1. Đã ly hôn nhưng giờ muốn hàn gắn có được không?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Chào luật sư! Luật sư cho tôi hỏi tôi và chồng đã ly hôn nhưng không đến tòa lấy quyết định, sau đó vợ chồng tôi quay lại về với nhau vậy chúng tôi có được coi là vợ chồng nữa không?
Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Thời điểm có hiệu lực của việc ly hôn là thời điểm có hiệu lực của bản án hoặc quyết định cho ly hôn. Bản án hoặc quyết định cho ly hôn có tác dụng thiết lập một tình trạng pháp lý mới không tồn tại trước đó cũng như thiết lập các quyền mới của bên này hoặc bên kia trong quan hệ hôn nhân trước đó. Tức là sau khi quyết định cho ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, bạn và chồng bạn sẽ không còn là vợ chồng hợp pháp của nhau nữa, Hai bạn không bị ràng buộc bởi những quy định của luật Hôn nhân và gia đình, các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng được chấm dứt hoàn toàn, quan hệ hôn nhân trước đó của 2 người coi như không còn tồn tại.

Trường hợp đây là vụ tranh chấp về ly hôn (Ly hôn đơn phương)

Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS ) quy định về thời hạn kháng cáo như sau:

Điều 273. Thời hạn kháng cáo

1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.

3. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận.

Theo quy định trên, khi hết thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Bạn có thể đối chiếu với các trường hợp trên để biết được quyết định cho ly hôn của 2 bạn đã có hiệu lực pháp luật chưa. Trong trường hợp quyết định cho ly hôn của Tòa án đối với 2 bạn đã có hiệu lực pháp luật thì 2 bạn không còn là vợ chồng của nhau nữa. Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng như các văn bản pháp luật liên quan, việc 2 bạn quay lại chung sống với nhau như vợ chồng không phải là hành vi trái pháp luật, không bị xử phạt hành chính cũng như trách nhiệm hình sự, tuy nhiên quan hệ vợ chồng này lại không được pháp luật thừa nhận. Đối với trường hợp này, hai bạn nên đăng ký kết hôn với nhau để quan hệ vợ chồng của 2 bạn được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, chẳng hạn như việc chia thừa kế hay các tranh chấp về tài sản có thể phát sinh sau này.

Điều 270 BLTTDS quy định như sau: Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo quy định trên bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử phúc thẩm.

Hơn nữa, điều 300 BLTTDS quy định về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau:

1. Tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

2. Các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc chịu án phí sơ thẩm, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định theo quy định của pháp luật.

Theo quy định trên, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự có thể thỏa thuận lại với nhau về việc giải quyết vụ án và khi xét thấy thỏa thuận này giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử sẽ ra bản án phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sư thỏa thuận của các đương sự.

Trong trường hợp quyết định cho ly hôn của Tòa án đối với 2 bạn chưa có hiệu lực pháp luật thì hai bạn vẫn được coi là vợ chồng hợp pháp của nhau, đối với trường hợp này 2 bạn có thể kháng cáo lên Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử vụ án. Chẳng hạn 2 bạn nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân nhân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam thì hai bạn phải kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam để yêu cầu xét xử lại vụ án. Khi đó, tại phiên tòa phúc thẩm hai bạn có thể thỏa thuận với nhau về việc 2 bạn muốn quay lại là vợ chồng hợp pháp của nhau như trước, khi đó hội đồng xét xử sẽ ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhân sự thỏa thuận của 2 bạn theo quy định tại khoản 1 Điều 300 BLTTDS. Như vậy, sau khi Tòa án ra bản xét xử phúc thẩm, hai bạn sẽ tiếp tục là vợ chồng hợp pháp của nhau, quan hệ hôn nhân này sẽ được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Trường hợp hai vợ chồng bạn thuận tình ly hôn theo quy định của BLTTDS: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự để yêu cầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm, trừ quyết định giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 7 Điều 27, khoản 2 và khoản 3 Điều 29 của Bộ luật này.

Dẫn chiếu tới khoản 7 Điều 27, khoản 2 và khoản 3 Điều 29 :

Điều 27. Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

7. Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án;

Điều 29. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

3. Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, vợ chồng yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn thì tại thời điểm Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn thì quyết định này ngay lập tức có hiệu lực pháp luật, các bên không được quyền kháng cáo. Tức là tại thời điểm Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn của 2 bạn, 2 bạn đã không còn là vợ chồng hợp pháp của nhau.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất mong nhận được sự hợp tác của bạn! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn?

Xin cho em hỏi hiện nay vợ chồng em đã ly hôn, theo thỏa thuận chồng em nuôi hai con. Nhưng con gái em năm nay 9 tuổi nhất định không ở cùng với bố, em cũng đã động viên cháu về về ở với bố nhưng được khoảng 3 ngày thì bị bố đánh sưng tím mặt khiến cháu sợ hãi giữa 12h chạy đến nhà bà ngoại ở cùng em. Em cần phải làm gì trong trường hợp này?

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp, hành vi đánh cháu bé của người bố là hành vi bạo lực gia đình được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007:

Điều 2. Các hành vi bạo lực gia đình

1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;

e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.

Về hành vi này, bạn có thể đến báo tin tại Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan Công an để xử lý vi phạm đối với người bố.

Hành vi này của người bố cũng vi phạm nghĩa vụ trông nom, chăm sóc cháu bé. Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, người bố có thể bị hạn chế quyền đối với cháu bé.

Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 86. Người có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

Theo quy định tại khoản 1 Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, bạn là mẹ của cháu bé có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của người bố đối với con và có đơn yêu cầu trông nom, chăm sóc để cháu bé được về ở với bạn.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

3. Ly hôn làm đơn viết tay, không cần ra toà được không?

Giữa vợ chồng muốn li hôn mà hai bên gia đình thoả thuận không tranh chấp tài sản con cái. Thì làm đơn viết tay và gia đình hai bên kí vào chứng giám như vậy có cần ra toà không ạk Còn con cái thì đang ở khẩu của nhà chồng. Còn em thì rút khẩu khỏi nhà chồng rồi, như vậy thì có được gọi là li hôn không cần toà án vậy được không ?
Mong luật sư tư vấn giúp em ạ. Cám ơn luật sư nhiều.

Luật sư trả lời:

Căn cứ quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

14. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Điều 55 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Căn cứ vào quy định trên thì việc ly hôn phải thể hiện trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó là Tòa án. Việc vợ chồng bạn tự ký đơn thỏa thuận có sự chứng kiến của người thân không tuân thủ theo quy định của pháp luật, pháp luật không công nhận việc chấm dứt quan hệ vợ chồng của hai người.

Khi ly hôn, bạn phải thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong trường hợp vợ chồng bạn thỏa thuận được về việc thuận tình ly hôn, bạn chuẩn bị hồ sơ như sau:

+ Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn

+ Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân của hai vợ chồng bạn

+ Bản sao có chứng thực sổ hộ khẩu của hai vợ chồng bạn

+ Bản sao giấy khai sinh của các con

+ Giấy tờ chứng minh tài sản chung của hai vờ chồng (nếu có yêu cầu chia tài sản)

Ngoài ra, tùy từng trường hợp Tòa án sẽ yêu cầu thêm một số loại giấy tờ, ví dụ: Biên bản hòa giải tại UBND xã, giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng....

- Thẩm quyền giải quyết thuận tình ly hôn: Tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ hoặc chồng đang cư trú

- Thời hạn giải quyết: Bộ luật tố tụng dân sự không quy định cụ thể về thời hạn giải quyết ly hôn thuận tình, thông thường thời gian giải quyết sẽ khoảng 2 tháng.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

4. Tư vấn thủ tục ly hôn khi kết hôn 9 năm mà không có con?

Tư vấn thủ tục ly hôn khi kết hôn 9 năm mà không có con ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về ly hôn, gọi ngay: 1900.6162

Chào luật sư Luật sư có thể tư vấn cho tôi một vài vấn đề pháp luật về việc ly hôn không ạ Bạn tôi hiện có hộ khẩu tại quận Bình Thạnh. Bạn tôi đã kết hôn cách đây 9 năm.
Họ đã sống với nhau được 6 năm sau đó li thân 3 năm. Thời gian li thân họ không sống chung mà chuyển về nhà bố mẹ đẻ để sống. trong thời gian 6 năm sống chung họ không có con. Trước khi sống li thân xa nhau họ đã bán căn nhà chung để chia tài sản. Gìơ bạn tôi muốn li hôn . Xin cho tôi hỏi. -Họ không có con chung, không có tài sản chung và đã không sống chung hơn 3 năm thì giải quyết li hôn nhanh nhất là bao lâu. Vì tôi có tìm hiểu rằng nếu không sống chung, không có con chung, và không có tài sản chung thì li hôn rất nhanh?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên trường hợp vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn (nhưng người vợ vẫn có quyền yêu cầu xin ly hôn). Tòa án xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Tình trạng của vợ chồng trầm trọng;

b) Đời sống chung không thể kéo dài;

c) Mục đích của hôn nhân không đạt được.

Điều kiện và thủ tục tiến hành thủ tục thuận tình ly hôn

1, Điều kiện tiến hành thủ tục thuận tình ly hôn

a) Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn;

b) Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;

c) Sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.

2. Thủ tục thuận tình ly hôn

Bước 1: Nộp hồ sơ yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn tại TAND cấp quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng;

Bước 2: Sau khi nhận đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ thụ lý giải quyết và sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng lệ phí Toà án cho người đã nộp đơn;

Bước 3: Căn cứ thông báo của Toà án, đương sự nộp tiền tạm ứng lệ phí tại Chi cục thi hành án dân sự cấp quận/huyện và nộp lại biên lai nộp tiền cho Tòa án;

Bước 4: Tòa án mở phiên họp công khai để giải quyết việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.

Bước 5: Toà án ra quyết định công nhận việc thuận tình ly hôn.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

5. Ly hôn khi có con dưới 01 tuổi có phải hoà giải không?

Ly hôn khi có con dưới 01 tuổi có phải hoà giải không?

Tư vấn quyền nuôi con sau khi ly hôn, gọi ngay: 1900.6162

Xin chào luật sư, tôi có vấn đề thắc mắc như sau: tôi và chồng kết hôn vào tháng 03/2017. Chúng tôi có một bé gái vào tháng 02/2018. Trước khi sinh con, vợ chồng hòa thuận, lâu lâu cũng có cãi nhau nhưng rồi đều làm hòa. Nhưng khi sinh con xong, chồng không vừa ý về gia đình bên mẹ tôi, nên từ ngày sinh là bắt đầu cãi nhau suốt.
Rồi chuyện tiền bạc, chăm con. Và cuối cùng chồng tôi quyết định ly hôn. Vào giữa tháng 05/2018, tôi và con về nhà mẹ tôi. Rồi chồng tôi nói con dưới một tuổi chỉ mẹ mới được ly hôn. Và tôi cũng đồng ý ly hôn. Nhưng tôi viết đơn ly hôn với những lý do trên quan điểm của tôi thì chồng tôi không chịu ký. Vậy thì thủ tục ly hôn này sẽ là ly hôn thuận tình hay đơn phương? Có hòa giải không? Thời gian là bao lâu?

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, bạn hoặc chồng bạn hoặc cả hai vợ chồng bạn đều có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn cho hai vợ chồng bạn. Đối với trường hợp khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ thì bố, mẹ hoặc người thân thích của vợ chồng có thể làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn cho hai vợ chồng mà không cần sự đồng ý của vợ hoặc chồng.

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp, con gái bạn mới sinh vào tháng 02 năm 2018, đến nay cháu vẫn đang dưới 12 tháng tuổi, do đó, chồng bạn không được phép làm đơn ly hôn khi bạn đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Chính vì vậy, trong trường hợp này, bạn và chồng bạn có quyền làm Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn có cả hai chữ ký của cả vợ chồng hoặc chính bạn sẽ là người làm Đơn khởi kiện về việc ly hôn để yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn cho hai vợ chồng bạn. Trong trường hợp này của bạn, bạn nên làm Đơn khởi kiện về việc ly hôn, tức là ly hôn đơn phương từ phía của bạn.

Về thời gian giải quyết ly hôn đơn phương:

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện:

"2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án."

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn là 04 tháng.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán được phân công xét xử vụ án sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Việc hòa giải giữa hai vợ chồng khi ly hôn theo trình tự, thủ tục tố tụng là bắt buộc nên cả hai vợ chồng bạn nếu muốn giải quyết ly hôn nhanh chóng khi cả hai không có tranh chấp về tài sản cũng như con cái thì nên đến để hòa giải tại Tòa án.
Trong trường hợp hòa giải thành, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

"Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án."

Trong trường hợp, hòa giải không thành, cả hai vợ chồng bạn không thống nhất được về việc ai là người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, cũng như không thỏa thuận được về việc chia tài sản thì Thẩm phán sẽ đưa vụ án ra xét xử để giải quyết vấn đề ly hôn của hai vợ chồng bạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?