Đồng thời với việc xây dựng hệ thống quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia, hơn chục năm qua Nhà nưốc ta đã chú ý đẩy mạnh việc đàm phán và đã ký kết được hàng chục điều ước quốc tế để xây dựng các quy phạm thực chất thống nhất; trong trường hợp không xây dựng được quy phạm thực chất thống nhất thì xây dựng quy phạm xung đột thống nhất, tức là thông nhất việc hướng dẫn chọn pháp luật nhằm góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp lý các môì quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.Trong số các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có chứa đựng các quy phạm xung đột thống nhất, - trước hết phải kể đến các hiệp định tương trợ tư pháp. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, phạm vi quan hệ xã hội mà các hiệp định này xây dựng các quy phạm xung đột thống nhất không hoàn toàn giống nhau. 

Nhiều hiệp định tương trợ tư pháp giữa nưởc ta với các nưốc khác chứa đựng khá nhiều quy phạm xung đột pháp luật, bao gồm không chỉ các quy phạm xung đột pháp luật về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự của cá nhân, pháp nhân, về kết hôn, quan hệ vợ chồng, ly hôn, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, nuôi con nuôi, về vấn đề thừa kê mà gồm cả các quy phạm xung đột pháp luật về nghĩa vụ hợp đồng, về nghĩa vụ ngoài hợp đồng, về tài sản và về quan hệ lao động V.V.. Điển hình nhất trong sô' này là Hiệp định tương trợ tư pháp Việt - Nga năm 1998, Hiệp định tương trợ tư pháp Việt - Lào năm 1998, Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam — Ucraina năm 2000, Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Mông cổ năm 2000 ...Trong các hiệp định tương trợ tư pháp giữa việt Nam với các nước như Nga, Ucraina V.V., nội dung cơ bản của một sô' quy phạm xung đột thông nhất 

1.Về năng lực pháp luật và nàng lực hành vi dân sự của các chủ thể

Năng lực pháp luật của công dân các bền ký kết trong lĩnh vực bảo vệ pháp lý đối vởi nhân thân và tài sản được xác định theo chế độ đãi ngộ quốc dân, tức là theo pháp luật của nơi các quyền về nhân thân và tài sản cần phải được bảo vệ.

Năng lực hành vi của cá nhân được xác định theo pháp luật cửa nước mà cá nhân mang quốc tịch. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của pháp nhân thì theo pháp luật nơi thành lập pháp nhân đó..

2.Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Điều kiện kết hôn được xác định theo pháp luật của nước mà đương sự mang quốc tịch đồng thời vẫn phải tuân theo pháp luật nơi tiến hành kết hôn về các trường hợp cấm kết hôn.

Nghi thức kết hôn được xác định theo pháp luật của nước nơi tiến hành kết hôn.

Quan hệ vợ chồng được xác định theo pháp luật của nưốc nơi họ cùng thường trú; nếu họ không cùng thường trú ỏ một nước thì theo pháp luật của nưốc mà họ cùng chung quốc tịch, và nếu họ cũng không cùng chung quốc tịch thì theo pháp luật của nưốc họ thường trú cuối cùng.

Việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước có cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ ly hôn.

Quan hệ giữa cha mẹ và con cái được xác định theo pháp luật của nước nơi họ cùng thường trú; nếu họ không cùng thường trú ở một nưốc thì theo pháp luật của nước mà người con là công dân.

Việc nhận cha cho con, việc nhận trẻ em làm con nuôi được giải quyết theo pháp luật của nưóc mà người con là công dân, nhưng cũng có hiệp định quy định áp dụng pháp luật của nước mà người nuôi là công dân.

Các vấn đề giám hộ, trợ tá được xác định theo pháp luật của bên ký kết mà người được giám hộ và trợ tá là công dán, trừ trường hợp hiệp định có quy định khác.

3.Trong lĩnh vực thừa kế

Việc thừa kế động sản được thực hiện theo pháp luật của nưốc mà người để lại động sản là công dân lúc qua đòi.

Việc thừa kế bất động sản được thực hiện theo pháp luật của nước nơi có di sản là bất động sản.

Việc phân biệt di sản là động sản hoặc bất động sản phải tuân theo pháp luật của nơi có di sản.

4. Trong lĩnh vực nghĩa vụ dân sự

Hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật nơi ký kết hợp đồng. Hình thức của hợp đồng về bất động sản phải tuân theo pháp luật nơi có bất động sản đó.

Nghĩa vụ hợp đồng được xác định theo pháp luật do các bên lựa chọn, nếu không trái với pháp luật của các bên ký kết.

Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải tuân theo pháp luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại. Nếu nguyên đơn và bị đơn đều là công dân của một bên ký kết hoặc đều được thành lập hoặc có trụ sở ở một bên ký kết, thì áp dụng pháp luật của bên ký kết đó.

5.Trong lĩnh vực lao động

Quan hệ pháp lý phát sinh từ việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ lao động, cũng như các yêu cầu liên quan do pháp luật của bên ký kết nơi cá nhân đang, đã hoặc cần phải thực hiện công việc điều chỉnh.

Các bên tham gia hợp đồng lao động có thể thoả thuận bằng văn bản tự lựa chọn pháp luật của một trong các bên ký kết để áp dụng, nếu pháp luật nơi tiến hành các quan hệ lao động không cấm.

Nhìn chung, nội dung các quy phạm xung đột thống nhất trong các hiệp định tương trợ tư pháp giữa nước ta vối các nước ngoài đều phù hợp vối đặc điểm các quan hệ dân sự 'CÓ yếu tố nước ngoài liên quan đến các bên ký kết hiệp định, và cũng phù hợp với thông lệ quốc tế trong lĩnh vực này. Song, rất tiếc phạm vi các quan hệ có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bằng quy phạm xung đột thông nhất chưa nhiều, thậm chí có những hiệp định tương trợ tư pháp chưa có các quy phạm loại này. Có thể nói các quy phạm xung đột thống nhất chưa tạo thành một hệ thống riêng. Các quy phạm này bổ sung cho hệ thống quy phạm xung đột của pháp luật trong nước về việc điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài.

Nhìn chung, việc đàm phán, ký kết loại điều ước quốc tế nêu trên nên tiếp tục được đẩy mạnh, mỗ rộng hơn nữa phạm vi các quan hệ có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bằng quy phạm xung đột thốhg nhất, nếu như không xây dựng được quy phạm thực chất thông nhất. Nói cách khác, cùng với quá trình hoàn thiện hệ thốhg quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia, chúng ta cần phấn đấu xây dựng một hệ thống quy phạm xung đột thống nhất ngày càng đầy đủ và đồng bộ, nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp lý các mốỉ quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài.

Quy trình ký kết điều ước quốc tế

Nhìn chung, quá trình ký kết điều ước quốc tế được tiến hành qua 2 giai đoạn chính:

a. Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành các văn bản điều ước:

Ở giai đoạn này, các bên sẽ thực hiện các hành vi như: chuẩn bị đàm phán, đàm phán,  soạn thảo và thông qua văn bản điều ước. Thực hiện xong các hành vi này, điều ước quốc tế vẫn chưa phát sinh hiệu lực, tuy nhiên nếu thiếu các hành vi này thì một điều ước quốc tế không thể được hình thành. 

– Đàm phán: Đây là sự thương lượng, đấu tranh về lợi ích giữa các chủ thể tham gia ký kết điều ước quốc tế nhằm đi đến một thỏa thuận chung nhất. Do đó, sự thành công hay thất bại của đàm phán phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí và sự hợp tác của các bên. Có nhiều cách thức đàm phán khác nhau, như: đàm phán trên cơ sở của dự thảo văn bản đã chuẩn bị trước của mỗi bên hay một bên hoặc cùng đàm phán để trực tiếp xây dựng văn bản điều ước. 

 Hồ sơ trình về việc đàm phán điều ước quốc tế bao gồm:

+Tờ trình của cơ quan trình, trong đó nêu rõ sự cần thiết, yêu cầu, mục đích đàm phán điều ước quốc tế; nội dung chính của điều ước quốc tế; đánh giá sơ bộ tác động chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế – xã hội và các tác động khác của điều ước quốc tế; kết quả rà soát sơ bộ quy định của pháp luật hiện hành và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trong cùng lĩnh vực, so sánh với nội dung chính của điều ước quốc tế dự kiến đàm phán; kiến nghị về việc đàm phán và ủy quyền đàm phán;

+ Ý kiến của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức và kiến nghị biện pháp xử lý.

– Soạn thảo: Sau khi đàm phán thành công, văn bản điều ước sẽ được soạn thảo chính thức để các bên thông qua. Với điều ước quốc tế song phương, các bên thường cử đại diện tham gia soạn thảo, còn đối với điều ước quốc tế đa phương thì việc soạn thảo sẽ được giao cho một cơ quan do các bên thống nhất lập ra. 

– Thông qua văn bản điều ước: Thông qua văn bản điều ước chính là giai đoạn then chốt để các bên biểu hiện sự nhất trí của mình đối với văn bản điều ước đã được soạn thảo. Văn bản được các bên nhất trí thông qua là văn bản cuối cùng, các bên không được phép đơn phương sửa đổi, chỉnh lý hoặc thay đổi bất kỳ quy định nào trong văn bản. 

Giai đoạn 2:

Đây là giai đoạn thực hiện các hành vi nhằm thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế và có giá trị tạo ra hiệu lực thi hành của điều ước đó. Chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế là hành vi pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền hoặc người được ủy quyền thực hiện nhằm thể hiện cam kết chính thức của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với điều ước quốc tế, bao gồm ký điều ước quốc tế không phải phê chuẩn hoặc phê duyệt, phê chuẩn điều ước quốc tế, phê duyệt điều ước quốc tế, trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế, gia nhập điều ước quốc tế hoặc hành vi khác theo thỏa thuận với bên ký kết nước ngoài.

Giai đoạn này có 4 hành vi được thực hiện đó là: hành vi ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế. 

Ký điều ước quốc tế

Ký là một bước không thể thiếu trong trình tự ký kết điều ước quốc tế. Có 3 hình thức ký điều ước quốc tế, đó là: 

– Ký tắt: Ký tắt là hành vi pháp lý do người có thẩm quyền hoặc người được ủy quyền thực hiện để xác nhận văn bản điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dự định ký là văn bản cuối cùng đã được thỏa thuận với bên ký kết nước ngoài. Ký tắt là chữ ký của các vị đại diện quốc gia tham gia đàm phán nhằm xác nhận văn bản dự thảo điều ước quốc tế. Ký tắt chưa làm phát sinh hiệu lực của điều ước

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)