1. Không cần thiết xây dựng một đạo luật riêng về tư pháp quốc tế ở Việt Nam
Một giả thiết được đặt ra rằng, nên chăng ở Việt Nam hiện nay cần xây dựng một đạo luật riêng về TPQT. Giả thiết này cũng đã được bàn đến khi xây dựng Phần thứ VII BLDS năm 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nhưng cuối cùng Quốc hội cũng đã quyết định không xây dựng một đạo luật riêng về TPQT. Theo quan điểm của em thì không cần thiết phải xây dựng một đạo luật riêng về TPQT ở Việt Nam hiện nay bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất, việc có một đạo luật riêng về TPQT hay không có một đạo luật riêng về TPQT thì đó chủ yếu chỉ là yếu tố thuộc về hình thức. Không thể khẳng định được rằng có đạo luật riêng về TPQT thì việc điều chỉnh các mối quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ hiệu quả hơn hay ngược lại không có đạo luật riêng về TPQT mà các quy phạm của TPQT có trong các đạo luật khác nhau thì việc điều chỉnh các mối quan hệ đó sẽ hiệu quả hơn. Điều quan trọng hơn cả mà có thể khẳng định được, đó là: yếu tố thuộc về nội dung, tức là nội dung các quy phạm của TPQT.
Thứ hai, hiện tại ở Việt Nam các quy phạm của TPQT mà chủ yếu là các quy phạm xung đột là một bộ phận cấu thành của BLDS năm 2015. Đó là Phần thứ năm. Tính lịch sử của Phần này đã được xác định và tiền thân của nó là từ khi ban hành BLDS năm 2005 và BLDS 1995. Do vậy, các quy phạm pháp luật trong Phần thứ năm của BLDS đã mang tính ổn định nhất định. Hơn nữa, trên cơ sở quy định của Điều 1 BLDS năm 2015, quan hệ hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại được gọi chung là quan hệ dân sự nên BLDS được xác định là đạo luật gốc trong lĩnh vực tư và Phần thứ bảy Bộ luật này cũng được xác định là phần quy định gốc trong lĩnh vực TPQT của Việt Nam; do vậy, các quy phạm xung đột trong các đạo luật chuyên ngành khác có mối quan hệ khăng khít với Phần thứ năm BLDS. Đó là mối quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành. Giả thiết nếu hiện tại chúng ta chủ trương xây dựng một đạo luật riêng về TPQT thì khi đó tất yếu sẽ làm “xáo trộn nghiêm trọng hệ thống các văn bản hiện hành” .
Tuy không cần thiết xây dựng một đạo luật riêng về TPQT như một số nước, nhưng Phần thứ năm BLDS 2015 cần được xác định có tính chất như một đạo luật về TPQT của Việt Nam. Điều đó có nghĩa là Phần này là phần quan trọng nhất, giữ vị trí trung tâm của TPQT Việt Nam, có kết cấu hoàn chỉnh, bao gồm những quy định có tính chất là nền tảng và cả những quy định điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cụ thể.
2. Góp phần tạo môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi
Góp phần tạo môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, làm bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước, hội nhập với khu vực và thế giới
Sự phát triển các mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia về kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá đòi hỏi phải có môi trường pháp lý quốc gia và quốc tế thuận lợi.
Hệ thống quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có yếu tố" nước ngoài là một trong những bộ phận tạo nên cơ sở pháp lý, môi trường pháp lý thúc đẩy phát triển các mốỉ quan hệ dân sự có yếu tôz nước ngoài, đồng thời cũng thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá giữa các quốc gia. sở dĩ như vậy là vì, chủ thể tham gia ký kết, thực hiện cụ thể các giao dịch hay hợp đồng trong giao lưu quốc tế về kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá chủ yếu là các cá nhân, pháp nhân của các quốc gia. Có thể nói rằng, thực chất tất cả các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là hệ quả tất yếu của giao lưu quốc tế nói chung giữa các quốc gia, đặc biệt giao lưu quốc tế của các quốc gia về kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá.
Vối những lý do nêu trên, cần phải khẳng định rằng, mục tiêu và nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có yếụ tố nước ngoài phải nhằm góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác giữa Việt Nam vối các nước, các tổ chức quốc tế theo tinh thần của chính sách mở cửa, mở rộng quan hệ nhiều mặt, chủ động, tích cực hội nhập với khu vực và thế giới mà Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định.
3. Bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia
Bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tê và tư pháp quốc tế hiện đại
Trong thế giới hiện đại, quá trình toàn cầu hoá về kinh tế, việc các quốc gia hội nhập vối khu vực và thế giới là xu thế khách quan; sự tuỳ thuộc lẫn nhau cũng là xu thế khách quan và ngày càng gia tăng đã và đang đặt ra cho các nước, đặc biệt là các nưốc đang phát triển nhung cơ hội thách thức lớn. Song điều đó vẫn không làm triệt tiêu độc lập, chủ quyền của mỗi quốc gia.
Thế giới hiện đại vẫn là thế giới của các quốc gia độc lập, có chủ quyền, nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau và tuỳ thuộc lẫn nhau trong quá trình tồn tại và phát triển.
Trong việc điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, mỗi quốc gia, kể cả Việt Nam, đều quan tâm thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ này, nhưng phải dựa trên cơ sỏ và xử lý hài hoà việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, nền văn hoá và lợi ích quốc gia của mình, chông lại áp đặt, cường quyền với việc tôn trọng chủ quyền và lợi ích của các quốc gia khác.
Với tinh thần nêu trêụ, cần tiếp tục quan điểm “nhập gia tuỳ tục” như ông cha ta đã tổng kết và pháp luật nưốc ta đã khẳng định, đồng thời trong những trường hợp có thể được hoặc cần thiết, vối những điều kiện nhất định, thì có thể cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tô' nước ngoài.
4. Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ
Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống quy phạm xung đột trong pháp luật Việt Nam
Mọi quan hệ dân sự có yếu tô' nước ngoài đều cần phải có hưống dẫn chọn pháp luật để điều chỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vấn không chuẩn xác thì hoặc sự tồn tại của hệ thông quy phạm xung đột hoặc bản thân nguyên tắc đó chỉ có tính chất hình thức.
Trong các văn bản hiện hành có chỗ khẳng định áp dụng pháp luật nưốc ngoài theo chỉ dẫn của quy phạm xung đột, nếu pháp luật nước ngoài không trái với pháp luật Việt Nam (Điều 7 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Điều 4 của Luật Thương mại), hoặc nếu không trái vổi trật tự và lợi ích công cộng của Việt Nam (khoản 3, Điều 4 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam); hoặc nếu việc áp dụng hay hậu quả của việc đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (Điều 828 của Bộ luật Dân sự); hoặc nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc quy định trong luật này (Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam). Các cách quy định nêu trên vừa chưa thật không thông nhất vừa chưa thật chuẩn xác cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
Thực tiễn đã cho chúng ta thấy rằng, pháp luật các nước tư bản chủ nghĩa đương nhiên trái pháp luật nước ta về bản chất giai cấp; các quy định cụ thể trong pháp luật của họ cũng không giống pháp luật nước ta, nếu có giôhg thì chỉ giông về mặt hình thức. Vì vậy, việc khẳng định trái pháp luật Việt Nam thì không áp dụng pháp luật nước ngoài, mặc dù quy phạm xung đột đã chỉ dẫn áp dụng pháp luật nưổc ngoài, thì sẽ dẫn đến tình trạng phủ nhận hoàn toàn việc áp dụng pháp luật nước ngoài. Điều này không phù hợp với thực tiễn của nưốc ta trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài và cũng không đúng về mặt lý luận.
Nếu khẳng định không áp dụng pháp luật nước ngoài khi việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam cũng không đúng cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Bản thân hành vi áp dụng pháp luật nưốc ngoài là hành vi hợp pháp, có cơ sở pháp lý là chỉ dẫn của quy phạm xung đột và không thể nói nó trái hay không trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Chỉ có hậu quả của việc áp dụng pháp luật nưốc ngoài mới có thể trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Nhìn chung, sẽ là đúng và đủ khi khẳng định rằng, không áp dụng pháp luật nước ngoài, nếu hậu quả của việc đó trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
5. Không nên đặt vấn đề xây dựng một đạo luật hay một pháp lệnh
Không nên đặt vấn đề xây dựng một đạo luật hay một pháp lệnh về tư pháp quốc tế để gom tất cả các quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài vào một chỗ như một số’ nước trên thê giới đã làm và một số ít quan điểm tại Việt Nam đã nêu.
Hiện nay ngoài các quy phạm xung đột được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự, các quy phạm xung đột khác của Việt Nam được xây dựng cho từng loại quan hệ dân sự có yếu tố nưốc ngoài và nằm ngay trong các văn bản pháp luật cụa từng chuyên ngành.
Thực tiễn điều chỉnh pháp lý các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tô' nước ngoài ở nước ta từ trước đến nay cho thấy các quy phạm xung đột áp dụng điều chỉnh từng loại quan hệ dân sự nằm trong văn bản pháp luật của từng chuyên ngành là hợp lý nhất. Bỏi vì, mỗi loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đều có đặc thù và cần có các quy phạm xung đột đặc thù, hơn nữa, không thể không quan tâm bảo đảm sự thuận tiện nhất cho các cơ quan, tổ chức và'cá nhân khi vận dụng pháp luật.
Ví dụ, do đặc thù của lĩnh vực hàng không dân dụng, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam (Điều 5) quy định các quyền về sở hữu tầu bay được xác định theo pháp luật quốc gia nơi đăng ký tầu bay, trong khi đó Bộ luật Dân sự Việt Nam (Điều 833) quy định việc xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, nội dung quyền sở hữu đốỉ với tài sản được xác định theo pháp luật nơi có tài sản, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. Chính việc Điều 833 của Bộ luật Dân sự khẳng định trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác chứng tỏ về mặt pháp lý, Nhà nước ta cũng đã chấp nhận phương án để cho các văn bản pháp luật chuyên ngành quy định quy phạm xung đột cho phù hợp với đặc thù của chúng, không cần gom tất cả các quy phạm xung đột vào một đạo luật hay một pháp lệnh.
Như vậy, khi xây dựng các văn bản pháp luật mới về từng lĩnh vực chuyên ngành, phải chú ý xây dựng các quy phạm xung đột ngay trong các văn bản pháp luật chuyên ngành đó.
Nếu các văn bản pháp luật chuyên ngành đã được ban hành trong đó chưa có hoặc có nhưng chưa đầy đủ quy phạm xung đột, thì nên sớm tiến hành bổ sung vào các văn bản này những quy phạm xung đột cần thiết để áp dụng nhằm bảo đảm có đầy đủ quy phạm hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh tất cả các loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Ví dụ, quan hệ thừa kế, vấn đề công nhận một người là mất tích hoặc chết, V.V., thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự, nhưng Bộ luật Dân sự năm 1995 và các văn bản khác có liên quan đang hiện hành chưa có quy phạm xung đột nào. Trên thực tế, có những quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng không có người nước ngoài tham gia và cũng cần được điều chỉnh về mặt pháp lý, song pháp luật hiện nay chưa có quy phạm xung đột để hướng dẫn chọn pháp luật.
Trong một số' lĩnh vực tuy đã có quy phạm xung đột, nhưng tìíng quan hệ cụ thê chưa có đủ quy phạm xung đột.Ví dụ, Điều 834 Bộ luật Dân sự, Điêu 4 Luật Thương mại hướng dẫn chọn pháp luật áp dụng đối với hình thức hợp đồng, đốỉ vối quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng, nhưng chưa quy định pháp luật áp dụng đốì với trình tự, thể thức ký kết hợp đồng ngoại thương.
Như vậy, hệ thông quy phạm xung đột trong pháp luật nước ta hiện nay bao gồm cả quy phạm xung đột một bên và quy phạm xung đột hai bên. Có những trường hợp có thể xây dựng được quy phạm xung đột hai bên, nhưng chúng ta lại xây dựng quy phạm xung đột một bên, cho nên nếu xẩy ra tình trạng khi không thuộc trường hợp phải áp dụng pháp luật Việt Nam thì có thể có việc không biết phải áp dụng pháp luật nưốc nào. Vì vậy, bên cạnh việc xây dựng quy phạm xung đột một bên, phải đặc biệt chú trọng xây dựng quy phạm xung đột hai bên trong những trường hợp có thể chấp nhận được, nhằm tránh tình trạng nêu trên.
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)