- I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY PHẠM XUNG ĐỘT
- 1. Khái niệm quy phạm xung đột.
- 2. Cơ cấu của quy phạm xung đột
- II. THỐNG KÊ VÀ BÌNH LUẬN VỀ CÁC HỆ THUỘC LUẬT TẠI PHẦN V BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015.
- 1. Quy phạm xung đột trong lĩnh vực chủ thể
- a) Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài
- b) Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài
- c) Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài
- 2. Quy định về việc áp dụng tập quán quốc tế
- 3. Quy phạm xung đột về quyền sở hữu tài sản
- 4. Quy phạm xung đột về thừa kế
- a) Thừa kế theo pháp luật
- b) Thừa kế theo di chúc
- 5. Quy phạm xung đột về hợp đồng và giao dịch dân sự.
- a) Quan hệ hợp đồng
- b) Hành vi pháp lý đơn phương
- c) Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- 6. Quy phạm xung đột trong Sở hữu trí tuệ
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY PHẠM XUNG ĐỘT
1. Khái niệm quy phạm xung đột.
- Trước tiên, xung đột pháp luật là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Trong tư pháp quốc tế, khi xuất hiện xung đột pháp luật tức là xuất hiện hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể tham gia điều chỉnh quan hệ và không phải lúc nào các quan hệ này cũng được điều chỉnh bằng các quy phạm thực chất, nên các cơ quan có thẩm quyền phải “ chọn” trong hai hay nhiều hệ thống pháp luật có liên quan ấy một hệ thống pháp luật để điều chỉnh quan hệ đang xem xét. Quy phạm xung đột chính là căn cứ pháp lý của sự lựa chọn này.
Quy phạm xung đột là một quy phạm pháp luật đặc biệt bởi quy phạm xung đột không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ mà chỉ nhằm xác định hệ thống pháp luật áp dụng mà thôi.
- Có thể định nghĩa quy phạm xung đột là quy phạm ấn định luật pháp nước nào cần phải áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể.
2. Cơ cấu của quy phạm xung đột
Đối với quy phạm xung đột, do tính đặc thù của nó là loại quy phạm chỉ nhằm dẫn chiếu luật nên về cơ cấu quy phạm xung đột chỉ có hai phần, hay hai bộ phận là phần phạm vi và phần hệ thuộc.
Phạm vi là phần chỉ ra quy phạm xung đột này được áp dụng cho loại quan hệ dân sự theo nghĩa rộng nào, đó có thể là quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng, quan hệ thừa kế.. và thông thường phạm vi sẽ luôn đứng ở đầu câu. Ví dụ, Điều 679 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ”, trong quy phạm này phần phạm vi chính là phần đầu câu chỉ ra quan hệ về quyền sở hữu trí tuệ sẽ được điều chỉnh bởi quy phạm này.
Hệ thuộc là phần chỉ ra hệ thống pháp luật nước nào được áp dụng để điều chỉnh quan hệ đã được xác định trong phần phạm vi. Phần hệ thuộc chính là phần dẫn chiếu luật, thông thường phần này sẽ đứng cuối câu, sau phần phạm vi và các điều kiện đặc biệt (nếu có). Như Điều 679 nêu trên hệ thuộc là phần chỉ ra luật của nước nơi người yêu cầu được bảo hộ. Như vậy người yêu cầu bảo hộ ở đâu thì luật nước đó được áp dụng điều chỉnh quan hệ về quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài.
Một quy phạm xung đột thông thường sẽ có một phạm vi và một hệ thuộc tức là một loại quan hệ nhất định sẽ được điều chỉnh bởi một hệ thống pháp luật xác định. Tuy nhiên cũng có các trường hợp ngoại lệ như một quy phạm xung đột có một phạm vi nhưng có nhiều hệ thuộc hay quy phạm xung đột có nhiều phạm vi nhưng tất cả đều được điều chỉnh bơi một hệ thuộc luật. (Khoản 2 Điều 681, Khoản 1 Điều 678 BLDS 2015)
II. THỐNG KÊ VÀ BÌNH LUẬN VỀ CÁC HỆ THUỘC LUẬT TẠI PHẦN V BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015.
Việc dành toàn bộ Phần thứ V (24 Điều, từ Điều 663 đến Điều 687) của Bộ luật dân sự 2015 để điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng hệ thống các quy phạm xung đột ở nước ta. Khác với Bộ luật dân sự 2005, Bộ luật dân sự hiện hành quy định thêm về phạm vi áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài từ đó xác định trường hợp pháp luật để áp dụng.
1. Quy phạm xung đột trong lĩnh vực chủ thể
Cá nhân và pháp nhân của nước sở tại khi tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định họ cũng trở thành chủ thể của tư pháp quốc tế. Ví dụ: công dân Việt Nam kết hôn với công dân nước ngoài, hai pháp nhân Việt Nam kí kết hợp đồng với nhau tại nước ngoài…
Người nước ngoài được xem là chủ thể đặc trưng và phổ biến nhất của tư pháp quốc tế. Năng lực chủ thể là khả năng mà Nhà nước cho phép cá nhân, tổ chức nào đó tham gia vào quan hệ pháp luật khi đã thỏa mãn nhưng điều kiện nhất định được pháp luật quy định. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, năng lực chủ thể của người nước ngoài được xác định bởi hai yếu tố là năng lực pháp lực pháp lực và năng lực hành vi.
a) Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài
Điều 673 BLDS 2015 là khung pháp lý cơ bản về năng lực pháp luật của cá nhân là người nước noài. Quy định này khẳng định năng lực pháp luật của cá nhân người nước ngoài sẽ đực xác định theo pháp luật của nước mà người đó mang quốc tịch, hay nói cách khác là nước mà người đó là công dân. Quy định này thể hiến sự gắn bó mật thiết giữa cá nhân với quốc gia mà họ mang quốc tịch, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài khi tham gia vào các quan hệ dân sự. Điều 673 của BLDS 2015 tuy có sự hoán đổi về câu chữ tại khoản 2 nhưng thực chất đã kế thừa toàn bộ nội dung của Điều 761 BLDS trước đó.
Xuất phát từ nguyên tắc không phân biệt đối xử khi tham gia vào các quan hệ tư pháp quốc tế, về cơ bản, người nước ngoài được đối xử bình đẳng với nhau và với công dân Việt Nam. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực liên quan đến chính trị, an ninh quốc gia, người nước ngoài phải chịu những hạn chế nhất định so với công dân Việt Nam, ví dụ như: người nước ngoài không được tham gia bầu cử, ứng cử các chức danh nhà nước, không được làm việc trong một số ngành nghề liên quan tới an ninh quốc gia,..
b) Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài
Trong viêc quy định năng lực hành vi của cá nhân pháp luật Việt Nam áp dụng nguyên tắc Luật quốc tịch. Cụ thể tại Điều 674 BLDS 2015 năng lực hành vi của cá nhân là người nước ngoài được xác lập theo pháp luật của nước mà người đó là công dân. Đây là một quy định phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế vì do điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau mà mỗi cá nhân sẽ có những khả năng bằng hành vi của mình xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự khác nhau.
Tuy nhiên, bên cạnh việc xác định năng lực hành vi của người nước ngoài theo luật quốc tịch, khoản 2 Điều này ghi nhân trường hợp không áp dụng nguyên tắc Luật quốc tịch. Cụ thể là trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự trên lãnh thổ Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó sẽ được xác định theo pháp luật Việt Nam. Quy định giúp thuận tiện cho các giao dịch dân sự mà người nước ngoài xác lập, thực hiện tại Việt Nam.
Nếu trong trường hợp chủ thể trong quan hệ TPQT có nhiều quốc tịch thì căn cứ áp dụng pháp luật sẽ theo quy định tại khoản 2 Điều 672 BLDS 2015 “pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và mối liên hệ gắn bó nhất.” Pháp luật nước được coi là gắn bó nhất sẽ được xác định theo từng trường hợp, hoàn cảnh, từng loại quan hệ nhất định. Điều kiện sống ở nước họ mang quốc tịch và nơi họ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới tư duy của họ khi tham gia quan hệ TPQT. Điều này đảm bảo cho chủ thể được đảm bảo quyền và nghĩa vụ và giúp dễ dàng lựa chọn pháp luật áp dụng.
khỏan 2 Điều 672 BLDS 2015 còn bổ sung trường hợp khi “pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam.” Quy định này là tất yếu bởi lẽ khi một cá nhân có quốc tịch Việt Nam thì họ vẫn là công dân Việt Nam và luôn chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Cùng với đó, việc xác định người không có, mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng như việc xác định một người mất tích hoặc đã chết là những việc cần thiết và cũng thường gặp trong quan hệ dân sự nói chung và quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng. Để giải quyết vấn đề này, pháp luật Việt Nam quy định khá chi tiết tại Điều 672, 675 BLDS 2015. Theo đó, pháp luật Việt Nam áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch vì vấn đề này liên quan trực tiếp đến nhân thân của người đó. Cần quy định như vậy bởi vì các quyền và nghĩa vụ công dân gắn liền với người bị tuyên bố như trên sẽ do nước nơi người đó có quốc tịch quyết định và ảnh hưởng lớn về sau trong quan hệ của họ tại nước đó.
c) Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài
Bên cạnh cá nhân, pháp nhân nước ngoài cũng là một chủ thể quan trọng trong TPQT. Điều 80 BLDS 2015 quy định: “Pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam”. Phù hợp với quy định này, Điều 676 BLDS 2015 nêu rõ: “Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập”. Điều này thể hiện rõ một trong các đặc điểm đặc thù của pháp nhân đó là bao giờ cũng do một nhà nước thành lập và thừa nhận.
2. Quy định về việc áp dụng tập quán quốc tế
Điều 666 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Các bên được lựa chọn tập quán quốc tế trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này. Nếu hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.”
3. Quy phạm xung đột về quyền sở hữu tài sản
Ở Việt Nam trong những năm vừa qua với chính sách mở cửa phát triển nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã có nhiều người nước ngoài đầu tư và sở hữu tài sản tại VN và có nhiều công dân VN đi đầu tư kinh doanh ở nước ngoài. Các quan hệ sở hữu phát sinh vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia đòi hỏi phải có sự điều chỉnh về mặt pháp lí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ sở hữu trên phạm vi quốc tế. BLDS VN cũng dựa trên nguyên tắc chung phổ biến này để giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu và được khái quát tại Điều 678 BLDS 2015. Theo đó, việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này cụ thể là quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản là động sản trên đường vận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đến, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nguyên tắc luật nơi có tài sản cũng được pháp luật Việt Nam áp dụng để định danh tài sản. Theo Điều 677 BLDS 2015 thì: “Việc phân loại tài sản là động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản.”
4. Quy phạm xung đột về thừa kế
a) Thừa kế theo pháp luật
Trong trường hợp người để lại thừa kế không có di chúc hoặc di chúc vô hiệu thì di sản đó sẽ được phân chia theo quy định tại pháp luật. Tại khoản 1 Điều 680 BLDS 2015, pháp luật VN lựa chọn hệ thuộc luật quốc tịch của người để lại di sản để giải quyết xung đột về thừa kế theo pháp luật trong TPQT. Xuất phát từ bản chất tài sản đối với bất động sản của quan hệ thừa kế cũng như từ tính chất đặc biệt của loại tài sản này nên BLDS đã quy định “quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản”. Đối với các loại quan hệ có yếu tố nước ngoài có liên quan đến bất động sản thì hầu hết áp dụng hệ thuộc Luật nơi có bất động sản, quan điểm này được thể hiện trong nhiều quy phạm pháp luật khác. Nếu di sản không có người thừa kế là bất động sản thì di sản này sẽ thuộc về Nhà nước nơi có bất động sản đó.
b) Thừa kế theo di chúc
Hiệu lực của di chúc là điều được chú ý khi có di chúc phân chia tài sản. Để đảm bảo cho di chúc phân chia di sản có hiệu lực, cần xác định người lập di chúc có đầy đủ năng lực lập di chúc hay không và hình thức của di chúc có hợp pháp hay không.
Năng lực lập di chúc của người lập di chúc được xác định ở Khoản 1 Điều 681 BLDS 2015 với hệ thuộc pháp luật VN lựa chọn áp dụng là Luật quốc tịch để giải quyết xung đột. Việc lập di chúc là quyền của mọi cá nhân để được định đoạt tài sản của mình và việc lập di chúc là việc cá nhân bằng chính hành vi của mình xác lập và thực hiện quyền đó. Nói cách khác đây là năng lực chủ thể của một cá nhân (bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi). Quy định này chưa hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 674 BLDS 2015 bởi theo Điều 674 những di chúc được lập tại Việt Nam thì năng lực pháp lực đấy sẽ phải tuân theo pháp luật Việt Nam chứ không phải theo nước họ mang quốc tịch. Quy định này hợp lý để nhà nước Việt Nam đảm bảo quản lý nhà nước đối với di chúc được lập tại nước mình và cần bổ sung thêm trường hợp này vào Điều 681 để đảm bảo thống nhất trong hệ thống pháp luật VN.
Về hình thức của di chúc: pháp luật quy định hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc. Quy định còn mang tính cứng nhắc bởi vì đôi khi người lập di chúc không hiểu biết gì về pháp luật của nước họ lập di chúc nhưng vì lý do gì đó họ chưa thể về nước mình mang quốc tịch để lập di chúc. Lúc này di chúc không phù hợp về mặt hình thức, ảnh hưởng rất lớn đến quyền để lại di sản của họ. Quy định cho phép người lập di chúc được quyền lựa chọn hình thức di chúc theo pháp luật của nước lập di chúc hoặc nước mà người đó là công dân.
5. Quy phạm xung đột về hợp đồng và giao dịch dân sự.
a) Quan hệ hợp đồng
Hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài cũng là sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng. Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng. Tại Khoản 4 Điều 638 BLDS 2015 hợp đồng liên quan đến tài sản là bất động sản, pháp luật áp dụng đối với việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghãi vụ là pháp luật của nước nơi có bất động sản.
Tiếp thu những quy định của pháp luật các nước về hình thức của hợp đồng Khoản 7, Điều 638 BLDS 2015 quy định “hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó. Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận ở Việt Nam.” Đây là một quy định hợp lý, giúp hợp đồnh không bị vô hiệu, mở ra một hướng giải quyết thuận lợi và dễ dàng cho tranh chấp của các bên khi họ chưa có những hiểu biết nhất định về pháp luật nước họ giao kết hợp đồng. Thể hiện sự tôn trọng việc thỏa thuận và quyền tự do định đoạt của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng.
b) Hành vi pháp lý đơn phương
Hiện nay, các hành vi pháp lý đơn phương chiếm số lượng nhiều, nhưng do đặc thù của mình đối tượng của các giao dịch này phần lớn là tài sản có giá trị lớn. Nhằm giải quyết các mâu thuẫn có thể xảy ra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể mà đối tượng phần lớn là tài sản có giá trị lớn. Pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 684 BLDS, theo đó việc xác định quyền và nghĩa vụ của bên tự nguyện thực hiện hành vi pháp lý đơn phương dựa trên pháp luật của nước nơi cư trú hoặc nơi có hoạt động của bên đó là hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc chung về giải quyết xung đột và được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia.
c) Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Theo Điều 687 BLDS 2015 thì: Các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng.Vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được giải quyết không trên cơ sở của hợp đồng dân sự (vì không có hợp đồng) mà chỉ giải quyết trên cơ sở của pháp luật quy định và thiệt hại thực tế xảy ra. Việc xác định luật nơi xảy ra thiệt hại là thuận lợi dễ dàng, tạo điều kiện cho việc tòa án có thể dễ dàng trong việc điều tra, thu thập chứng cứ, xác minh về thiệt hại.. đảm bảo lợi ích của bên bị hại. Tuy nhiên, pháp luật VN cũng đưa ra một số trường hợp ngoại lệ: trường hợp do tàu bay, tàu biển gây ra ở không phận quốc tế hoặc biển cả sẽ áp dụng pháp luật mà tàu bay, tàu biển mang quốc tịch, trừ trường hợp có quy định khác; và trường hợp hành vi gây thiệt hại xảy ra ở ngoài lãnh thổ CHXHCN VN thì áp dụng pháp luật của VN.
6. Quy phạm xung đột trong Sở hữu trí tuệ
Khác với quy định của BLDS trước, BLDS năm 2015 quy định quy phạm xung đột quyền sở hữu trí tuệ “gói gọn” tạo Điều 679 mà theo đó “Quyền SHTT được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ.”
>> Tham khảo: Thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài?