Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy giúp tôi phân tích luật áp dụng cho giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

1. Mở đầu vấn đề

Trên thực tế, rất ít điều ước quốc tế về đầu tư quy định cụ thể pháp luật nội dung sẽ được áp dụng cho ISDS. Tuy nhiên, nếu sử dụng tòa án của quốc gia nhận đầu tư hoặc quốc gia khác, pháp luật nội dung áp dụng cho ISDS phụ thuộc vào quy định của pháp luật nước đó về vấn đề này. Còn trong trường hợp sử dụng trọng tài của quốc gia, pháp luật nội dung áp dụng cho ISDS theo thỏa thuận của các bên tranh chấp hoặc đã được quy định tại điều ước quốc tế về đầu tư hay thậm chí một số trường hợp khác, việc chọn luật áp dụng cho ISDS còn được quy định ở pháp luật trọng tài của quốc gia có trọng tài thực hiện vụ việc ISDS.

 

2. Khái quát tranh chấp đầu tư quốc tế

Một trong những mặt trái ảnh hưởng trực tiếp nhất đến quốc gia nhận đầu tư là tranh chấp đầu tư quốc tế. Đây là vấn đề tất yếu phát sinh từ đầu tư nước ngoài mà các quốc gia nhận đầu tư chỉ có thể hạn chế mà khó có thể tránh hoàn toàn.

Trước hết, thuật ngữ “tranh chấp” nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyển lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan.

Đối với tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài cũng được hiểu như vậy. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa tranh chấp đầu tư quốc tế với tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước.

Cách hiểu về nội hàm của hai cụm từ này khác nhau trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia. Một số nghiên cứu pháp luật quốc tế hoặc điều ước quốc tế chuyên biệt về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (điển hình là Công ước năm 1965 về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia vối công dân của các quốc gia khác - Công ước ICSID) và đạo luật của quốc gia.

- Cơ sở pháp lý: Theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg ngày 14/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Trong phán quyết năm 1924 về vụ tranh chấp Mavrommatis, Toà án Thường trực Công lý quốc tế (tiền thân của Toà án Công lý quốc tế) đã định nghĩa tranh chấp như sau:“tranh chấp là sự bất đồng về mặt pháp lý hay trên thực tế, sự xung đột về mặt quan điểm pháp lý hoặc lợi ích giữa hai hay nhiều người trở lên. Trong một phán quyết khác của Toà án Công lý quốc tế, “tranh chấp được hiểu là một tình huống trong đó hai bên có các quan điểm đối lập liên quan tới câu hỏi về thực hiện hoặc không thực hiện một nghĩa vụ nào đó trong hiệp ước”.

Từ điển Luật học Black định nghĩa: “tranh chấp được hiểu là mâu thuẫn hay bất đồng về các yêu cầu hay quyền lợi giữa các bên; sự đòi hỏi về yêu cầu hay quyền lợi của một bên bị đáp lại bởi một yêu cu hay lập luận trái ngược từ bên kia”.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, các Hội đồng trọng tài của Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (International Center of Settlement Investment Dispute – ICSID) đã áp dụng khái niệm tranh chấp tương tự, thường dựa vào cách định nghĩa của Toà án Thường trực Công lý quốc tế và Toà án Công lý quốc tế

Theo Khoản 1 Điều 2 Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg ngày 14/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg đã nêu rõ:

“Tranh chấp đầu tư quốc tế theo Quy chế này là tranh chấp phát sinh từ việc Nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi chung là Chính phủ Việt Nam) hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan nhà nước ủy quyền quản lý nhà nước (sau đây gọi chung là cơ quan nhà nước) dựa trên cơ sở:

- Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư hoặc hiệp định thương mại hoặc điều ước quốc tế khác có quy định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam là thành viên (sau đây gọi chung là hiệp định bảo hộ đầu tư), trong đó có quy định về việc giải quyết tranh chấp giữa Nhà đầu tư nưốc ngoài và Chính phủ Việt Nam tại trọng tài quốc tế hay cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền; hoặc

- Hợp đồng, thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam hoặc cơ quan nhà nưốc Việt Nam và Nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có quy định cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, thỏa thuận này là trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền”.

Sở dĩ có tên, cách hiểu khác nhau như vậy là do tranh chấp đầu tư quốc tế được nhìn nhận theo nghĩa rộng hoặc hẹp.

- Ở nghĩa rộng, tranh chấp đầu tư quốc tế tương đối đa dạng, bao gồm những tranh chấp giữa các chủ thể liên quan (nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân) phát sinh trực tiếp từ việc thiết lập, thực hiện, quản lý đầu tư xuyên biên giới quốc gia;

- Ở nghĩa hẹp, tranh chấp đầu tư quốc tế được hiểu là tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước vẫn được hiểu là tranh chấp liên quan hoạt động đầu tư giữa nhà nước nhận đầu tư với nhà đầu tư là cá nhân, pháp nhân đến từ quốc gia khác (nhà đầu tư nước ngoài) phát sinh trên cơ sở điều ước quốc tế, thỏa thuận/hợp đồng đầu tư quốc tế hoặc pháp luật của quốc gia nhận đầu tư. Trong cuốn sách này tranh chấp đầu tư quốc tế được giới hạn ở tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước và việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế là giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS).

 

 

3. Luật áp dụng cho vụ việc ISDS

Pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước (ISDS) gồm tổng thể những quy tắc được các quốc gia cùng nhau xây dựng hoặc thừa nhận để điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước (ISDS) và là một bộ phận quan trọng của pháp luật đầu tư quốc tế.

Pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước (ISDS) phát triển nhanh chóng cùng với sự bùng nổ của tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước trong vài thập niên gần đây.

Sự phát triển của quy định về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước (ISDS) trong những năm gần đây đi kèm với sự phổ biến của những điều ước quốc tế về đầu tư. Theo http://investmentpolicyhub.unctad.org/truy cập ngày 02/9/2019, sự thống kê của Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) trên trang Web của Tổ chức này, tính đến tháng 9/2019, trong tổng số 3.301 điều ưốc quốc tế về đầu tư, có 2.913 hiệp định đầu tư song phương (BIT), 388 điều ước quốc tế có quy định về đầu tư, trong đó 2.667 điều ước quốc tế về đầu tư đang có hiệu lực.

Với tính cách là một lĩnh vực quan trọng của pháp luật quốc tế, nguồn của pháp luật quốc tế về ISDS gồm hai lĩnh vực cơ bản:

- Nguồn cơ bản của pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước;

- Nguồn bổ trợ của pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước.

Đối với ISDS tại trọng tài quốc tế, từ quy định của các điều ước quốc tế về đầu tư hiện có và thực tế giải quyết vụ việc ISDS cho thấy, pháp luật áp dụng cho vụ việc ISDS có thể gồm:

- Điều ước quốc tế về đầu tư liên quan đến tranh chấp;

- Các nguyên tắc của pháp luật quốc tế;

- Pháp luật của nước nhận đầu tư;

- Các quy tắc về xung đột pháp luật của nước nhận đầu tư;

- Thỏa thuận đặc biệt được ký kết liên quan đến khoản đầu tư cụ thể đang tranh chấp;

- Những giải thích chung của các quốc gia thành viên về những nội dung liên quan của điều ước quốc tế đó; và

- Các điều ước quốc tế khác mà các quốc gia là thành viên điều ước quốc tế về đầu tư đó đã ký.

 

4. Thẩm quyền xem xét vụ việc

Trong quá trình giải quyết vụ việc ISDS, hội đồng trọng tài nhìn chung không có thẩm quyền xem xét nội dung pháp luật trong nước. Vì thế, đốì với các hội đồng trọng tài, pháp luật trong nước trở thành một tình tiết có giá trị chứng minh như các bằng chứng. Nói cách khác, hội đồng trọng tài có thẩm quyền giải thích và áp dụng pháp luật quốc tế, kể cả điều ước có liên quan, nhưng không được giải thích và áp dụng luật trong nước như tòa án của quốc gia. Do đó, khi gặp vấn đề pháp luật trong nước, hội đồng phải xem xét vấn đề đó dựa trên bằng chứng mà các bên cung cấp.

Trong chừng mực các bên có quan điểm khác nhau, hội đồng trọng tài không được “thuyết phục” các bên về việc pháp luật trong nưóc sẽ được giải thích như thế nào là chính xác (giống như cách tòa án trong nước sẽ làm) mà thay vào đó, hội đồng phải cân nhắc các bằng chứng được đưa ra để quyết định xem quan điểm nào là hợp lý, giống như khi quyết định các vấn đề tình tiết được tranh cãi khác.

 

5. Ngoại lệ

Tuy nhiên, ở mục 4 đã phân tích, cá biệt một số điều ước quốc tế về đầu tư cho phép hội đồng trọng tài áp dụng luật trong nước của quốc gia nhận đầu tư.

Ví dụ 1: Điều 10 BIT giữa Bỉ/Lúcxămbua và Síp năm 1991 quy định luật áp dụng cho ISDS gồm cả pháp luật của nước nhận đầu tư. Bên cạnh đó, cũng có điều ước quốc tế về đầu tư chỉ quy định luật áp dụng là pháp luật quốc tế.

Ví dụ 2: Điều 9 của BIT giữa Áchentina với Crôatia năm 1994 quy định hội đồng trọng tài sẽ quyết định luật áp dụng theo nguyên tắc của pháp luật quốc tế.

Đối với tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước phát sinh theo hợp đồng đầu tư quốc tế, pháp luật áp dụng cho ISDS thường đã được quy định tại hợp đồng đó. Do đó, hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật mà các bên đã chọn.

 

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).