1.Khái quát chung về phương pháp giải quyết xung đột pháp luật 

XĐPL là một vấn đề quan trọng trong TPQT. Nó cũng là cơ sở để hình thành nên những phương pháp giải quyết XĐPL hay phương pháp điều chỉnh của TPQT. Có thể hiểu, phương pháp giải quyết XĐPL là việc các quốc gia lựa chọn một hệ thống pháp luật nào đó để áp dụng giải quyết một quan hệ phát luật phát sinh. Điều này có nghĩa là việc lựa chọn HTPL nào để áp dụng sẽ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Tòa án có thẩm quyền hoặc sẽ không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia quan hệ đó nữa. Đây cũng là mục đích của TPQT nhằm đảm bảo giải quyết các tranh chấp có thể phát sinh một cách khách quan, trọn vẹn trên cơ sở hợp tác bình đẳng, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các quốc gia.

Thực tế hiện nay, TPQT ở các nước đều có những cách thức và biện pháp rất riêng và đặc thù của mình để điều chỉnh và phân định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào các QHPL dân sự mang tính chất quốc tế. Đó là hai phương pháp điều chỉnh, cụ thể:

+ Phương pháp xung đột

+ Phương pháp thực chất

Nhìn chung, mỗi phương pháp lại có những ưu thế và hạn chế nhất định tác động hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Do đó, việc phối hợp cả hai phương pháp này một cách mềm dẻo, linh hoạt vào việc giải quyết các quan hệ Tư pháp quốc tế sẽ mang lại những tác động tích cực không chỉ đối với quan hệ đó nói riêng mà lớn hơn là tình hữu hảo, giao lưu, phát triển lâu dài giữa các quốc gia với nhau nói chung.

2.Vấn đề hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột điều chỉnh các QHDS có yếu tô nước ngoài ở VN

Từ năm 1986 đến nay, cùng với việc mở rộng không ngừng mốĩ quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học - công nghệ và văn hoá với các nước trên thế giới, đặc biệt vối các nước trong khu vực, các mối quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài thuộc phạm vi đỉều chỉnh của tất cả các lĩnh vực pháp luật từ pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, lao động, tài chính, hành chính cho đến pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, ... ngày càng phát triển, nội dung ngày càng đa dạng, phức tạp.

Theo nguyên tắc bảo vệ chủ quyền quốc gia, tất cả các nước đều không bao giò đặt vấn đề áp dụng pháp luật nưốc ngoài về hình sự, hành chính, tài chính, tố tụng (bao gồm cả tô' tụng dân sự và tố tụng hình sự), mặc dù các quan hệ xã hội trong những lĩnh vực này có yếu tố nước ngoài. Riêng trong lĩnh vực quan hệ dân sự (bao gồm cả quan hệ hôn nhân và gia đình) có yếu tô' nước ngoài, tất cả các quốc gia đều chấp nhận cho áp dụng pháp luật nưốc ngoài trong những trường hợp nhất định và với những điều kiện nhất định. Việc áp dụng pháp luật nước mình hay pháp luật nước ngoài trong từng trường hợp cụ thể phải do bản thân pháp luật của nước mình hay điều ước quốc tế mà nước mình ký kết hoặc tham gia quy định. Nói cách khác, phải theo chỉ dẫn của quy phạm pháp luật. Trong khoa học về tư pháp quốc tế, như đã trình bày ỏ Chương I và Chương II, quy phạm hướng dẫn chọn pháp luật để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tô' nưốc ngoài được gọi là quy phạm xung đột.

Đánh giá thực trạng và phương hướng hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột trong các văn bản pháp luật của nước ta và cả trong các điều ước quốc tê' mà nước ta ký kết hoặc tham gia nhằm nâng cao hiệu quả đỉều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

3.Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài

Hoàn thiện quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế Việt Nam

Theo Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2013), Bành Quốc Tuấn (2017), quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế Việt Nam điều chỉnh 6 vấn đề đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: Giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn; Giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn; Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng; Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng; Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ giữa cha, mẹ và con; Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, một phần của quan hệ vợ chồng nói chung là một quan hệ phức tạp rất phức tạp vì liên quan đến mối quan hệ mang tính chất cá nhân giữa vợ chồng với nhau, trong đó xác định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng là vấn đề quan trọng nhất. Theo Nông Quốc Bình & Nguyễn Hồng Bắc (2006), “quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng mang yếu tố tình cảm, gắn liền với bản thân vợ chồng, không thể chuyển giao cho người khác”.

Chính vì vậy, việc điều chỉnh pháp luật đối với mối quan hệ này yêu cầu phải phù hợp với các yếu tố thuộc về văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng dân cư như: phong tục, tập quán, lối sống, đạo đức, các quy tắc ứng xử, … Cũng theo Nông Quốc Bình & Nguyễn Hồng Bắc (2006), để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ nhân thân giữa vợ và phải kết hợp các quy định pháp luật với quy tắc đạo đức, chuẩn mực xã hội. Xuất phát từ cơ sở như trên, pháp luật các quốc gia khác nhau thường có phương án rất khác nhau cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh từ các mối quan hệ nhân thân vợ chồng. Đối với quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài, sự khác biệt về phong tục, tập quán, lối sống, … sẽ làm phát sinh nhiều vấn đề cần được điều chỉnh bằng pháp luật để duy trì quan hệ cũng như hạn chế các hậu quả có thể phát sinh. Xuất phát từ tính chất quan trọng này, để đảm bảo tính ổn định của các quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, Tư pháp các nước đều xây dựng các quy phạm xung đột để xác định luật áp dụng điều chỉnh. Đối với những nước áp dụng hệ thuộc Luật quốc tịch để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến cá nhân (Pháp, Đức, Italia…) thì quan hệ nhân thân giữa vợ chồng sẽ được giải quyết theo pháp luật của nước mà vợ chồng mang quốc tịch.

Ví dụ: Điều 60 Luật Tư pháp quốc tế Bỉ 2004, Điều 11 Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp. Nếu vợ chồng không chung một quốc tịch thì pháp luật của nước người chồng mang quốc tịch sẽ được áp dụng.

Ví dụ: Điều 17 Luật tư pháp quốc tế của Ba Lan ngày 11-12-1965. Đối với những nước áp dụng hệ thuộc Luật nơi cư trú để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến cá nhân (Anh, Mỹ, Na-uy…) thì quan hệ nhân thân giữa vợ chồng sẽ do pháp luật nơi cư trú chính thức của họ điều chỉnh.

Đối với hệ thống pháp luật Việt Nam, các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên đều có các quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng của công dân hai nước liên quan. Hệ thuộc chủ yếu được ghi nhận trong các hiệp định là Luật quốc tịch (Lex patrae) hoặc hệ thuộc Luật nơi cư trú (Lex domicilii) hoặc thường trú của vợ chồng. Một số hiệp định áp dụng kết hợp cả hệ thuộc Luật quốc tịch cà hệ thuộc Luật nơi cư trú.

Ví dụ: Điều 26 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Lào; Điều 25 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Liên bang Nga. Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Tiệp Khắc (cũ), Việt Nam và Cuba, Việt Nam và Hungary, Việt Nam và Bungari, Việt Nam và Ba Lan, Việt Nam và Lào.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, đến thời điểm hiện tại chưa có trường hợp nào áp dụng các quy định của Hiệp định tương trợ tư pháp để xác định luật áp dụng điều chỉnh một quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài liên quan đến Việt Nam vì phần lớn các trường hợp khi giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài có liên quan đến công dân Việt Nam đều áp dụng pháp luật Việt Nam trực tiếp mà không xuất phát từ sự dẫn chiếu của các quy phạm xung đột trong các Hiệp định tương trợ tư pháp. Thực trạng này đã phát sinh từ giai đoạn áp dụng Bộ luật Dân sự 2005 và tiếp tục cho đến hiện nay. Theo Hoa Hữu Long (2013), luật áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có khả năng là bất kỳ hệ thống pháp luật của quốc gia nào, kể cả pháp luật của nước ngoài và Việt Nam do kết quả dẫn chiếu của quy phạm xung đột. Kết quả tổng kết cho thấy trên thực tế ở nước ta chưa một Tòa án nào áp dụng pháp luật nước ngoài trong việc giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Điều này dẫn đến quy phạm xung đột của các Hiệp định tương trợ tư pháp đều không thể giải quyết vấn đề xác định luật áp dụng điểu chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài. Hiện nay, nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước đang được rà soát, thẩm định để đề xuất kế hoạch làm việc với quốc gia thành viên còn lại nhằm sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn.

Ví dụ: Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Hungary, Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Lào … Điều này càng làm cho cơ hội áp dụng các quy phạm xung đột của Hiệp định tương trợ tư pháp để chọn luật áp dụng điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng càng trở nên khó khăn.

Tóm lại, tham khảo kinh nghiệm lập pháp quốc tế cũng như quy phạm xung đột của các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên cho thấy để xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài có hai hệ thuộc được áp dụng phổ biến là Luật quốc tịch và Luật nơi cư trú của vợ chồng. Một số trường hợp ngoại lệ áp dụng luật quốc tịch của người chồng nếu vợ chồng khác quốc tịch hoặc áp dụng luật nơi vợ chồng thường trú nếu vợ chồng không có nơi cư trú chung. Mặc dù các quy phạm này chưa có cơ hội áp dụng trên thực tế nhưng phù hợp với các nguyên tắc của Tư pháp quốc tế cũng như hệ thống các quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế Việt Nam thường theo xu hướng áp dụng hệ thuộc Luật quốc tịch.

Đối với quy phạm xung đột trong văn bản pháp luật trong nước, đến thời điểm hiện tại chưa có bất cứ quy phạm xung đột xác định luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài. Theo Bành Quốc Tuấn (2013), vấn đề này đã tồn tại từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và vẫn không được giải quyết ở Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là đạo luật trực tiếp điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài hiện nay. Theo Bành Quốc Tuấn (2017), giải pháp đề xuất tạm thời cho vấn đề này là áp dụng quy định tương tự. Bởi theo Điều 6 về “Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan” và Điều 122 về “Áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” Luật hôn nhân gia đình năm 2014, pháp luật áp dụng có thể là luật Việt Nam (Luật hôn nhân gia đình và các quy định pháp luật khác có liên quan về tài sản, nhân thân…). Như vậy, trong trường hợp luật áp dụng giải quyết về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài là luật Việt Nam thì các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trong nước sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, nếu được triển khai trong thực tế thì đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời và cho đến thời điểm hiện tại cũng chưa có trường hợp nào trên thực tiễn áp dụng pháp luật theo giải pháp đề xuất này.

Tóm lại, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, việc bổ sung quy phạm xung đột xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài vào Luật Hôn nhân và gia đình với vị trí là đạo luật chuyên ngành sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.

4. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài

Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, một phần của quan hệ vợ chồng nói chung, cũng là một quan hệ phức tạp rất phức tạp vì liên quan đến tính chất của mối quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Về mặt lý luận, trong Tư pháp quốc tế có nhiều quan điểm về tính chất của mối quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Theo Harry D. Krause & David D. Meyer (2003), về cơ bản có các quan điểm chính sau đây:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một quan hệ nhân thân. Quan điểm này xuất phát từ cơ sở lý luận, quan hệ hôn nhân là nguồn gốc làm phát sinh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Vấn đề tài sản vợ chồng, xét ở góc độ pháp lý, chỉ có thể đặt ra trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật. Khi quan hệ hôn nhân chấm dứt thì vấn đề tài sản giữa vợ chồng cũng phải chấm dứt theo hoặc chuyển sang tồn tại dưới một hình thức pháp lý khác. Vì vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, không thể xem quan hệ tài sản giữa vợ chồng như là một loại quan hệ tài sản thông thường và vì thế, phải có chế độ pháp lý riêng dành cho loại quan hệ tài sản này.

Quan điểm thứ hai cho rằng, quan hệ tài sản giữa vợ chồng, xét về mặt tính chất, không có gì khác biệt so với các quan hệ tài sản thông thường khác. Chính vì vậy, quan hệ tài sản giữa vợ chồng có thể áp dụng các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản thông thường khác. Quan điểm này làm phát sinh các chế độ tài sản khác nhau trong quan hệ vợ chồng như: Tài sản chung, tài sản riêng, tài sản đầu tư chung của vợ chồng…

Quan điểm thứ ba cho rằng, quan hệ tài sản giữa vợ chồng mang tính chất của một quan hệ hợp đồng. Trên thực tế, một số nước chấp nhận những hình thức chung sống gần giống với kết hôn dựa trên cơ sở “thỏa thuận tổ chức cuộc sống chung” (không phải là đăng ký kết hôn mà chỉ là đăng ký sống chung). Một số nước phương Tây, thậm chí còn chấp nhận cả quan hệ hôn nhân như một quan hệ hợp đồng. Vì vậy, chế độ tài sản của vợ chồng cũng chịu ảnh hưởng bởi các quy định về quan hệ tài sản trong hợp đồng.

Việc xác định tính chất của mối quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có ảnh hưởng quyết định đến việc xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ này. Xuất phát từ khác nhau về chế độ chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, pháp luật các nước khác nhau đều có cách giải quyết khác nhau đối với quan hệ tài sản vợ chồng có yếu tố nước ngoài từ đó làm phát sinh xung đột pháp luật trong chế định này. Để giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ tài sản giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài, pháp luật các nước quy định nhiều nguyên tắc khác nhau. Đối với các nước trong hệ thống Common Law và một số nước châu Âu khác, pháp luật không quy định riêng chế định về tài sản của vợ chồng mà chỉ áp dụng quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản nói chung để giải quyết. Trong trường hợp vợ chồng có tài sản ở nước ngoài thì áp dụng Luật nơi cư trú chính thức của vợ chồng để giải quyết xung đột pháp luật. Đối với các nước áp dụng Luật nhân thân ở châu Âu thì hệ thuộc Luật của nước mà vợ chồng cùng mang quốc tịch được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng (Điều 17 Luật tư pháp quốc tế của Ba Lan ngày 11-12-1965, Điều 94 Luật gia đình Bungari). Trong trường hợp vợ chồng không cùng quốc tịch thì Luật của nước nơi vợ chồng sống chung được áp dụng (Khoản 1, khoản 2 Điều 48 Luật Tư pháp quốc tế Liên bang Thụy Sĩ ngày 18-12-1987). Trong trường hợp vợ chồng không có nơi sống chung thì áp dụng Luật tòa án để giải quyết (Khoản 3 Điều 48 Luật tư pháp quốc tế Liên bang Thụy Sĩ ngày 18-12-1987). Đặc biệt, Tư pháp quốc tế nhiều nước đều quy định vợ chồng có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng điều chỉnh quan hệ tài sản giữa họ với nhau (Điều 52, 53 Luật tư pháp quốc tế Liên bang Thụy Sĩ, Điều 49 – 51 Luật tư pháp quốc tế Bỉ).

Đối với Việt Nam, về mặt lý luận, pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam qua các thời kỳ đều không xem quan hệ tài sản vợ chồng là một quan hệ tài sản thông thường và vì thế, luôn có chế độ pháp lý riêng dành cho loại quan hệ tài sản này. Theo Nông Quốc Bình & Nguyễn Hồng Bắc (2006), pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qua các giai đoạn phát triển cho thấy Việt Nam chưa bao giờ quan niệm quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một quan hệ tài sản thông thường hoặc một quan hệ hợp đồng mà vẫn nặng về yếu tố nhân thân, tình cảm vợ chồng. Còn theo Nguyễn Ngọc Điện (2014), chế độ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hợp nhất nhưng trong trường hợp ly hôn, khối tài sản vợ chồng sẽ chuyển thành sở hữu chung theo phần có thể phân chia. Nói cách khác, Việt Nam không theo quan điểm nào trong ba quan điểm trình bày ở trên. Điều này có ảnh hưởng quyết định đến các quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh quan hệ tài sản vợ chồng nói riêng, quan hệ tài sản vợ chồng có yếu tố nước ngoài nói riêng.

5.Khái quát chung vấn đề quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài TPQT VN

Quá trình hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng cộng với việc di dân ngày càng diễn ra mạnh mẽ đã làm phát sinh trên thực tế ngày càng nhiều các mối quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Điều chỉnh pháp luật đối với các mối quan hệ hôn nhân và gia đình đã trở thành một yêu cầu cấp thiết bởi vì khi một quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phát sinh sẽ kéo theo hiện tượng nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia điều chỉnh mối quan hệ đó. Việc giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được thực hiện bằng cách xây dựng và áp dụng các quy phạm xung đột, bao gồm: Các quy phạm xung đột quốc nội do từng nước xây dựng và quy phạm xung đột quốc tế trong các điều ước quốc tế do các nước thỏa thuận ký kết.

Hệ thống quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế Việt Nam điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã không ngừng được hoàn thiện trong thời gian gần đây. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành thay thế cho Luật hôn nhân và gia đình 2000, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, đã bổ sung nhiều quy phạm xung đột chọn luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, vẫn còn những quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa có quy phạm xung đột điều chỉnh: Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung phân tích những vấn đề này và đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)