phát nhanh cho tôi và ngày hôm nay có một người gọi điện thoại cho tôi họ nói là nhân viên của sân bay và yêu cầu tôi nộp tiền thuế thì mới nhận được hàng và hàng là tiền mặt và vàng miếng. Họ bảo tôi đóng chừng 70 triệu tiền Việt Nam. Tôi rất lo lắng, có phải tôi nộp tiền thuế cho họ là tôi sẽ nhận được hàng không? liệu tôi có bị lừa không?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Căn cứ pháp lý:

2. Nội dung:

2.1 Những bưu gửi không được chấp nhận. Cấm gửi là gì?

Theo Điều 25 Chương 1 Phần 2 Công ước bưu chính thế giới thì:
Các bưu gửi không được chấp nhận. Cấm gửi: Cấm không được đưa các loại tiền kim loại, tiền giấy, chứng khoán, các loại séc du lịch bạch kim, vàng hoặc bạc đã được gia công hoặc chưa, các loại đá quý, đồ trang sức hoặc các vật phẩm có giá trị khác vào: Trong bưu phẩm không khai giá, tuy nhiên, nếu luật pháp nước gửi và nước nhận cho phép thì những vật phẩm trên vẫn có thể được gửi trong phong bì dán kín như một Bưu gửi ghi số; Trong bưu kiện không khai giá được trao đổi giữa hai nước chấp nhận mở dịch vụ bưu kiện khai giá; ngoài ra, bưu chính các nước có quyền cấm gửi vàng nén trong các bưu phẩm khai giá hoặc không khai giá đi hoặc đến lãnh thổ nước mình hoặc quá giang gửi rời qua nước đó. Các nước có quyền giới hạn giá trị thực tế đối với các loại vật phẩm này.
Đồng thời, theo Điều 12 Luật Bưu chính 2010 thì vật phẩm, hàng hoá không được gửi, chấp nhận, vận chuyển qua mạng bưu chính: Vật phẩm, hàng hóa mà pháp luật của Việt Nam quy định cấm lưu thông. Vật phẩm, hàng hoá từ Việt Nam gửi đi các nước mà pháp luật Việt Nam quy định cấm xuất khẩu hoặc pháp luật của nước nhận quy định cấm nhập khẩu. Vật phẩm, hàng hoá từ các nước gửi về Việt Nam mà pháp luật Việt Nam quy định cấm nhập khẩu. Vật phẩm, hàng hoá bị cấm vận chuyển bằng đường bưu chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
=> Theo đó, các mặt hàng tiền, vàng là mặt hàng cấm không được phép.

2.2 Yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, các yếu tố cấu thành của tội này như sau:
Mặt khách quan: - Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự
Dấu hiệu khác: Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên. Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý
=> Do đó, hành vi này có thể là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do đó, để bảo vệ quyền lợi của mình, đối với trường hợp này bạn nên làm hồ sơ trình báo công an cấp quận/huyện nơi bạn đang cư trú để được giải quyết kịp thời.

2.3 Mẫu đơn trình báo công an là như thế nào?

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Púc
ĐƠN XIN TRÌNH BÁO
Kính gửi: CÔNG AN QUẬN ……………………………………….
Tôi tên là :……………………………………………………….........................
CMND số : …………………………………………………….….......................
ĐKHKTT : ………………………………………………………........................
Chỗ ở hiện tại : ...................................................................................................
Tôi làm đơn này xin trình báo với quý cơ quan việc như sau:
Thứ nhất là,:
Vào ngày ……………………………………
Thứ hai là,:
.....
Thấy có dấu hiệu bất thường nên hôm nay tôi làm đơn này, yêu cầu công an điều tra Quận/huyện.... tiến hành đièu tra, xác minh một số những vấn đề sau đây:
-.............
-............
Xin chân thành cám ơn!

Tài liệu kèm theo:

Hà Nội, ngày …. tháng ….. năm……

Người làm đơn