1. Ly hôn nhưng chưa lấy quyết định của tòa đã được coi là ly hôn chưa?

Xin chào luật sư, cho em hỏi em và chồng em đã ly hôn cách đây 2 năm nhưng cả hai vợ chồng vẫn chưa lấy quyết định. Sau một thời gian, hai vợ chồng quay lại với nhau, vậy em xin hỏi em và chồng em đã được xem là ly hôn chưa?
Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Minh Hằng

Ly hôn nhưng chưa lấy quyết định của tòa đã được coi là ly hôn chưa?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời

Thời điểm có hiệu lực của việc ly hôn là thời điểm có hiệu lực của bản án hoặc quyết định cho ly hôn. Bản án hoặc quyết định cho ly hôn có tác dụng thiết lập một tình trạng pháp lý mới không tồn tại trước đó cũng như thiết lập các quyền mới của bên này hoặc bên kia trong quan hệ hôn nhân trước đó. Tức là sau khi quyết định cho ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, bạn và chồng bạn sẽ không còn là vợ chồng hợp pháp của nhau nữa, Hai bạn không bị ràng buộc bởi những quy định của luật Hôn nhân và gia đình, các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng được chấm dứt hoàn toàn, quan hệ hôn nhân trước đó của 2 người coi như không còn tồn tại.

Trường hợp đây là vụ tranh chấp về ly hôn (Ly hôn đơn phương).

Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về thời hạn kháng cáo như sau:

"Điều 273. Thời hạn kháng cáo

1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.

3. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận."

Theo quy định trên, khi hết thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đối với trường hợp của bạn, hai bạn đã ly hôn cách đây 2 năm, như vậy quyết định cho ly hôn của 2 bạn đã có hiệu lực pháp luật, do đó 2 bạn không còn là vợ chồng của nhau nữa. Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng như các văn bản pháp luật liên quan, việc 2 bạn quay lại chung sống với nhau như vợ chồng không phải là hành vi trái pháp luật, không bị xử phạt hành chính cũng như trách nhiệm hình sự, tuy nhiên quan hệ vợ chồng này lại không được pháp luật thừa nhận. Đối với trường hợp này, hai bạn nên đăng ký kết hôn với nhau để quan hệ vợ chồng của 2 bạn được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, chẳng hạn như việc chia thừa kế hay các tranh chấp về tài sản có thể phát sinh sau này.

Trường hợp hai vợ chồng bạn thuận tình ly hôn

Điều 371 BLTTDS 2015 quy định về kháng cáo kháng nghị giải quyết việc dân sự:

"Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự để yêu cầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm, trừ quyết định giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 7 Điều 27, khoản 2 và khoản 3 Điều 29 của Bộ luật này."

Dẫn chiếu tới khoản 2 và khoản 3 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

"Điều 29. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1. Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

3. Yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

4. Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

5. Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

6. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

7. Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định."

Như vậy, theo quy định của pháp luật, vợ chồng yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn thì tại thời điểm Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn thì quyết định này ngay lập tức có hiệu lực pháp luật, Nếu trong vòng 15 ngày kể từ ngày có quyết định này mà các bên không thay đổi ý kiến thì quyết định có hiệu lực ngay. Các bên không được quyền kháng cáo. Như vậy, trên pháp luật, hai bạn không còn là vợ chồng.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn, ly hôn ở Việt Nam ?

2. Thủ tục phân chia tài sản khi ly hôn?

Kính gửi LUẬT MINH KHUÊ. Tôi mới kết hôn đến thời điểm này là được hơn 7 tháng. Trước khi cưới bố mẹ đẻ tôi có cho tôi 1 chiếc xe máy Lead trị giá khoảng 42 triệu. Và 8 chỉ vàng ta là của hồi môn của bố mẹ đẻ tôi cho tôi và chồng tôi. Nay chúng tôi không thể chung sống vì cưới nhau được nửa tháng chồng tôi có lừa tôi và bán hết tài sản riêng của tôi là chiếc xe máy và 8 chỉ vàng là tài sản chung. Dù hứa hẹn mua lại trả tôi nhưng đến nay anh ta vẫn không mua trả được cho tôi. Giấy tờ chứng minh thì tôi không có. Vì xe anh ấy bán có cả đăng ký xe. Vàng cũng vậy.. và anh ấy bán khi nào tôi không biết.
Vậy ly hôn tòa có giúp tôi lấy lại tài sản không??? 1 tháng sau khi cưới vì chơi bời nợ lần thì chồng tôi có ra nhà mẹ đẻ tôi vay tiền mặt là 22 triệu đồng nhưng vì là con cái bố mẹ tôi không yêu cầu viết giấy vay. Vậy tôi có được lấy lại tài sản khi ly hôn không?. Và làm sao để tôi có thể lấy lại được ạ?
Xin cảm ơn ạ.

Trả lời:

Như vậy nếu bố mẹ đẻ cho mình riêng chị và chị không thỏa thuận xáp nhập vào tài sản chung thì đây là tài sản riêng của chị . Và khi anh ta tiêu tài sản riêng của chị thì chị hoàn toàn có quyền yêu cầu anh ta trả

Theo quy định tại khoản 4 Điều 59 Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn Luật hôn nhân gia đình năm 2014:

....4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

THeo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì hợp đồng vay tài sản không nhất thiết phải được lập bằng văn bản mà có thể được giao kết bằng lời nói

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Như vậy nếu như có thỏa thuận về việc vay tài sản giữa bố mẹ bạn và chồng bạn thì bố mẹ bạn hoàn toàn có quyền gửi đơn yêu cầu đến tòa án để đồi lại tài sản cho vay. Tuy nhiên để đòi lại tài sản này thì bố mẹ phải có bằng chứng về việc đã cho vay tài sản ví dụ như là bản ghi âm, hay có người làm chứng khi ba mẹ bạn cho chồng bạn vay tài sản. Và đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

>> Xem thêm:  Ly hôn là gì ? Quy định pháp luật về li hôn

3. Tài sản sau khi ly hôn được phân chia như thế nào?

Thưa luật sư, xin hỏi: Mình và Anh ấy kết hôn năm 2008, hiện tại mình có một con chung gần 5 tuổi. Vì cuộc sống của 2 vợ chồng có nhiều bất đồng không thể giải quyết được, không còn sự tin tưởng để sống với nhau, Anh ấy giờ chỉ lo công việc không quan tâm gì tới cuộc sống gia đình. Cho mình hỏi thủ tục và trình tự thuận tình ly hôn như thế nào, vì cả 2 vợ chồng đều thuận tình đồng ý ly hôn. Vợ chồng mình không có tai sản chung, con mình và snh thống nhất là để mình nuôi, anh chu cấp. Xin chỉ mình các bước làm thế nào cho ổn và gọn. Hiện tại mình và anh ấy đang sống với nhau, có kt3 trạm trú ở quận 7 Thành phố HCM ?
Xin tư vấn giúp mình! Xin cảm ơn.

Trả lời:

Hồ sơ ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 bao gồm:

+ Bản chính đăng ký kết hôn;

+ Giấy xác nhận chồng bạn vắng mặt tại địa phương;

+ Chứng minh thư của vợ và chồng (công chứng hoặc xác thực);

+ Hộ khẩu của vợ chồng công chứng hoặc xác thực;

Theo trường hợp của vợ chồng bạn, ly hôn thuận tình (hai vợ chồng đều thỏa thuận được vấn đề con cái cũng như tài sản, có chữ ký đồng thuận của hai bên) lựa chọn có thẩm quyền giải quyết, căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

...............................

h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

Như vậy, nếu bạn ly hôn thuận tình bạn nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi vợ hoặc chồng bạn đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc đăng ký tạm trú và làm việc.

Nếu ly hôn đơn phương sẽ do Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi người chồng đăng ký hộ khẩu thường trú giải quyết hoặc nơi người chồng đăng ký tạm trú làm việc.

>> Xem thêm:  Ly thân là gì ? Quy định pháp luật về ly thân ?

4. Tư vấn về chia tài sản khi ly hôn?

Thưa luật sư. Em có 1 vấn đề muốn hỏi và nhờ luật sư tư vấn giúp, em năm 29 tuổi lập gia đình từ 2010, lúc lấy nhau vợ chồng em không có gì, lập nghiệp bằng 2 bàn tay trắng, gia đình chồng em lúc đó nghèo khổ đủ đường, sau khi lấy nhau em quyết định làm ăn riêng không đi làm thuê nữa, sau 3 năm vợ chồng em làm ăn tốt, tích cóp được tiền sắm sửa mọi thứ đầy đủ.

Năm 2013, em quyết định làm nhà, trước nhà chồng em bố mẹ chồng đã xây được 1 nhà mái bằng nhưng chỉ xây được phần thô chưa hoàn thiện, lúc quyết định xây em đã đập đi hoàn toàn chỉ giữ lại phần móng, em có 400 triệu và vay thêm ngân hàng 500 triệu để xây nhà và làm vốn làm ăn, lúc vay ngân hàng thì sổ đỏ vẫn đứng tên mẹ chồng em, bố mẹ chồng em trước công tác tại nhà máy z153 Bộ Quốc Phòng, nên đất hiện tại là đất nhà máy cấp, khi vay ngân hàng do bố mẹ chồng em hết tuổi lao động nên không được vay, do đó bố mẹ chồng em đồng ý chuyển tên sổ đỏ cho chồng em, nhà chỉ mình chồng em con trai và 2 cô em gái, khi sang tên sổ đỏ, bên công chứng tư vấn bố mẹ chồng em là làm thủ tục cho tặng cho chồng em để không bị mất tiền thuế, bố mẹ chồng em đồng ý và làm thủ tục cho tặng nhưng khi làm thủ tục vì muốn nhanh, gia đình em có việc chồng em đi nước ngoài lịch bay đã có nên không chờ được ngày ra sổ đỏ mới, nên chỉ đính chính đằng sau sổ đỏ cũ (là bố mẹ chồng em đã cho tặng chồng em toàn bộ nhà đất nằm trên sổ đỏ, và chồng em đã ký nhận toàn bộ tài sản bố mẹ cho) trong đính chính chỉ có chồng em và chữ ký chồng em, không có tên em và chữ ký của em, nhưng khi mang sổ đi vay ngân hàng thì mọi thủ tục vay trả ở ngân hàng, 2 vợ chồng em cùng phải đứng tên và ký nhận, em vẫn cùng chồng em lo trả nợ suốt thời gian qua, vì bọn em vay trả góp.

Hiện tại vợ chồng em có nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc ly hôn, chúng em có 1 đứa con chung. Vậy em xin luật sư tư vấn giúp em, nếu bây giờ vợ chồng em bỏ nhau thì em hoặc con em có được thừa hưởng hay chia tài sản gì từ chồng em không, và rất nhiều tài sản chung như xe cộ, mọi tài sản bây giờ đều có được, và hình thành sau khi bọn em kết hôn, và có thể nói là mọi thứ có được như ngày hôm nay đều do em là chính, bố mẹ đẻ và em trai em đã giúp đỡ rất nhiều về mặt kinh tế, vì thế bây giờ khi ly hôn em rất lo là mình sẽ không được hưởng hay phân chia tài sản gì từ chồng em, vì nó là tài sản cho tặng và chỉ mình chồng em ký và đứng tên, em mong nhận được sự tư vấn của luật sư. Rất mong nhân được sự tư vấn từ Luật sư.

E xin chân thành cảm ơn luật sư đã giúp đỡ!

Tài sản sau khi ly hôn được phân chia như thế nào theo quy định của pháp luật ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, theo nội dung bạn trình bày, thì bố mẹ chồng bạn đã làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng nhà, đất cho chồng bạn, theo quy định tại điều 459 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì:

Điều 459. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

Đồng thời, khoản 3 điều 167 Luật đất đai năm 2013 cũng quy định:

"Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này".

Như vậy, việc bố mẹ bạn muốn tặng cho quyền sử dụng đất cho chồng bạn thì họ phải lập thành hợp đồng có công chứng, chứng thực, và thêm vào đó, đối với quyền sử dụng đất họ phải tiến hành đăng ký quyền sở hữu tức chồng bạn phải làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Bởi theo quy định tại khoản 2 điều 459 Bộ luật dân sự 2015 thì: "Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản". Theo đó, trong trường hợp này, chồng bạn đã không kịp làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với mảnh đất đó, do đó, hợp đồng tặng cho này chưa có hiệu lực, mảnh đất đó vẫn đứng tên bố mẹ chồng của bạn.

Thứ hai, về việc chia tài sản khi ly hôn.

Bạn và chồng bạn tiến hành thủ tục chia tài sản khi ly hôn theo một trong hai phương án sau:

Phương án thứ nhất: Thỏa thuận.

Đây là phương án tạo điều kiện cho cả hai bên có được những thỏa thuận hợp ý cả hai bên, thêm vào đó, phương án này sẽ giúp cho hai bên bày tỏ được những quan điểm của mình trong việc định đoạt tài sản chung và riêng. Khi hai bạn đã thỏa thuận được thì chế độ tài sản của vợi chồng bạn sẽ được giải quyết theo thỏa thuận đó.

Phương án thứ hai: Giải quyết tại tòa án:

Theo đó: như bạn đã trình bày vợ chồng bạn sống chung với bố mẹ chồng, vì vậy, khi ly hôn, bạn được chia một phần tài sản của gia đình. Theo quy định tại khoản 1 điều 61 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

"Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết".

Đối với quyền sử dụng đất không thuộc sở hữu của cả vợ và chồng thì sẽ được chia theo quy định tại khoản 1, Điều 61 nếu khối tài sản chung của vợ chồng không xác định được.

Đối với những tài sản mà bạn và chồng bạn thỏa thuận là tài sản chung thì sẽ được giải quyết theo khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

"....2.Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng."

Đối với tài sản riêng của bạn thì vẫn thuộc sở hữu của bạn (trừ trường hợp bạn và chồng bạn đã thỏa thuận tài sản đó là tài sản chung).

>> Xem thêm:  Ly hôn khi vừa đăng kí kết hôn được 2 ngày ? Có yêu cầu hủy hôn được không ?

5. Xác định các nghĩa vụ của vợ và chồng sau khi ly hôn ?

Thưa Luật sư, tôi muốn nhờ luật sư tư vấn trường hợp của chị gái tôi như sau : Chị gái tôi kết hôn từ năm 2011. Đến nay có 1 con gái 5 tuổi, và đang mang bầu bé gái thứ 2 được 6 tháng. Trong thời gian hôn nhân anh chị tôi có tạo dựng được một số tài sản như sau:
Hiện tại vợ chồng chị tôi đang ở riêng với bố mẹ, nhà đất được đứng tên mẹ chồng chưa sang tên cho vợ chồng chị, anh chị tôi có tham gia đóng góp xây sửa lại nhà vừa hoàn thiện khoảng 3 tháng với số tiền gần 300 triệu. Trong đó anh chị có vay vợ chồng tôi 80 triệu để thêm vào sửa nhà và mua sắm đồ đạc. - Năm ngoái anh chị tôi có mua lại một mảnh đất của mẹ chồng trị giá 280 triệu nhưng không sang tên và khi trả tiền cũng không viết giấy tờ gì. Nghề nghiệp Chị tôi ờ nhà bán hàng anh tôi chỉ cờ bạc, lô đề. Gần đây anh chị tôi có nhiều mâu thuẫn nên mẹ chồng sang đuổi chị chồng và cháu ra ngoài thuê nhà ở, anh đồng ý nên chị tôi cũng đồng ý đi ra. Vì đi thuê nhà nhỏ nên đồ đạc không thể mang theo hết, trước khi ra đi anh và mẹ anh viết đơn : mẹ anh cho vợ chồng chị tôi gửi lại bộ bàn ghế và kệ trị giá 80 triệu ngoài ra không kê thêm gì và bắt chị tôi ký vào dưới sự chứng kiến của 1 bác công an xã. Trước đấy khoảng 2 tuần anh rể tôi đã mang một số đồ đạc có giá trị đi chỗ khác. Chị tôi hỏi thì anh bảo bán rồi. Chị tôi có lấy được một khoản tiền ống là 20 triệu nhưng mang về đến nhà khoảng vài tiếng thì anh cũng lấy mất luôn.
Anh không cho chị tôi đi đâu, không cho dùng điện thoại. Anh có ý định ly hôn nhưng anh soạn đơn với nội dung: "để chị tôi nuôi 2 con và trong thời gian chung sống không tạo lập được tài sản chung nào" và đề nghị chị tôi là người chủ động viết đơn ly hôn này bắt chị tôi ký vào đó. Nhưng chị tôi không ký vì nó không đúng sự thật. Trong khoảng thời gian thuê ở bên ngoài chị tôi vẫn bán hàng bình thường. Anh hay về nhà và mắc nhiếc đay nghiến chị làm cho chị tôi phải khổ sở khóc lóc suốt. Chuyển ra ngoài thuê trọ chưa đầy 2 tuần anh đề nghị chị tôi phải viết giấy ly thân để anh đi vào nNam làm ăn. Chị tôi đồng ý viết đơn. Ngay ngày hôm sau anh quấn gói đồ đạc và mang theo cháu lớn sang nhà nội ở bỏ mặc chị tôi một mình. Trước khi đi chị có đề nghị anh để lại đứa con cho chị vì từ trước đến giờ chị là người chăm sóc, giáo dục nó còn anh suốt ngày chỉ lông bông nhưng anh không nghe. Hai nhà nội ngoại , nhà anh chị ở trước kia và nhà thuê trọ cũng khá gần nhau nên chị đành để con gái sang bên nội cùng với bố vì hàng ngày chị vẫn có thể nhìn thấy con.
Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn : Nếu bây giờ chị tôi muốn ly hôn thì thủ tục như thế nào? (Mọi giấy tờ anh rể tôi đã mang hết sang nội để). Khi ly hôn thì chị tôi có được quyền nuôi con, chia tài sản không và phần nợ của tôi có được giải quyết không?
Cám ơn Luật sư.

>> Luật sư tư vấn hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, trường hợp của bạn, chồng chị bạn đã viết đơn ly hôn. Như vậy, hai bên là thuận tình ly hôn. Tuy nhiên anh chồng hiện đang cầm toàn bộ giấy tờ. Vậy nên, để chủ động và rút ngắn thời gian, chị có thể nộp đơn ly hôn đơn phương nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi anh chị đang cư trú. Giấy tờ cần thiết bao gồm có:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn về hộ khẩu và chữ ký của chị. Trong đơn chị cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung: Cháu tên gì? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn chị có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn chị muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Chị muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của cháu bé;

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của chị và của chồng chị (nếu có);

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì chị phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

Thứ hai, về quyền nuôi con. Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

"....2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Nếu cháu nhỏ dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho chị bạn trực tiếp nuôi

Trường hợp các cháu đã đều trên 36 tháng tuổi, Khi xem xét ai sẽ là người có quyền nuôi con, Tòa án sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau với mục đích tìm được người có thể đáp ứng tối đa yêu cầu cho sự phát triển của đứa trẻ. Nhìn chung Tòa án sẽ dựa trên 3 yêu tố sau:

+ Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ.

+ Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn … của cha mẹ.

+ Nguyện vọng của con: Con mong muốn được ở với ai (chỉ áp dụng với con từ đủ 7 tuổi trở lên).

Nếu chị bạn thực sự yêu thương con mình và có đủ khả năng chứng minh trước tòa rằng mình có thể đem lại cho con mình cuộc sống tốt đẹp hơn thì việc chị bạn giành được quyền nuôi con là hoàn toàn có thể.

Thứ ba, Theo Khoản 3 Điều 95 Luật HN và GĐ 2014:

"Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Do đó, số nợ 80 triệu của bạn sẽ được giải quyết theo thỏa thuận của anh chị bạn. Nếu 2 người không thỏa thuận được với nhau. Tòa án sẽ giải quyết, dùng tài sản chung của vợ chồng để thanh toán số nợ trên.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email L[email protected] hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thủ tục nhận con nuôi theo quy định pháp luật

Trả lời:

Hồ sơ thủ tục nhận nuôi con nuôi trên thực tế phải đáp ứng được những quy định cơ bản sau:

Thủ tục nhận nuôi con nuôi

– Người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại UBND cấp xã  nơi mình thường trú;

– UBND cấp xã cử công chức tư pháp -hộ tịch phối hợp với Công an xã tiến hành  kiểm tra và xác minh.

– Nếu các bên đáp ứng đủ điều kiện thì công chức tư pháp- Hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nuôi con nuôi và Giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi.

– Chủ tịch UBND cấp xã ký Giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi và cấp cho người  nhận nuôi con nuôi một bản chính.

Hồ sơ thực hiện nhận con nuôi

– Tờ khai mẫu phiếu đăng ký việc nuôi con nuôi theo mẫu quy định (Bản chính).

– Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của người nhận con nuôi (Bảo sao).

– Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh của người được nhận con nuôi (Bản sao).

– Giấy chứng nhận kết hôn của người nhận con nuôi, nếu có (Bản sao).

– Giấy tờ tài liệu khác để chứng minh về việc nuôi con nuôi thực tế nếu có; (Tùy tính chất của từng trường hợp cụ thể mà có các giấy tờ tương ứng).

Thẩm quyền giải quyết việc nhận con nuôi

– Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.

Thời hạn thực hiện

– Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Câu hỏi: Đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước

Trả lời:

Người nhận con nuôi phải có đủ điều kiện sau

– Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

– Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên – không áp dụng đối với trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú bác ruột nhận cháu làm con nuôi;

– Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi – không áp dụng đối với trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu,dì, chú bác ruột nhận cháu làm con nuôi;

–  Có tư cách đạo đức tốt.

Các trường hợp không được nhận con nuôi

– Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

– Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

– Đang chấp hành hình phạt tù;

– Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe; nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

Trẻ em được nhận làm con nuôi phải có đủ các điều kiện sau

+ Là trẻ em dưới 16 tuổi; nếu trẻ em thuộc trường hợp được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi thì đến dưới 18 tuổi;

+) Trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa;

+) Một người chỉ được làm con của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

– Người nhận con nuôi nộp hồ sơ của mình và của người được nhận làm con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

+) Đối với trường hợp trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ, người thân thích nhưng không có khả năng nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được nhận làm con nuôi thường trú;

+) Đối với trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi, nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.

+) Đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi;

+) Đối với trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng;

– Công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ.

Khi kiểm tra hồ sơ, công chức tư pháp hộ tịch phải nghiên cứu; tìm hiểu tâm tư; nguyện vọng và hoàn cảnh của những người liên quan. Trường hợp người được nhận làm con nuôi có cha mẹ đẻ; thì công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra việc cha mẹ đẻ có thỏa thuận với cha mẹ nuôi để giữ lại quyền, nghĩa vụ đối với con và cách thức thực hiện quyền, nghĩa vụ đó sau khi đã cho làm con nuôi.

 –  Công chức tư pháp – hộ tịch lấy ý kiến của những người có liên quan.

Khi lấy ý kiến của những người liên quan, công chức tư pháp hộ tịch phải:

+ Tư vấn để trẻ em tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế của gia đình;

+ Tư vấn đầy đủ cho cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ về mục đích nuôi con nuôi; quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa cha mẹ nuôi và con nuôi sau khi đăng ký nuôi con nuôi; về việc cha mẹ đẻ sẽ không còn các quyền, nghĩa vụ chăm sóc; nuôi dưỡng; cấp dưỡng; đại diện theo pháp luật; bồi thường thiệt hại; quản lý; định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi nếu cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi không có thỏa thuận khác;

+ Giải thích cho những người liên quan về quyền thay đổi ý kiến đồng ý trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được lấy ý kiến đồng ý. Hết thời hạn này; những người liên quan không được thay đổi ý kiến về việc cho trẻ em làm con nuôi.

– Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi; trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào Sổ đăng ký việc nuôi con nuôi;

– Trường hợp từ chối đăng ký; Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi; cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng.

Câu hỏi: Giấy tờ chứng minh đủ điều kiện nuôi con khi ly hôn

Trả lời:

 Để có thể giành quyền nuôi con khi ly hôn, cần chứng minh được bản thân có đầy đủ những điều kiện về cả vật chất cũng như tinh thần là tốt nhất để nuôi dạy con, cụ thể:

Điều kiện về vật chất 

Chứng minh thông qua các điều kiện về ăn ở, sinh hoạt, điều kiện học tập… các yếu tố này sẽ được xét trên điều kiện về chỗ ở, tài sản, thu nhập của cha mẹ,…

Giấy tờ chứng minh chỗ ở ổn định: Cần chứng minh được bản thân có chỗ ở hợp pháp, ổn định tức có nơi cư trú ổn định, thường xuyên sinh sống sau ly hôn. Cách chứng minh đơn giản nhất là thông qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất. Trường hợp không có nhà riêng thì có thể là thuê nhà hoặc sống nhờ người thân ruột thịt.

Giấy tờ chứng minh thu nhập: Cần chứng minh được vợ hoặc chồng đang có thu nhập ổn định và hợp pháp hay không? tài sản riêng hiện có gồm những gì, có đủ để chăm lo cho cuộc sống của con sau ly hôn hay không? Điều này được hiểu là việc bản thân có thu nhập ổn định, là công việc cũng như hoạt động kinh doanh hợp pháp, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Để chứng minh điều này có thể thông qua bảng lương, hay giấy xác nhận thu nhập nơi cơ quan, tổ chức nơi bạn công tác và làm việc.

Điều kiện về vật chất

Như vậy, để giành được quyền nuôi con khi ly hôn, vợ hoặc chồng cần phải chứng minh được bản thân có đủ điều kiện nuôi con khi ly hôn bao gồm điều kiện về tài chính tốt hơn so với đối phương, đồng thời phải có nơi cư trú ổn định để đảm bảo điều kiện về nuôi dưỡng và học tập, vui chơi cho con cái.

Điều kiện về tinh thần

Cách chứng minh đủ điều kiện nuôi con khi ly hôn về mặt tinh thần cần chứng minh thông qua thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi, giải trí, nhân cách đạo đức của cha mẹ.

Cần chứng minh được bản thân có đủ thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ con, cũng như có đủ thời gian vui chơi, giải trí cùng con sau giờ làm việc. Việc xem xét yếu tố này là vô cùng quan trọng bởi chỉ khi cha, mẹ dành đủ thời gian cho con thì con cái mới có thể cảm nhận được sự che trở, cũng như tình cảm của cha mẹ dành cho mình. Để chứng minh điều kiện này, đơn giản nhất là chứng minh thông qua hợp đồng làm việc có ghi cụ thể giờ làm việc hoặc lịch làm việc của bản thân,…

Cùng với đó cần chứng minh bản thân có nhân cách đạo đức tốt thông qua việc cha mẹ có lối sống lành mạnh hay không? Cách giáo dục con cái của cha mẹ như thế nào cũng như quan hệ của cha mẹ đối với gia đình, xã hội ra sao? Cách chăm sóc con cái như thế nào? Có hành vi bạo lực với con cái hay có tiền án tiền sự về tội xâm phạm quyền trẻ em hay không?…

Điều kiện về môi trường sống dành cho con sau ly hôn cũng vô cùng quan trọng. Về điều kiện này Tòa án sẽ xem xét cha mẹ có sống trong một môi trường lành mạnh, không có tệ nạn xã hội, hay sống trong môi trường độc hại, thiếu thốn gây ảnh hưởng đến sức khỏe (thể chất, tinh thần) cũng như sự phát triển của con cái hay không? Các điều kiện về cơ sở vật chất y tế, trường học, khu vui chơi giải trí và các điều kiện khác hỗ trợ cho sự phát triển của con cái có đảm bảo hay không?…

Ngoài việc chứng minh các điều kiện lợi thế của bản thân để giành quyền nuôi con thì cũng cần chứng minh các điều kiện bất lợi của đối phương để chắc chắn có thể giành quyền nuôi con như: Không có việc làm, không có thu nhập ổn định, không có chỗ ở ổn định, không dành thời gian cho con, hay thường xuyên có hành vi bạo lực với con,….

      Theo đó, với những tiêu chí này, Tòa án sẽ xem xét và phân tích toàn diện mọi điều kiện của cả hai bên và quyết định giao cho một người trực tiếp nuôi con dựa trên bên nào dành điều kiện tốt nhất cho con sau ly hôn.