Khái quát chung về quy phạm xung đột

Xung đột pháp luật là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài (Quan hệ tư pháp quốc tế).

Quy phạm xung đột là quy phạm ấn định luật pháp nước nào cần phải áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể. Đó có thể là quy phạm xung đột thông thường (do các quốc gia tự xây dựng) hoặc quy phạm xung đột thống nhất (các quốc gia thoả thuận xây dựng nên trong các điều ước quốc tế).

Đối với quy phạm xung đột, do tính đặc thù của nó là loại quy phạm chỉ nhằm dẫn chiếu luật nên về cơ cấu quy phạm xung đột chỉ có hai phần: phần phạm vi và phần hệ thuộc. Trong đó, phạm vi là phần chỉ ra quy phạm xung đột nào được áp dụng cho loại quan hệ dân sự theo nghĩa rộng nào; Hệ thuộc là chỉ ra hệ thống pháp luật nước nào được áp dụng để điều chỉnh quan hệ đã được xác định trong phần phạm vi. Để áp dụng quy phạm xung đột một cách

đúng đắn và đầy đủ, cần biết rõ về các hệ thuộc cơ bản mà tư pháp Việt Nam cũng như các nước trên thế giới áp dụng. Gồm có: hệ thuộc luật nhân thân, hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân, hệ thuộc luật nơi có tài sản, hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi, hệ thuộc luật do các bên kí kết hợp đồng lựa chọn, hệ thuộc luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại và hệ thuộc luật toà án.

Các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân quy định tại Chương XXVII BLDS 2015 là các quan hệ tài sản,quan hệ nhân thân có yếu tố nước ngoài. Khi một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài xảy ra, có thể có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng nhau điều chỉnh, quy phạm xung đột ghi nhận tại Chương này sẽ được sử dụng để xác định hệ thống pháp luật áp dụng nhằm điều chỉnh.

Quy phạm xung đột áp dụng với những quan hệ nào?

Quan hệ tài sản

Quan hệ nhân thân

Phân loại tài sản và quyền sở hữu và quyền khác với tài sản

Thứ nhất, áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản để phân loại tài sản. Điều 667 BLDS 2015 quy định về phân loại tài sản như sau: “Việc phân loại tài sản là động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản”. Tài sản có thể gồm tài sản vô hình và tài sản hữu hình, tuy nhiên điều luật này chỉ đề cập tới tài sản hữu hình; trong đó, tài sản hữu hình được chia thành động sản và bất động sản. Mỗi quốc gia lại có những cách quy định cụ thể khác nhau về từng loại tài sản này, có loại tài sản ở nước này là bất động sản, nhưng ở nước khác lại không phải; với mỗi loại tài sản thì lại có những quy định riêng để điều chỉnh. Vì vậy, việc phân định tài sản là động sản hay bất động sản là cần thiết, bởi nó có thể dẫn tới những kết quả khác nhau khi áp dụng pháp luật khác nhau. Theo quy định tại Điều 667 BLDS 2015, tài sản ở đâu pháp luật nước đó sẽ là căn cứ để xem xét tài sản đó là động sản hay bất động sản. Ở quy định này, pháp luật Việt Nam căn cứ vào hệ thuộc luật nơi có tài sản để điều chỉnh quan hệ và điều đó là phù hợp. Đây là hệ thuộc luật cơ bản nhất để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến tài sản, bởi lẽ tài sản trong các quan hệ này chính là điểm kết nối, yếu tố trung tâm của quan hệ, thể hiện sự khách quan nhất cho tất cả các bên tham gia quan hệ cũng như các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc.

Thứ hai, về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản. Theo khoản 1 Điều 678 BLDS 2015, pháp luật Việt Nam áp dụng chung cùng một hệ thuộc luật là hệ thuộc luật của nước nơi có tài sản đối với cả tài sản là động sản và bất động sản trong các quan hệ liên quan đến việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác trừ trường hợp tài sản là động sản và tài sản đó lại đang trên đường vận chuyển (khoản 2 Điều 678 BLDS 2015). Trong trường hợp này, không áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản mà thay vào đó là hệ thuộc luật của nước do các bên thoả thuận lựa chọn hoặc luật của nước nơi động sản được chuyển đến. Điều này xuất phát từ hai lí luận căn bản sau:

Đầu tiên, quan hệ sở hữu nói riêng và quan hệ dân sự nói chung là các quan hệ giữa các cá nhân, pháp nhân với nhau, các chủ thể này ngang quyền và bình đẳng với nhau, nên việc thoả thuận, thương lượng luôn được ưu tiên, tôn trọng. Thứ hai, nếu các bên không thoả thuận chọn pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước nơi tài sản được chuyển đến sẽ được áp dụng. Bởi nếu áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản thì cơ quan có thẩm quyền sẽ rất khó khăn trong việc xác định vị trí tồn tại của tài sản nhất là khi nó là tài sản di động. Do vậy, hệ thuộc luật nước nơi tài sản được chuyển đến sẽ được áp dụng để giải quyết vấn đề sở hữu đối với tài sản là động sản trên đường vận chuyển.

Quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản đặc biệt, độc đáo, vì vậy bảo hộ quyền này không giống với các loại tài sản thông thường khác, đặc biệt là trong phạm vi quốc tế. Bởi lẽ, quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trên cơ sở pháp luật nước nào sẽ chỉ được bảo hộ ở nước đó thôi hoặc có thể hiểu là phạm vi quyền sở hữu trí tuệ chỉ được giới hạn bởi phạm vi hiệu lực của pháp luật bảo vệ nó. Do đó, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là vô cùng khó khăn trong trường hợp có rào cản về chủ quyền quốc gia. Để có thể bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi quốc tế, các quốc gia đã kí với nhau các điều ước quốc tế về vấn đề này.

Riêng đối với quy phạm xung đột trong pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài, ngoài việc tự xây dựng các quy định, pháp luật Việt Nam còn nội luật hoá các quy định trong điều ước quốc tế mà quốc gia mình tham gia vào pháp luật quốc gia. Điều 679 BLDS 2015 quy định: “Quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ”. Đây là một quy phạm xung đột hai chiều, lần đầu tiên được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam về vấn đề pháp luật đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Quy phạm xung đột về thừa kế

Chương XXVII quy định các vấn đề về thừa kế có yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài ở đây có thể là một trong các điều kiện sau: người để lại thừa kế là cá nhân nước ngoài hoặc người nhận thừa kế là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; hoặc di sản thừa kế tồn tại ở nước ngoài; hoặc sự kiện chết xảy ra ở nước ngoài.

- Thừa kế theo pháp luật

Quan hệ thừa kế theo pháp luật nghĩa là người chết đã không có di chúc để lại hoặc có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp, khi đó tài sản là di sản thừa kế sẽ được phân chia và các vấn đề liên quan sẽ được điều chỉnh bởi Điều 680 BLDS 2015. Nội dung khoản 1 điều luật này quy định: “Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết”. Đây là một quy phạm xung đột, sử dụng hệ thuộc luật quốc tịch để xác định hệ thống pháp luật được áp dụng để điều chỉnh mối quan hệ này. Như vậy, các vấn đề về thừa kế theo pháp luật như xác định hàng thừa kế, diện thừa kế, thời điểm mở thừa kế, quyền và nghĩa vụ của người thừa kế, tài sản thừa kế,… đều được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết.

Việc thừa kế kể cả đối với tài sản là bất động sản cũng được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật được xác định theo hệ thuộc luật quốc tịch. Tuy nhiên, bởi bất động sản là một loại tài sản đặc biệt, pháp luật Việt Nam quy định việc thực hiện quyền thừa kế đối với loại tài sản này sẽ có những điểm khác biệt và hệ thuộc luật nơi có tài sản được sử dụng để xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh. Ví dụ, trên pháp luật Việt Nam thừa nhận quyền thừa kế của vợ con người nước ngoài nhưng nếu họ không thuộc diện được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì vợ con người đó không thể đứng tên là chủ sở hữu của căn hộ đó, họ chỉ được phép hưởng giá trị ngôi nhà mà thôi.

- Thừa kế theo di chúc

Thừa kế theo di chúc là trường hợp một người chết đi và có di chúc để lại, di chúc đó là hợp pháp. Trong quan hệ thừa kế theo di chúc chỉ có hai vấn đề là năng lực lập di chúc và hình thức di chúc được pháp luật quy định.

Thứ nhất, về năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc huỷ bỏ di chúc được quy định tại khoản 1 Điều 681 BLDS 2015: “… được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc huỷ bỏ di chúc”. Theo đó, hệ thuộc được pháp luật Việt Nam lựa chọn áp dụng là hệ thuộc luật quốc tịch. Bởi việc lập di chúc được xem là một hành động thiêng

liêng, hệ trọng, do đó cần áp dụng pháp luật thân thiết nhất với họ để điều chỉnh, và đó chính là quốc tịch.

Thứ hai, để được coi là hợp pháp thì di chúc còn phải đảm bảo có một hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Theo quy định của khoản 2 Điều 681 BLDS 2015, hình thức di chúc được xác định theo pháp luật nơi di chúc được lập và được công nhận tại Việt Nam nếu thoả mãn một trong các điều kiện quy định tại điểm a, b, hoặc c. Có thể thấy, hệ thuộc luật của nước nơi lập di chúc được ưu tiên áp dụng. Nếu hình thức di chúc phù hợp với pháp luật đó thì di chúc hợp pháp về hình thức. Nhưng nếu căn cứ vào pháp luật nước nơi di chúc được lập thì di chúc đó không phù hợp về hình thức, trường hợp này các cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét đến các hệ thống pháp luật có liên quan khác, ví dụ như, hệ thuộc luật nơi cư trú hoặc hệ thuộc luật quốc tịch hoặc hệ thuộc luật nơi có tài sản.

Quy phạm xung đột về giám hộ

Căn cứ Điều 682 BLDS 2015, quan hệ giám hộ phải được xác định theo pháp luật của nước nơi người được giám hộ cư trú, tức là áp dụng hệ thuộc luật nơi cú trú để xác định pháp luật áp dụng. Xuất phát từ việc mục đích của giám hộ là để người được giám hộ được chăm sóc, bảo vệ quyền lợi thì các vấn đề đó phần lớn sẽ diễn ra tại nơi người được giám hộ cư trú. Việc áp dụng sẽ đmar bảo tốt nhất quyền lợi của cá nhân người được giám hộ lẫn đảm bảo cho cơ quan có thẩm quyền thuận lợi trong việc điều chỉnh các quan hệ.

Quy phạm xung đột về hợp đồng

Hợp đồng là sự thoả thuận của các bên, do đó, xuất phát từ sự thoả thuận, cho phép việc lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng do các bên thoả thuận. Do đó, áp dụng hệ thuộc luật do các bên kí kết hợp đồng lựa chọn để xác định hệ thống pháp luật được áp dụng để điều chỉnh quan hệ về hợp đồng. Tuy nhiên, pháp luật áp dụng phải không ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của người lao động, người tiêu dùng theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nếu rơi vào trường hợp này thì hệ thuộc luật thay thế sẽ là pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, pháp luật áp dụng do sự thoả thuận của các bên phải không được gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thứ ba

Nếu các bên không thoả thuận hoặc không thoả thuận được pháp luật áp dụng thì sẽ áp dụng hệ thống pháp luật của nước có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng. Cụ thể: hệ thuộc luật nơi cư trú đối với cá nhân hoặc pháp nhân hoặc hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân đối với pháp nhân (đối với hợp đồng mua bán, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng tiêu dùng); hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi (đối với hợp đồng lao động mà người lao động mà người lao động thường xuyên thực hiện công việc ở một nước nhất định) hoặc hệ thuộc luật nơi cư trú (đối với hợp đồng lao động mà không xác định được nơi thường xuyên thực hiện công việc của người lao động).

Thực tế, mặc dù đã quy định nếu các bên không thoả thuận được pháp luật áp dụng thì sẽ áp dụng khoản 2 Điều 683 BLDS 2015. Tuy nhiên, thực tế sẽ có những tình huống mà luật không thể dự đoán hết được, do đó, nếu chứng minh được pháp luật của nước khác có mối quan hệ gắn bó hơn thì sẽ áp dụng pháp luật nước đó để điều chỉnh quan hệ

Riêng với tài sản là bất động sản, vì là loại tài sản đặc biệt, nên hệ thuộc luật áp dụng để xác định hệ thống pháp luật áp dụng điều chỉnh mối quan hệ có đối tượng là bất động sản sẽ là hệ thuộc luật của nước nơi có bất động sản.

Với hình thức của hợp đồng, pháp luật điều chỉnh cũng chính là pháp luật đã được áp dụng để điều chỉnh chung của hợp đồng đó. Trường hợp hình thức hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoăc pháp luật việc nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam.