khi giải quyết vấn đề ly hôn, Toà án Việt Nam áp dụng pháp luật Việt Nam.

-      Quyết định số 122/CP ngày 25-4-1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đôì vổi người nước ngoài cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam, Thông tư liên bộ Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ số 178 /LB-NG-NV ngày 25-5-1977 hướng dẫn thi hành Quyết định 122/CP này đã quy định: vấn đề quyền sỗ hữu, thừa kế, chọn ngành, chọn nghề, quyền và nghĩa vụ trong học tập, lao động, cư trú, đi lại của người nước ngoài cư trú, làm ăn sinh sống ở Việt Nam, tức là của người nưốc ngoài định cư ở Việt Nam do pháp Ịuật Việt Nam quy định

- Điều lệ về đầu tư nưốc ngoài ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 18-4-1977 (Điều 24) quy định: những tranh chấp giữa xí nghiệp, công ty có vốn đầu tư nưốc ngoài với các tổ chức kinh tế Việt Nam hoặc với nhân viên, công nhân Việt Nam làm việc trong các xí nghiệp, công ty đó • hoặc vối công dân Việt Nam khác, được xử lý theo pháp luật Việt Nam.

Trong nhiều văn bản pháp luật khác ban hành trong giai đoạn này 

cũng có cách quy định tương tự như cách quy định các văn bản nêu trên, về mặt lý luận cũng như trên thực tế, quy định trên được hiểu là nội dung của quy phạm xung đột một bên - quy phạm xung đột chỉ quy định trường hợp áp dụng pháp luật nước mình.

Có thể nói, từ ngày thành lập cho tới trưốc năm 1986, Nhà nước Việt Nam chỉ có các quy định về việc áp dụng pháp luật Việt Nam để điều chỉnh các môi quan hệ dân sự có sự tham gia của các cá nhân, pháp nhân nước ngoài; chưa quy định trường hợp áp dụng pháp luật Việt Nam để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố hước ngoài nhưng không có người nước ngoài tham gia; và cũng chưa có các quy định hướng dẫn chọn pháp luật nước ngoài để áp dụng trong những trường hợp nhất định

Pháp luật và thực tiễn điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có yếu tố nưốc ngoài trước nàm 1986 đã khẳng định một quan điểm rất quan trọng là: trên lãnh thổ Việt Nam, ngưồi nước ngoài phải tuân theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản để xây dựng hệ thông các quy phạm điều chỉnh từng mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)