1. Lừa đảo bằng cách tặng tiền và đồ trang sức?

Tôi hỏi một câu hỏi cần luật sư giải đáp, tôi có quen một người bạn ở nước ngoài, người này quen với tôi khoảng một tháng, họ nói sau này về Việt Nam họ sẽ kết hôn với tôi, họ nói họ thương tôi. Họ nói họ sẽ tặng và gửi cho tôi tiền và đồ trang sức gửi vào trong bưu phẩm, bưu kiện qua đường chuyển phát nhanh cho tôi và ngày hôm nay có một người gọi điện thoại cho tôi họ nói là nhân viên của sân bay và yêu cầu tôi nộp tiền thuế thì mới nhận được hàng và hàng là tiền mặt và vàng miếng.
Họ bảo tôi đóng chừng 70 triệu tiền Việt Nam. Tôi rất lo lắng, có phải tôi nộp tiền thuế cho họ là tôi sẽ nhận được hàng không? liệu tôi có bị lừa không?
Cảm ơn!

1. Những bưu gửi không được chấp nhận. Cấm gửi là gì ?

Theo Điều 25 Chương 1 Phần 2 Công ước bưu chính thế giới thì:
Các bưu gửi không được chấp nhận. Cấm gửi: Cấm không được đưa các loại tiền kim loại, tiền giấy, chứng khoán, các loại séc du lịch bạch kim, vàng hoặc bạc đã được gia công hoặc chưa, các loại đá quý, đồ trang sức hoặc các vật phẩm có giá trị khác vào: Trong bưu phẩm không khai giá, tuy nhiên, nếu luật pháp nước gửi và nước nhận cho phép thì những vật phẩm trên vẫn có thể được gửi trong phong bì dán kín như một Bưu gửi ghi số; Trong bưu kiện không khai giá được trao đổi giữa hai nước chấp nhận mở dịch vụ bưu kiện khai giá; ngoài ra, bưu chính các nước có quyền cấm gửi vàng nén trong các bưu phẩm khai giá hoặc không khai giá đi hoặc đến lãnh thổ nước mình hoặc quá giang gửi rời qua nước đó. Các nước có quyền giới hạn giá trị thực tế đối với các loại vật phẩm này.
Đồng thời, theo Điều 12 Luật Bưu chính 2010 thì vật phẩm, hàng hoá không được gửi, chấp nhận, vận chuyển qua mạng bưu chính: Vật phẩm, hàng hóa mà pháp luật của Việt Nam quy định cấm lưu thông. Vật phẩm, hàng hoá từ Việt Nam gửi đi các nước mà pháp luật Việt Nam quy định cấm xuất khẩu hoặc pháp luật của nước nhận quy định cấm nhập khẩu. Vật phẩm, hàng hoá từ các nước gửi về Việt Nam mà pháp luật Việt Nam quy định cấm nhập khẩu. Vật phẩm, hàng hoá bị cấm vận chuyển bằng đường bưu chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
=> Theo đó, các mặt hàng tiền, vàng là mặt hàng cấm không được phép.

2. Yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì ?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, các yếu tố cấu thành của tội này như sau:
Mặt khách quan:
- Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự
Dấu hiệu khác: Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên. Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý
=> Do đó, hành vi này có thể là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do đó, để bảo vệ quyền lợi của mình, đối với trường hợp này bạn nên làm hồ sơ trình báo công an cấp quận/huyện nơi bạn đang cư trú để được giải quyết kịp thời.

3. Mẫu đơn trình báo công an là như thế nào ?

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Púc
ĐƠN XIN TRÌNH BÁO
Kính gửi: CÔNG AN QUẬN ………………………
Tôi tên là :……………………………………………
CMND số : ……………………………………………
ĐKHKTT : ……………………………………………
Chỗ ở hiện tại : ....................................................
Tôi làm đơn này xin trình báo với quý cơ quan việc như sau:
Thứ nhất là,:
Vào ngày ……………………………………
Thứ hai là,:
.....
Thấy có dấu hiệu bất thường nên hôm nay tôi làm đơn này, yêu cầu công an điều tra Quận/huyện.... tiến hành đièu tra, xác minh một số những vấn đề sau đây:
-.............
-............
Xin chân thành cám ơn!

Tài liệu kèm theo:

Hà Nội, ngày …. tháng ….. năm……

Người làm đơn

>> Xem thêm:  Xử lý hành vi lừa dối trong góp vốn kinh doanh ? Mẫu đơn tố cáo tội lừa đảo

2. Rút tiền hộ có bị cấu thành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ?

Thưa luật sư Em mong muốn luật sư sẽ tư vấn cho em trường hợp sau đây : Đầu tháng 12/2015, em nhận đk cuộc gọi của ngươi em họ trong gia đình với nội dung như sau (em đặt tên người em của em là T) : T mượn người tên D (D là người cho T mượn tiền) 1 khoản tiền là 3.000.000 đ nhưng đã thanh toán 1.500.000 đ và còn nợ lại 1.500.000đ .
D buộc T trong vong trong vòng hôm nay hoặc ngày hôm sau là phải thanh toán đủ số tiền 1.500.000đ còn lại cho D. Vì T biết em có quen biết với D trước đây nên nhờ em nói hộ lý do là ko đủ tiền để thanh toán đúng như lịch mà D yêu cầu nên sẽ trả từ từ có được ko?. Luc đầu em không đồng ý vì không muốn dính líu tiền bạc với T nhưng do T năn nỉ quá và cũng là chị em trong gia đình nên em chấp nhận. Em lien hệ với D và đưa ra phương án sau : trước đây D cũng từng nợ em 1.000.000 đ và vẫn chưa trả,bây giờ em sẽ cấn trừ tiền đó qua cho T và T chỉ cần trả D 500.000 đ là đủ. Cuối cùng thì D và T đều đồng ý phương án đó. T hứa sẽ thanh toán cho em vào mùng 6 Tết âm lịch (13/02/2016) nhưng đến ngày này thì T không liên lạc với em. Em có liên lạc rất nhiều lần nhưng không được .
Đến khoảng 16 giờ ngày 26/02/2016 T nhắn tin nói với em người yêu của T sẽ chuyển khoản cho T 11.000.000 đ trong đó T sẽ trả em 1.000.000 đ như số tiền T đã mượn. Sau đó T hỏi xin tài khoản của em để người yêu T chuyển khoản, đồng thời T lấy lý do T bị mất chứng minh thư và thẻ ngân hàng đang bị hư nên mượn em số tài khoản để người yêu T có thể chuyển luôn số tiền 10.000.000 cho T. Em có hỏi lý do gì mà người yêu T chuyển nhiều tiền như vậy thì T chỉ nói người yêu gửi tiền cho T để T đưa tiền hàng hóa giùm . Em đồng ý và đưa tên tài khoản, số tài khoản của em cho T. Nhưng đến khoảng 16h30, T lại nhắn tin nói tài khoản người yêu T chỉ còn 10.000.000 và muốn chuyển vào thẻ ngân hàng argibank.Lúc đó vì rất muốn lấy lại tiền cho T vay nên em đã hỏi bạn cùng lớp em (tên Q) hỏi mượn hộ tài khoản cho T. Sau khi nghe em kể việc T vay tiền nhưng day dưa không dứt khoát thanh toán cho em nên Q đồng ý và cung cấp số tài khoản tên ngân hàng chi nhánh ngân hàng cho em và em chuyển thông tin đó cho T. Sau đó, em nói với Q khi tan giờ làm về em sẽ qua bên nhà Q chở Q ra cây ATM Agribank rút tiền. Khoảng 17h20 T điện thoại nói em rằng người yêu T đã chuyển tiền và nhờ em báo lại với Q kiểm tra tài khoản. Khoảng 17h40 thì em chở Q ra ngân hàng Agribank gần nhà Q rút tiền. Q là người trực tiếp rút và đưa cho em 10.000.000đ. Trước đó do T có nói hiện tại không có xe để đi lại nên trên đường về nhà, thuận đường ghé qua nhà bác của em và T (lúc đấy T đang ở nhà Bác ) để đưa số tiền còn lại cho T. Em cũng đồng ý vì không muốn giữ số tiền lớn ấy, em chỉ muốn lấy lại 1.000.000 đ tiền T mượn. KHoảng 18gio em đến khu nhà Bác em để đưa tiền cho T nhưng chỉ đến gần nhà chứ không đến trước cửa nhà Bác. Không như thỏa thuận ban đầu T chỉ trả em trước 500.000 và nói cuối tuần sẽ thanh toán 500.000 còn lại. Đến cuối tuần em liên hệ với T để hỏi về số tiền đó thì cũng như lần trước,T hỏi mượn tài khoản ngân hàng Agirbank của Q một lần nữa và chuyển khoản tiếp 5.000.000 đ vô tài khoản của Q. Lần này T trực tiếp xin số điện thoại của Q để liên lạc và lấy tiền và T đồng ý trả em 500.000đ còn lại. Sau khi rút tiền Q chỉ cần đưa T 4.500.000đ. T liên lạc với Q và cùng Q ra cây ATM tại ngân hàng Agribank gần nhà Q để rút tiền và Q trực tiếp đưa 4.500.000 cho T. Đến ngày 01/03/2016, Q gặp em và đưa em số tiền 500.000đ mà T hứa trả nợ cho em. Sau khi T đã trả hết tiền nợ em (1.000.000) em và Q không cho T mượn thêm tài khoản để chuyển khoản lần nào nữa. Đến ngày 12/04/2016, công an điều tra tội phạm kinh tế công nghệ cao ngoài Hà Nội gọi cho Q và thông báo rằng T đã lừa đảo khách hàng ngoài Hà Nội để chuyển khoản vô tài khoản của Q. Đồng thời cũng nghi ngờ em cùng T trong chuyện lừa đảo này. Công an hẹn em và T sáng 13/04/2016 lên để tường trình sự việc. Ngày 13/04/2016, em và Q lên công an quận 10 trình bày tất cả sự việc, nhưng sau khi lấy được tiền T nợ và đưa lại tiền cho T em đã xóa hết tất cả tin nhắn liên quan đến T Lý do em xóa là do :
1. Em có thay đổi điện thoại ?
2. Em cảm thấy rất phiền phức khi liên quan đến chuyện tiền bạc với T ?
3. Em nghĩ chỗ chị em nên số tiền thừa còn lại em đã trả lại đầy đủ cho T nên cũng không lưu giữ nặng máy. Ba của T là chú ruột của em, chú em có báo với em khi bị công an tạm giam ngày 12/04/2016 T đã khai rằng T chỉ thực hiện hành vi này 1 mình ?
Đến sáng 13/04/2016 chú em báo rằng T bị công an áp giả ra Hà Nội và được trả điện thoại nhằm liên hệ với những người T lừa gạt để làm việc. Nhưng đến 2 giờ sáng ngày 14/04/2016, em nhận được tin nhắn từ T. Trong tin nhắn T có xin lỗi em và Q nhưng lại nói sau khi về sẽ liên lạc với em (Như file hình đính kèm). Em không có việc gì để phải liên lạc với T nữa nhưng em rất lo lắng khi T nói như vậy. Em sợ em sẽ bị nghi ngờ rằng có thông đồng với T để lừa đảo Riêng về em tuy em đã xóa hết tin nhắn với T nhưng em vẫn có thể chứng minh được T mượn em 1.000.000 đ là sự thật. Em rất hoang mang và lo lắng tuy T đã khai nhận là do T thực hiện 1 minh nhưng em không còn lưu giữ tin nhắn những cuộc nói chuyện với T nên em thật sự không yên tâm. Em mong rằng luật sự có thể giúp em giải đáp những gì em đang lo lắng về việc này.
Em xin chân thành cám ơn!

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hiện nay theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 ghi nhận:

“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Theo quy định nêu trên có thể xác định các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm:

1. Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác.

2. Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ chủ thể nào từ đủ 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Mặt khách quan của tội phạm:

Mặt khách quan của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyên giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt tài san. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản.

Về hành vi: có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.

+ Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như lời nói, chữ viết, hành động để chiếm đoạt tài sản.

+ Chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả dùng thủ đoạn gian dối.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự

- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu gian dối.

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

4. Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện là hành vi gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Ý thức chiếm đoạt tài sản phải có trước khi thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại và người phạm tội.

Đối chiếu với các dấu hiệu cấu thành tội phạm nêu ở trên, trường hợp của bạn bạn chỉ thực hiện việc rút hộ tiền thông qua tài khoản của mình mà không biết rõ nguồn gốc số tiền này là do hành vi lừa đảo, hành vi của bạn cũng không phải là hành vi gian dối để chiếm đoạt tài đoạt tài sản, do đó bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do không thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Về vấn đề đồng phạm. Bộ luật hình sự Việt Nam quy định về đồng phạm như sau :

"Điều 20. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm".

Dấu hiệu để nhận biết đồng phạm:

1. Những dấu hiệu khách quan

- Có từ 2 người trở lên (đều có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm)

- Cùng thực hiện một tội phạm (bất kỳ người nào tham gia đều nhằm thực hiện tội phạm hoặc thúc đẩy thực hiện tội phạm), biểu hiện qua các hành vi:

+ Hành vi thực hiện tội phạm (người thực hành)

+ Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm (người tổ chức)

+ Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm (người xúi giục)

+ Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm (người giúp sức)

- Hành vi của những người tham gia phải có sự liên kết thống nhất với nhau mới được coi là đồng phạm, biểu hiện qua:

+ Hành vi của người này phải là tiền đề cho hành vi của người khác

+ Hành vi của mỗi người phải có mối quan hệ nhân quả với việc thực hiện tội phạm chung và hậu quả của tội phạm chung đó.

2. Những dấu hiệu chủ quan

- Tất cả những người tham gia đều có lỗi cố ý:

+ Về mặt lý trí: mỗi người phải nhận thức được hành vi của mình và của người khác là nguy hiểm; thấy trước hậu quả hành vi của mình và của người khác gây ra.

+ Về mặt ý chí: mong muốn có hoạt động chung, mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả phát sinh

Lưu ý: Không đòi hỏi những người đồng phạm phải biết rõ về nhau; không đòi hỏi những người đồng phạm phải biết rõ về tội danh của từng người.

- Mục đích phạm tội:

+ Nếu mục đích là dấu hiệu bắt buộc thì chỉ khi đồng phạm cùng mục đích hay chấp nhận mục đích của nhau.

+ Nếu mục đích không là dấu hiệu bắt buộc thì không cần đặt ra có cùng mục đích hay không.

Xem xét các dấu hiệu nêu trên có thể thấy hành vi của bạn không thuộc trường hợp cố ý cùng thực hiện tội phạm với T nên không thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do đó bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm của tội này. Vậy bạn có thể yên tâm hợp tác với cơ quan điều tra cũng như cung cấp các thông tin để chứng minh cho việc bạn làm không phải là hành vi vi phạm pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

3. Giả mạo chữ ký lấy tiền lương có vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em gái em làm thủ quỹ cho một DNTN. Trong quá trình làm em ấy do thiếu hiểu biết có giả mạo chữ ký của chủ doanh nghiệp để lấy tiền nhưng là số tiền rất nhỏ, vài chục đến một hai trăm. Em hỏi tại sao thì em ấy bảo sợ công ty không trả lương, thấy nhiều người lại đòi lương quá, với lại em làm hơn tháng rưỡi rồi mà bà chủ vẫn không chịu trả lương có ý định giam lương không muốn chi lương.
Vì kẹt tiền nên em ấy thỉnh thoảng có lấy tiền rồi ký nhái chữ ký bà chủ ở sổ tiền mặt thu chi. Chỉ có khoảng 3,4 ngày như thế thôi. Rồi vì cảm thấy ko thể làm ở đó nữa, em đã tự ý lấy lương (chỉ lấy đủ ngày công em làm) rồi báo nghỉ. Bà chủ doanh nghiệp nay đòi kiện em của em ra tòa vì tội lừa đảo và chiếm đoạt tài sản.
Cho em hỏi em gái của em có vi phạm pháp luật không ? Nếu có thì phạm như thế nào và xin chỉ giúp em cách để em ấy vượt qua ? Còn thêm điều này nữa là công ty em làm xài phần mềm kế toán Hasoft. Máy của em và máy của kế toán bán hàng ai cũng có thể tự ý vào được để sửa đổi số liệu. Nếu bị vu oan là lấy số tiền lớn phi thực tế thì có cách nào bào chữa không ?
Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: L.H

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hành vi của em bạn là vi phạm pháp luật. Vì đã cố tình chiếm đoạt tài sản của người khác mà chưa được sự cho phép, đồng ý của người đó. Dù bà chủ không trả lương hay đáng ra đấy là số tiền em bạn được hưởng nhưng em bạn có thể lựa chọn theo hình thức khác nhau như hỏi bà chủ về vấn đề lương hay yêu cầu bà chủ trả tiền lương chứ không nên tự ý lấy tiền của người khác như vậy.

Do bạn không nói số tiền em bạn tự ý lấy là bao nhiêu nhưng hành vi em bạn tự ý lấy tiền này xem là hành vi lén lút, bí mật. Che dấu hành vi lấy tiền của mình với bà chủ. Nếu em bạn lấy số tiền đó từ hai triệu trở lên đến dưới năm mươi triệu thì em bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo điều 138 BLHS 1999 vì các hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm của tội này. Còn nếu dưới 2 triệu thì có thể em bạn chỉ bị xử phạt hành chính.

Còn về hành vi giả mạo chữ ký của em bạn thì em bạn có được tài sản của bà chủ thông qua hợp đồng lao động, được bà chủ giao cho tài sản để quản lý. Việc em bạn giả mạo chữ ký của bà chủ rồi tự lấy tiền được xem là hành vi gian dối và được giao tài sản rồi mới nảy sinh ra ý định chiếm đoạt. Do đó hành vi của em bạn thỏa mãn dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại điếu 140 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 tuy nhiên nếu số tiền chiếm đoạt từ 4 triệu đồng chở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn dưới 4 triệu thì chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản".

Bạn có thể nói em bạn gặp bà chủ để thương lượng và trả lại tài sản cho người ta nếu người ta đồng ý nhận và không kiện nữa em bạn sẽ không sao. Tuy nhiên nếu bà chủ không đồng ý nhận tiền mà vẫn đòi kiện thì em bạn có thể chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính chứ chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về vấn đề phần mềm máy tính mà ai cũng có thể ra vào đê sửa đổi thông tin được thì đây là do lỗi của bà chủ, bên cạnh đấy nếu em bạn bị đổ oan thì bạn cứ trình bày những gì mà bạn biết, sau đó cơ quan công an sẽ dựa vào các bằng chứng cũng như nghiệp vụ của mình để minh oan cho em bạn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Có phải tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ?

Xin chào luật sư, em có vấn đề thắc mắc cần luật sư tư vấn giúp. Cụ thể: Ngày 19/10/2015 anh bạn làm cùng công ty có hỏi mượn một chiếc xe máy hiệu WAVE RSX với lý do mượn để cầm cố lấy tiền giải quyết việc riêng và hẹn em đến khoảng nửa tháng là bàn giao trả lại xe cho em. Số tiền anh ta cầm cố là 7.500.000 cộng với số tiền mặt anh ta lấy của em là 2.500.000 ( cầm xe và lấy tiền mặt đều có người làm chứng).
Và khi đã đến hạn lấy xe , em đã yêu cầu anh ta phải bàn giao lại xe như đã thỏa thuận nhưng anh đã nhiều lần sai hẹn và cho đến thời điểm hiện tại em đã nhiều lần gọi điện và nhắn tin nhưng anh ta không nghe máy và trả lời.
Vậy trong trường hợp nêu trên thì anh ta có đủ điều kiện quy tội danh lừa đảo và chiếm đoạt tài sản của người khác theo điều 139 BLHS năm 1999( sửa đổi bổ sung năm 2009) hay không ?
Em mong luật sư tư vấn giúp em. Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp này bạn có thể làm đơn tố cáo gửi ra cơ quan cảnh sát điều tra công an quận huyện nơi người bạn của bạn cư trú để yêu cầu giải quyết. Tổng giá trị tài sản của bạn cho người bạn vay là 10 triệu đồng nên nếu không trả, bạn của bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của người đó có thể bị khởi tố hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu ngay từ ban đầu người đó đã có mục đích chiếm đoạt xe và số tiền 2.500.000 đồng của bạn nhưng nói dối là sẽ trả. Hoặc có thể bị khởi tố hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nếu ban đầu thật sự mượn xe và tiền, có ý định sẽ mang trả nhưng vì hoàn cảnh khó khăn không thể hoàn trả cho bạn được.

Vấn đề xác định tội danh cụ thể còn phụ thuộc vào kết quả của cơ quan điều tra.

Bạn có thể tham khảo ở các quy định sau của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản – Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản – Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

- Nếu ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trường hợp này, giá trị của tài sản bị chiếm đoạt chỉ cần từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Nếu việc giao và nhận hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê..) và sự tín nhiệm, sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc đánh tráo, hoặc gian dối là bị mất, không trả lại tài sản do không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, cầm đồ…thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, trường hợp này thì giá trị của tài sản bị chiếm đoạt phải từ 4 triệu đồng trở lên hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Có tội lừa dối tình cảm người khác không ? Khởi kiện hành vi lừa đảo qua mạng

5. Bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi tham gia mạng xã hội ?

Kính chào công ty Luật minh khuê. Em muốn hỏi quý công tư vấn đề sau. Em lên mạng xã hội tango, người ta có nhắn tin gửi về cho em nói em là khách hàng may mắn trúng giải nhất chương trình tri ân khách hàng của công ty tango. Em nghĩ đây là mạng lớn nên chắc người ta không lừa. Người ta có gửi cho em mã số trúng thưởng và nói em làm theo hướng dẫn.
Em đã làm theo hướng dẫn và họ nói em phải mua thẻ card điện thoại để làm thủ tục hồ sơ. Họ nói cam kết sẽ hoàn trả tất cả. Em nghe theo mua thẻ card điện thoại. Nhập số seri và mã thẻ xong thủ tục hồ sơ họ nói em phải tiến hành đóng cước phí vận chuyển họ sẽ chuyển giải thưởng cho em. Em cũng đã mua thẻ card đọc số seri và mã thẻ. Sau khi đã đọc xong họ lại tiếp tục nói em phải đóng thêm thuế, em thấy ngờ ngợ có cảm giác mình bị lừa em mới nói với họ em không đủ tiền để nạp được nữa và yêu cầu họ trả lại tiền thì họ nói họ đã lừa đảo em và không trả. Em đã bị lừa gần 12 triệu đồng. Tất cả các thẻ card điện thoại e vẫn còn giữ. Em không biết phải làm sao để lấy lại được số tiền đó? Em có thể trình báo với cơ quan công an không ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 139 Luật sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật hình sự số 37/2009 quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm"

(Tội) lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối.

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau:

- Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên;

- Gây hậu quả nghiêm trọng;

- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt;

- Đã bị kết án về tội chiếm đoạt và chưa được xóa án tích.

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi khác nhau. Đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt. giữa hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối.

Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật.

Xét về mặt khách quan, hành vi lừa dối là hành vi đưa ra những thông tin giả. Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó la sự thật. hành vi lừa dối như vậy có thể được thực hiện qua lời nói, việc xuất trình những giấy tờ sai sự thật hoặc qua những việc làm cụ thể (cân, đong, đo, đếm thiếu).

ở mỗi hình thức như vật người phạm tội có thể có những thủ đoạn thực hiện cụ thể khác nhau. Những thủ đoạn thực hiện cụ thể này không có ý nghĩa về mặt định tội. Đã là hành vi lừa dối thì dù được thực hiện bằng thủ đoạn nào cũng đều có thể là hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

hành vi lừa dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện là nhằm thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Những hành vi lừa dối nhằm mục đích khác dù mục đích này có tính tư lợi cũng không phải là hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lừa đảo có hai hình thức thể hiện cụ thể:

- Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã giao nhầm tài sản. Khi nhận được tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản định chiếm đoạt và người bị lừa dối mất khả năng làm chủ tài sản đó trên thực tế. Tội lừa đảo coi là hoàn thành ở thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

- Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản (nhận thiếu, nhận sai loại tài sản được nhận) hoặc không nhận. Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm cho được tài sản bị chiếm đoạt và người bị lừa dối đã mất tài sản đó. Tội phạm coi là hoàn thành từ thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

Thông thường hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra kế tiếp ngay sau hành vi lừa dối. Nhưng cũng có trường hợp giữa hau hành vi này có khoảng cách nhất định về thời gian. Ở đây cần chú ý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ coi là hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt xảy ra.

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

Người phạm tôi biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản.

Trong trường hợp này, người đó ngay từ đầu đã có hành vi nhắn tin thông báo bạn trúng thưởng chương trình khuyến mại của công ty tango với mục đích lừa đảo để bạn mua thẻ card điện thoại và chiếm đoạt tài sản. Tổng số tiền bị chiếm đoạt lên đến gần 12 triệu đồng nên hoàn toàn có thể truy cứu người này về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn hãy đến cơ quan công an trình báo và phối hợp cùng cơ quan công an điều tra nhằm tìm ra thủ phạm.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?