- 1.Từ năm 1986 đến khi ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995
- 2.Các quy phạm xung đột trong Bộ luật Dân sự năm 1995.
- 3.Xây dựng một loạt quy phạm xung đột trong Bộ luật Dân sự năm 1995.
- 4.Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế
- 5.Các quy phạm xung đột trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
1.Từ năm 1986 đến khi ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995
Với việc ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, lần đầu tiên một văn bản ở tầm đạo luật chuyên ngành đã dành một số điều để quy định cụ thể việc áp dụng không chỉ pháp luật Việt Nam mà cả pháp luật nưốc ngoài để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đỉnh có yếu tố nước ngoài. Song, Luật Hôn nhân và gia đỉnh năm 1986 mới chỉ hưống dẫn chọn pháp luật để điều chỉnh nghi thức và điều kiện kết hôn giữa người nước ngoài vổi cồng dân Việt Nam ; chưa quy định về vấn đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật, ly hôn, các quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ với con cái, vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói chung và giữa công dân Việt Nam với người nưổc ngoài nói riêng.
Bắt đầu từ năm 1986 trỗ lại đây, công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được đẩy mạnh do yêu cầu bức bách của sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá với các nưóc nói riêng, theo đường lối đổi mới của Đảng. Khi xây dựng các văn bản pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền vẫn tiếp tục chú ý đến việc xây dựng các quy phạm xung đột một bên - quy định việc áp dụng pháp luật Việt Nam để điều chỉnh các quan hệ có sự tham gia của cá nhân, pháp nhân nưồc ngoài. Ví dụ:
- Hiến pháp năm 1992 (Điều 81) khẳng định người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước ta bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam;
- Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 (Điều 43), Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 (khoản 2 Điều 57) khẳng định rằng khi hợp đồng có cá nhân, pháp nhân nước ngoài tham gia được ký kết, đồng thời được thực hiện ở Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam ;
- Luật Đất đai năm 1993 (chương V); Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 (Điều 48); Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất tại Việt Nam năm 1994 (các điều 2 và 3); Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994 (Điều 45), v.v. đều quy định: trên lãnh thổ Việt Nam, pháp luật Việt Nam được áp dụng đốỉ với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trưòng hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Trong giai đoạn này, một số văn bản pháp luật khẳng định cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài đôì với những trường hợp nhất định và đã xây dựng được một số quy phạm xung đột hai bên - quy phạm hướng dẫn chọn pháp luật nói chung, không phân biệt pháp luật nước mình hay pháp luật nước ngoài; việc áp dụng pháp luật nước nào tùy thuộc vào loại hệ thuộc được ghi trong quy phạm xung đột như nơi có tài sản, nơi ký kết hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng, nơi cư trú của đương sự, nưốc mà đương sự mang quốc tịch, nơi xảy ra tai nạn, V.V.. ví dụ:
- Bộ luật Hàng hải năm 1990 (các điều 4, 5, 6 và 7) quy định áp dụng pháp luật của quôc gia mà tầu mang cờ để điều chỉnh quyển sở hữu tài sản trên tầu, hợp đồng cho thuê tầu, hợp đồng thuê thuyền viên, hợp đồng vân chuyển hành khách, vấn đề tai nạn đầm va, tổn thất chung;
- Luật Hàng không dân dụng năm 1991 (các đỉểu 4, 5 và 17) quy định áp dụng pháp luật nơi đăng ký tầu bay để điều chỉnh quan hệ phát sinh trong tầu bay đang bay và các quyền về sỏ hữu tầu bay, việc trẵ công cứu hộ; pháp luật nơi ký kết hợp đọng đỉều chỉnh hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sồ hữu tầu bay; pháp luật nơi xảy ra tai nạn điều chỉnh tranh chấp phát sinh do tầu bay va chạm hoặc gây cản trỗ cho nhau hoặc do tầu bay đang bay gây thiệt hại cho ngưồi thứ ba ở mặt đất;
- Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993 quy định: pháp luật của nước mà đương sự mang quốc tịch điều chỉnh vấn đề điều kiện kết hôn và cấm kết hôn; quan hệ giữa vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con được xác định theo pháp luật nơi thưòng trú chung của họ vào thời điểm phát sinh tranh chấp; v.v...
Ngoài các quý phạm xung đột được quy định trong các luật, pháp lệnh, trong giai đoạn này, các quy phạm xung đột còn được ghi nhận tại một số nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh và ở cả một số’ nghị định riêng biệt; ví dụ: Nghị định số 18/CP ngày 16-4-1993 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Điều 101), Nghị định số 175/CP ngày 18-10-1994 hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường (các điều 2 vầ 3) quy định trong các lĩnh vực này phải áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết các tranh chấp, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Trên cơ sỏ xem xét nội dung các quy định hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố. nước ngoài trước năm 1986 và từ 1986 đến trước khi ban hành Bộ luật Dần sự năm 1995, ta có thể rút ra một số kết luận như sau:
- Trong pháp luật Việt Nam mồi chỉ hình thành các quy phạm xung đột để hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh từng nhóm quan hệ dần sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Các quy phạm này chưa đủ về số lượng, chưa bao quát hết các lĩnh vực quan trọng của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài và chưa tạo thành một hệ thống.
- Trong một số lĩnh vực chuyên ngành (ví dụ các lĩnh vực: Đất đai, bảo vệ môi trường, V.V.), các văn bản pháp luật đều khẳng định rằng, trên lãnh thổ Việt Nam phải áp dụng pháp luật Việt Nam để điều chỉnh các quan hệ xã hội có ngưòi nước ngoài, tổ chức nước ngoài tham gia, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. Về mặt nội dung, đây thực chất là quy phạm xung đột một bên.
- Trong một số lĩnh vực như hàng không, hàng hải, hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, pháp luật Việt Nam bắt đầu có các quy phạm xung đột hai bên để hướng dẫn chọn pháp luật áp dụng, không phân biệt pháp luật Việt Nam hay pháp luật nước ngoài. Nói cách khác, đến thời kỳ này đã chấm dứt tình trạng chỉ tồn tại các quy phạm xung đột một bên.
Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật nước ngoài, theo quy định của pháp luật Việt Nam trong giai đoạn này, chỉ được thực hiện khi pháp luật đó không trái với pháp luật Việt Nam (Điều 7 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 1990) hoặc không trái với trật tự và lợi ích công cộng của Việt Nam (khoản 3 Điều 4 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1991).
2.Các quy phạm xung đột trong Bộ luật Dân sự năm 1995.
Việc dành toàn bộ Phần thứ VII (13 Điều, từ Điều 826 đến Điều 838) của Bộ luật để điều chỉnh các mốỉ quan hệ dân sự có yếu tố nưốc ngoài là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng hệ thông các quy phạm xung đột ở nước ta. Nội dung cụ thể của Phần VII này như sau:
-Xác định khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài dùng trong Bộ luật này (Điều 826) là quan hệ có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ỏ nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó tồn tại ồ nước ngoài.
-Khẳng định việc áp dụng pháp luật nước ngoài phải theo chỉ dẫn của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia; nếu pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam; nếu pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia chưa quy định thì áp dụng tập quán quốc tế.
-Khi áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế, phải bảo đảm nguyên tắc chỉ áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế khi việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái vởi các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
3.Xây dựng một loạt quy phạm xung đột trong Bộ luật Dân sự năm 1995.
- Xây dựng một loạt quy phạm xung đột để hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các vấn đề cụ thể sau đây:
+ Xác định năng lực pháp luật dân sự của người nước ngoài - theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp Bộ luật này và các vân bản khác của Việt Nam có quy định khác.
+ Xác định năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài - theo pháp luật của nước mà người đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác; nếu giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện ở Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam.
+ Xác định năng lực pháp lụật dân sự của pháp nhân nước ngoài theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập, trừ trưòng hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác; nếu giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện ở Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam.
+ vể quyền sở hữu tài sản - áp dụng pháp luật nơi có tài sản; quyền sỏ hữu động sản đang trên đường vận chuyển thì áp dụng pháp luật nơi động sản được chuyển đến, nếu không có thoả thuận khác; áp dụng pháp luật nơi có tài sản để phấn biệt động sản và bất động sản.
+ Hình thức hợp đồng - phải tuân theo pháp luật nơi ký kết hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng phải theo pháp luật nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thoả thuận khác; hợp đồng được giao kết và thực hiện ồ Việt Nam thì theo pháp luật Việt Nam; hợp đồng liên quan đến bất động sản ỏ Việt Nam thì theo pháp luật Việt Nam.
+ vể bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng - áp dụng pháp luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại; nếu thiệt hại do tầu bay, tầu biển gây ra ở không phận quốc tế hoặc biển cả thì theo pháp luật của nước mà tầu bay, tầu biển mang quốc tịch, trừ trường hợp pháp luật về hàng không và hàng hải Việt Nam có quy định khác; nếu hành vi gây thiệt hại xảy ra
4.Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế
Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế cho đến nay được quy định ở nhiều văn bản khác nhau và không có sự thông nhất. Có văn bản quy đỉnh không áp dụng pháp luật nước ngoài nếu pháp luật nước ngoài trái vổi trật tự và lợi ích công cộng của Việt Nam (Điều 4 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1991); có văn bản quy định không áp dụng pháp luật nước ngoài, nếu pháp luật nước ngoài trái với pháp luật Việt Nam một cách chung chung (Điều 7 của Bộ luật Hàng hải năm 1990, Điều 4 của Luật Thương mại năm 1997); theo Bộ luật Dân sự năm 1995 (khoản 4 Điều 827 và Điều 828), không áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, ...
Tình trạng trên gây khó khăn, lúng túng cho các cơ quan có thẩm quyền của ta khi giải quyết các vấn đề dân sự có yếu tố nưốc ngoài và khó khăn cho cả các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Và đương nhiên, điều đó sẽ ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Nhìn chung, cần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hệ thống quy phạm xung đột trong pháp luật Việt Nam nhằm góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp lý các mốỉ quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đáp ứng đồi hỏi của quá trình hội nhập vổi khu vực và quốc tế hiện nay.
5.Các quy phạm xung đột trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Luật Hôn nhân và gia. đình được Quốc hội thông qua ngày 9-6-2000 đã dành riêng Chương XI (gồm 7 điều, từ Điều 100 đến Điều 106) cho việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nưốc ngoài. Nội dung của chương này được quy định như sau:
a) về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 khẳng định Việt Nam tổn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô' nước ngoài phù hợp vổi các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình vói công dân Việt Nam, trừ trưồng hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. Nhà nưốc Việt Nam bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nừớc ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình.
Điểm đặc biệt đáng lưu ý là, việc luật khẳng định rất rõ các quy định của chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
b) Về áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Trong trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc điệu ưốc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định áp dụng pháp luật nước ngoài
về hôn nhân và gia đình, thì áp dụng pháp luật nước ngoài đó, trừ trường hợp việc áp dụng đó trái với các nguyên tắc quy định trong luật này. Nếu pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam.
c) về thẩm quyền giải quyết ổác việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Việc đăng ký kết hôn, ỉiuôi con nuôi, giám hộ có yếu tố nước ngoài do uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ồ khu vực biên giổị với công dân nưốc láng giềng cùng cư trú ồ khu vực biên giới vối Việt Nam sẽ do Chính phủ Việt Nam quy định riêng. Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ có yếu tố nưốc ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quôc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, nếu không trái với pháp luật của nước sở tại; có trách nhiệm bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô" nước ngoài.
Toà án nhân dân tỉnh, thành phô' trực thuộc Trung ương huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha mẹ, nhận con, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tô' nước ngoài, xem xét công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam. Những vấn đề này của công dân Việt Nam ỏ khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giởi vối Việt Nam thì do Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phô' thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.
d) Về kết hôn có yếu tố nước ngoài
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 phân biệt hai trường hợp: Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau.
Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam vối người nước ngoài, mỗi bên tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn. Nếu việc kết hôn này tiên hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, thì người nưốc ngoài còn phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.
Việc kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trưổc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.
Quy định trên có nghĩa là nếu người nước ngoài kết hôn với nhau ồ nưốc ngoài và kết hôn vối nhau tại Việt Nam nhưng không tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, hoặc họ kết hôn vâi công dân Việt Nam nhưng được tiến hành ỗ nưởc ngoài, thì người nưốc ngoài chỉ tuân theo pháp luật của nước ngoài.
đ) Về ly hôn có yếu tố nước ngoài
Trong vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, hệ thuộc chủ yếu được áp dụng là pháp luật nơi thưồng trú chung của hai vợ chồng vối một số’ ngoại lệ và được quy định cụ thể như sau:
+ Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa ngưòi nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo pháp luật Việt Nam.
+ Bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam lúc xin ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam.
+ Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nưốc ngoài khi ly hôn theo pháp luật nơi có bất động sản đó.
e) Về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Trong việc nuôi con nuôi, có ba vấn đề được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định là: điều kiện nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi. Luật hưởng dẫn chọn pháp luật như sau:
+ Nếu người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam hoặc trẻ em là ngựời nước ngoài thường trú tại Việt Nam làm con nụôi, thì điều kiện nuôi con nuôi được xác định theo cả pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà người xin con nuôi là công dân.
+ Việc công dân Việt Nam nhận trẻ em là ngưồi nước ngoài làm con nuôi đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được công nhận tại Việt Nam.
+ Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật Việt Nam, nếu việc nuôi con nuôi có yếu tố nưốc ngoài thực hiện ỏ Việt Nam; theo pháp luật nơi thường trú của con nuôi, nếu việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam vối người nước ngoài được thực hiện ỏ nước ngoài.
f) Về giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Hệ thuộc chủ yếu được áp dụng trong việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nưốc ngoài là pháp luật nơi thực hiện giám hộ và được quy định cụ thể như sau:
+ Việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện ỗ Việt Nam và việc giám hộ đăng ký tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài đều phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam.
+ Việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được thực hiện tại nước ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa người giám hộ và người được giám hộ xác định theo pháp luật nơi thường trú của người giám hộ.
Như vậy, với việc ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, về cơ bản, những khiếm khuyết trưốc đây của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô" nưốc ngoài đã được khắc phục. Nhìn chung, các quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong luật này đều hợp lý. Như đã trình bày ỏ trên, đáng lưu ý nhất là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bao quát đừợc cả trường hợp quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô" nước ngoài, nhưng không có người nưởc ngoài tham gia. Đây là điều mà Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995 chưa làm được.
Tuy nhiên, vẫn có những khiếm khuyết mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 còn chưa khắc phục được. Ví dụ, cũng giống như nhiều văn bản pháp luật khác, bao gồm cả Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995, Luật này vẫn giữ quan điểm cho rằng được áp dụng pháp luật nước ngoài theo chỉ dẫn của pháp luật Việt Nam hoặc của điều ưổc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, trừ trường hợp việc áp dụng đó trái với các nguyên tắc quy định trong luật này.
Luât Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)