1. Ly hôn rồi có quay lại với nhau được không ?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê! Tôi có một vấn đề vướng mắc cần được công ty giải đáp như sau: năm 2011 tôi và anh H kết hôn hợp pháp với nhau; đến tháng 11/2011 tôi sinh con. Sau thời gian chung sống, hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đến tháng 7/2015 chồng tôi có gửi đơn ly hôn ra Tòa. Tôi được Tòa gọi lên để giải quyết việc ly hôn, vì vợ chồng không có tranh chấp gì và thống nhất để tôi nuôi con nên chúng tôi chỉ đến Tòa một lần và nhận quyết định ly hôn.

Sau khi ly hôn, tôi chăm con và chồng tôi có thăm nom cháu thường xuyên; sau mấy năm như vậy chúng tôi lại có tình cảm lại với nhau; nghĩ cho con nên chúng tôi quyết định hàn gắn lại tình cảm, tôi thường xuyên đưa con sang nhà anh ấy chơi và cùng nấu nướng, ăn uống với nhau, nhưng chúng tôi không sống chung với nhau.

Việc này lâu dần nhiều người xung quanh cũng biết và họ bàn tán xì xào, vậy Luật sư cho tôi hỏi, tôi với chồng cũ của mình có vi phạm pháp luật hôn nhân không?

Tôi đang là giáo viên, chính vì sự việc này mà cơ quan tôi thường xuyên gây áp lực với tôi, mỗi lần họ biết chúng tôi qua lại với nhau là bắt tôi viết tường trình việc việc đó; khi tôi tường trình thì họ bắt phải cho họ xem quyết định đã ly hôn, bắt chúng tôi phải đăng ký kết hôn. Họ nói tôi vi phạm đạo đức nghề giáo nếu không thì cấm chung tôi không được làm như vậy. Vậy Luật sư cũng cho tôi được hỏi: việc làm của chúng tôi có vi phạm đạo đức nhà giáo không? Cơ quan tôi có quyền được can thiệp vào đời sống của tôi như vậy không?

Chân thành cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi tư vấn cho chúng tôi, với những thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Nhà nước bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng và nghiêm cấm hành vi chung sống hoặc kết hôn trái pháp luật.

Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

2. Cấm các hành vi sau đây:

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

Theo quy định trên thì hành vi bị cấm được hiểu là một người đang có vợ hoặc có chồng và đồng thời chung sống như vợ chồng với người khác hoặc kết hôn với người khác. Và trường hợp một người chưa có vợ, có chồng chung sống hoặc kết hôn với người mà mình biết là đã có vợ, có chồng.

Hành vi chung sống như vợ chồng trái luật sẽ bị chịu chế tài như sau:

Thứ nhất, về xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định 110/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 67/2015/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

- Đang có vợ/có chồng mà kết hôn với người khác; chưa có vợ/có chồng mà kết hôn với người mà mình viết rõ là đang có vợ/có chồng

- Đang có vợ/ có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác

- Chưa có vợ/ chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ/ có chồng

Thứ hai về truy cứu trách nhiệm hình sự: được quy định tại điều 182 Bộ luật hình sự 2015; nếu hành vi chung sống với nhau như vợ chồng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau:

- Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Đối với trường hợp của bạn; như bạn đã cung cấp thông tin: bạn và chồng cũ đã ly hôn, có quyết định ly hôn nên đã chấm dứt tư cách vợ chồng; hiện tại cả hai bạn đều đang trong tình trạng độc thân. Pháp luật không cấm việc nam - nữ độc thân có quan hệ tình cảm, yêu thương hay chăm sóc nhau.

Vì vậy việc bạn và người chồng cũ đã ly hôn có hàn gắn quan hệ tình cảm và chưa đăng ký kết hôn không phải là hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân.

Đối với việc cơ quan nơi bạn công tác can thiệp đến đời sống riêng tư của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Hiến pháp năm 2013 quy định:

"Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình."

Việc bạn đang có tình cảm, thương yêu ai đó hoàn toàn là vấn đề về đời sống riêng tư của bạn, đó là quyền đáng được tôn trọng; nên việc một cá nhân hay tập thể nào đó can thiệp vào đời sống riêng tư của bạn, yêu cầu bạn phải giải trình, xuất trình quyết định ly hôn là đang xâm phạm đến đời sống riêng tư của bạn; không những vậy còn ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của bạn trước những giáo viên và mọi người xung quanh.

Cơ quan của bạn cũng không có quyền can thiệp và bắt các bạn phải đăng ký kết hôn mới được phép chăm sóc, yêu thương nhau; bởi lẽ như chúng tôi đã phân tích ở trên việc hai bạn có tình cảm và chăm sóc nhau không phải là hành vi pháp luật cấm. Hơn nữa, việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình phải xuất phát từ sự tự nguyện của hai bên nam - nữ; việc ép buộc kết hôn là vi phạm điều cấm của luật.

Đơn vị của bạn có nói với bạn rằng hành vi của bạn là vi phạm đạo đức nghề giáo. Bộ giáo dục đào tạo đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT quy định về đạo đức nhà giáo, trong đó quy định về lối sống của nhà giáo như sau:

Điều 5. Lối sống, tác phong

1. Sống có lý tư­ởng, có mục đích, có ý chí vượt khó vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

2. Có lối sống hoà nhập với cộng đồng, phù hợp với bản sắc dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ của xã hội; biết ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ và phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ...

Xét thấy hành vi của bạn và chồng cũ cũng không vi phạm bất cứ quy tắc nào về đạo đức của nhà giáo, nên rõ ràng việc đơn vị có quan điểm bạn vi phạm là hoàn toàn không có cơ sở.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Đăng ký kết hôn chưa tổ chức cưới có phải ly hôn không ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có thắc mắc muốn Luật sư giải đáp: Chúng tôi kết hôn từ năm 2009 nhưng vì chưa có cưới hỏi nên không có về chung sống với nhau. Hiện giờ, anh ấy đã có người khác, ngang nhiên đi lại với người con gái đó.

Anh ấy không làm đơn ly hôn với tôi, bảo nếu tôi muốn thì cứ tự làm đơn xin ly hôn đơn phương. Thực sự, tôi cũng không muốn ly hôn vì không phải lỗi của tôi gây ra. Tôi muốn hỏi:

1. Anh ấy bảo là chúng tôi không hợp nhau. Nếu một ngày nào đó, anh ta làm đơn ly hôn, nhưng tôi không đồng ý thì tòa có xử ly hôn cho anh ta không?

2. Tôi có thể kiện anh ấy và cô gái kia vi phạm luật hôn nhân gia đình không?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

Người gửi: Ngọc Hà

.Ly hôn rồi có quay lại với nhau được không? Có buộc phải đăng ký kết hôn không?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, chồng bạn hoàn toàn có quyền làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân để đơn phương ly hôn mặc dù hai bạn mới chỉ đăng ký kết hôn mà chưa tổ chức lễ cưới. Bởi:

Tổ chức lễ cưới chỉ là phong tục, tập quán của người Việt Nam mà không phải là thủ tục bắt buộc để công nhận hai bên nam nữ có quan hệ hôn nhân.Khoản 13 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: "Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân" mà không phải tính từ ngày tổ chức lễ cưới.

Ngoài ra, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 khi quy định về Ly hôn theo yêu cầu của một bên, khoản 1 có quy định:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Tuy nhiên, để được Tòa án giải quyết cho ly hôn thì chồng bạn phải cung cấp cho Tòa những chứng cứ chứng minh có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Thứ hai, bạn có quyền khởi kiện chồng bạn và người phụ nữ kia về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, Tòa án giải quyết vụ việc sẽ dựa trên các quy định sau đây:

Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng, khoản 1 quy định:

"Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm".

Theo Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC Điều 3 thì:

“Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...” và “Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng.

Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v...”

Như vậy, trường hợp của bạn, nếu có căn cứ cho rằng chồng bạn và người phụ nữ kia chung sống với nhau như vợ chồng làm cho gia đình của bạn tan vỡ dẫn đến ly hôn thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Còn nếu việc chồng bạn và người phụ nữ kia chung sống với nhau không phải là lý do dẫn đến việc ly hôn của vợ chồng bạn thì hai người đó chỉ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP:

“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:…b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;”

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tư vấn thủ tục ly hôn và vấn đề phân chia tài sản trước và sau khi kết hôn ?

Xin chào Luật sư! Tôi đã lập gia đình và đã ly dị, tuy nhiên sau khi ly dị tôi vẫn còn một số những thắc cần phải giải quyết mong được luật sư tư vấn: 1/ Tôi có mua một căn nhà trước khi kết hôn, nhưng trong quá trình chờ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất thì tôi đã đăng ký kết hôn. do đó, giấy chứng nhận quyền sở hữu đất của tôi có sau giấy đăng ký kết hôn 15 ngày.
Vậy liệu tôi có phải chia phần tài sản này sau khi ly hôn không?

Trả lời:

Về đơn xin ly hôn bạn có thể tham khảo: Mẫu đơn xin ly hôn

1. Về vấn đề tài sản của vợ chồng được quy định

" Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo đó quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là tài sản phải đăng ký. Vì vậy, điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định như sau:

" Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này."

Cụ thể, việc xác định quyền sở hữu và quyền định đoạt với tài sản này được quy định tại nghị định 126/2014/NĐ-CP như sau:

" Điều 12. Đăng ký tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng phải đăng ký theo quy định tại Điều 34 của Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm quyền sử dụng đất, những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu.

2. Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng.

3. Trong trường hợp tài sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân mà trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên cả vợ và chồng thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở văn bản thỏa thuận của vợ chồng hoặc quyết định của Tòa án về chia tài sản chung."

Như vậy, tài sản này phát sinh trước thời kỳ hôn nhân nhưng căn cứ xác lập sở hữu được thực hiện trong thời kì hôn nhân. Vì vậy, nếu giấy chứng nhận đứng tên một bên là anh thì tài sản này được xác định là tài sản riêng của anh.

2. Khi tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân mà không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng thì được coi là tài sản chung của vợ chồng. Khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên cả hai vợ chồng.

3. Việc xác lập những văn bản phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại điều 39 Luật hôn nhân và gia đình như sau:

" Điều 39. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

2. Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.

3. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

4. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác."

Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định như sau :

" Điều 17. Sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định.

2. Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật."

Như vậy, văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không bắt buộc phải công chứng chứng thực lần đầu.

Kính chào Luật Minh Khuê ! Tôi có một vấn đề xin hỏi mong được nhận câu trả lời từ công ty luật Minh khuê. Tôi là công chức- viên chức đã vào biên chế, trong cuộc sống của tôi vợ chồng không được hạnh phúc, tôi đã li hôn với chồng và giờ đang đơn thân nuôi con. ở trong đơn vị tôi công tác cũng có một đồng nghiệp theo nhìn nhận thì gia đình đồng nghiệp đó cũng không hạnh phúc, Anh A có tâm sự, chia sẻ với tôi về vấn đề cuộc sống, sau một thời gian thì có nảy sinh tình cảm, Anh A thì chưa ly hôn, gần đây vợ anh A có biết anh A có tình cảm với tôi, và lưu giữ được tin nhắn tôi và anh A nhắn tin với nhau có những lời lẽ yêu thương quan tâm nhau, và hình ảnh tôi và anh A có dịp đi chơi cùng nên chụp chung. vậy với chứng cứ đó nếu vợ anh A đem ra để kiện tôi và Anh A ngoại tình, thì công việc của tôi và Anh A sẽ như thế nào? Mong nhận được câu trả lời sớm nhất! kính!

Hành vi ngoại tình là một trong những hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Tuy nhiên, hành vi ngoại tình bị truy cứu trách nhiệm hình sự cần đảm bảo yếu tố cấu thành quy định tại Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

"Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm".

Nếu chưa đủ cấu thành tội phạm theo quy định trên, Người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính theo khoản 35 điều 1 Nghị định 67/2015/NĐ-CP như sau:

" 35. Sửa đổi tên Điều 48, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 1, Điểm a Khoản 2 và bổ sung Điểm bKhoản 2 Điều 48 như sau:

“Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân;

b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ.”

Như vậy, chỉ khi bạn và anh ấy có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng thì mới vi phạm pháp luật.

Việc chung sống như vợ chồng được hướng dẫn tại thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC "3.1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó... "

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Quy định về vấn đề về kết hôn, ly thân và ly hôn ?

Xin chào luật sư ! Em có một số vấn đề về thủ tục ly hôn cần được tư vấn của luật sư, mong luật sư tư vấn giúp em! Em đăng ký kết hôn ở UBND xã, vậy khi gửi đơn xin ly hôn thì em sẽ gửi đơn ở đâu? Đơn của em là đơn thuận tình ly hôn. Khi gửi đơn này thì bao lâu đơn của em sẽ được giải quyết. Em không có việc làm, vậy em có được quyền nuôi con hay không, trong trường hợp đối phương chấp nhận để em được nuôi con? Việc cấp dưỡng nuôi con thì có cần ghi rõ mức cấp dưỡng trong đơn hay không? Việc cấp dưỡng sẽ thực hiện đến khi con được bao nhiêu tuổi? Số tiền cấp dưỡng có thay đổi theo số năm, số tuổi của con hay không?
Mong nhận được tư vấn của luật sư! Em xin trân thành cảm ơn !

Luật sư phân tích:

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết Ly hôn như sau:

"Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.

2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

5. Tranh chấp về cấp dưỡng.

6. Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

7. Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.

8. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

"Điều 29. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

3. Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

4. Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

5. Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

6. Yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

7. Yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án.

8. Yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

9. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

10. Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

11. Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật".


"Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:

a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này;

d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này.

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam."

Điều 39 quy định về thẩm quyền của tòa án "Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;"

Như vậy. việc anh chị yêu cầu giải quyết thuận tình ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện. Anh chị có thể thỏa thuận về tòa án giải quyết,tòa án huyện nơi anh hoặc chị đang cư trú.

Hồ sơ cần chuẩn bị khi yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn:

-Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, ly hôn và chia tài sản khi ly hôn

-Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

-Bảo sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

-Bản sao giấy khai sinh của con (nếu có)

-Giấy tờ chứng minh tài sản chung của hai vợ chồng (nếu có)

Khi nộp đơn đến tòa, sau 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn thì tòa án sẽ xem xét hồ sơ của bạn có hợp lệ, đầy đủ, đúng thẩm quyền hay chưa, nếu đã hợp lệ thì tòa án sẽ tiến hành thụ lý, bạn phải nộp tiền tạm ứng án phí là 100.000 đồng.

Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án thì tòa án sẽ gửi thông báo đến cho các bên.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Nếu anh chị không thỏa thuận được về tài sản, quyền nuôi con xảy ra tranh chấp thì thời hạn giải quyết là 4 tháng.

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền nuôi con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Nếu con dưới 36 tháng tuổi thì sẽ do người mẹ trực tiếp nuôi con, nếu con trên 07 tuổi thì sẽ xem xét đến nguyện vọng của con. Khi quyết định ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì tòa án sẽ căn cứ đến nhiều yếu tố đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con.

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về cấp dưỡng sau khi ly hôn như sau:

"Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng
1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.
Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.
2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này".
"Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con
Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
Điều 115. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn
Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình".
"Điều 116. Mức cấp dưỡng
1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết".
"Điều 117. Phương thức cấp dưỡng
Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.
Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết".
"Điều 118. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng
Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;
2. Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;
3. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;
4. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;
5. Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;
6. Trường hợp khác theo quy định của luật".

Như vậy, mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Nếu hai bên thỏa thuận được thì có thể thay đổi mức cấp dưỡng, nếu một bên không đồng ý thì sẽ yêu cầu tòa án giải quyết.

Xin chào luật sư, tôi kết hôn từ tháng 10 năm 2013. Do lúc kết hôn tôi mới ra trường nên sau khi cưới và sinh con tôi vẫn chưa đi làm. Tôi có một con gái nay được 30 tháng. Từ lúc cưới và có bầu tôi chỉ ở nhà chồng tại quận 3 thành phố Hồ Chí Minh mấy tháng, về sau khi sinh tôi về nhà mẹ đẻ ở Bà Rịa Vũng Tàu sống cùng con đến tận bây giờ. Cuộc sống vợ chồng tôi có nhiều mâu thuẫn. Chồng tôi cũng không đi làm đều đặn. Đa số là không đi làm. Đối với tôi thì hay la mắng và nhiều lần còn đánh đập tôi kể cả lúc tôi đang có bầu. Mọi chi phí lo cho con tôi là toàn từ phía ba mẹ tôi. Chồng tôi lâu lâu khi nào có tiền thì xuống chơi mấy ngày rồi về còn lại chẳng gửi tiền để nuôi con. Cuộc sống của chồng tôi rất phức tạp suốt ngày chơi bời tụ tập với bạn bè. Vì vậy vợ chồng tôi tuy không ở chung vơi nhau nhưng đa số toàn mâu thuẫn. Hiện tại tôi rất muốn ly hôn nhưng không biết phải làm như thế nào? Vì tôi rất ít khi liên lạc được với chồng tôi. Vậy nên xin hỏi luật sư nếu tôi muốn ly hôn thì có gì bất lợi cho tôi hay không? Và ngoài đứa con chung ra thì chẳng có tài sản gì. Còn về nợ chung thì nếu chồng tôi không chịu chi trả thì sao? Và nếu chồng tôi không có việc làm thì vấn đề cấp dưỡng cho con thì tính như thế nào? Xin nhờ luật sư tư vấn giúp. Xin chân thành cảm ơn!

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về vấn đề ly hôn theo yêu cầu của một bên.

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia".

Như vậy, người chồng của bạn có hành vi bạo lực, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu ly hôn đơn phương.

Căn cứ vào điều 28, điều 29, điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì bạn sẽ nộp hồ sơ đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú.

Thành phần hồ sơ bao gồm:

-Đơn xin ly hôn

-Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

-Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

-Bảo sao giấy khai sinh của con (nếu có)

-Các giấy tờ chứng minh tài sản chung (nếu có).

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Nếu con dưới 36 tháng tuổi thì sẽ do người mẹ trực tiếp nuôi con, nếu con trên 07 tuổi thì sẽ xem xét đến nguyện vọng của con. Khi quyết định ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì tòa án sẽ căn cứ đến nhiều yếu tố đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con."

Con của bạn mới 30 tháng tuổi nên sẽ do bạn trực tiếp nuôi con. Chồng bạn sẽ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi ly hôn. Nếu không thỏa thuận được về mức cấp dưỡng hoặc chồng bạn không chịu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì bạn có thể yêu cầu tòa án giải quyết. Vấn đề khoản nợ chung của hai vợ chồng cũng được tòa án giải quyết rõ ràng về phần nợ của vợ và chồng sau khi ly hôn, vì vậy, nếu chồng bạn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ với phần nợ của chồng thì bên cho vay nợ cũng không có căn cứ để yêu cầu bạn phải thanh toán số nợ đó.

Xin chào luật sư, xin cho tôi hỏi vấn đề sau: Vợ chồng tôi thuận tình ly hôn, hiện chúng tôi có hai mảnh đất đứng tên của hai vợ chồng, khi ly hôn chúng tôi thỏa thuận để cả hai mảnh đất đó cho tôi (là vợ) quản lý và sử dụng. Vậy luật sư cho tôi hỏi chúng tôi phải làm những thủ tục gì để sau ly hôn hai mảnh đất đó thuộc quyền sở hữu hợp pháp của tôi mà không liên quan đến chồng tôi. Nếu có mẫu biểu văn bản gì xin luật sư cho tôi xin mẫu luôn ạ. Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết"

Như vậy, vấn đề về tài sản của vợ và chồng khi ly hôn pháp luật ưu tiên sự thỏa thuận của vợ chồng. Như vậy, sau khi ly hôn, bạn sẽ cầm giấy tờ công nhận thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn có đóng dấu của tòa án đến văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có 1 số vướng mắc nhờ luật sư tư vấn giúp. Tôi và bạn trai ( Việt kiều Đức- đã li hôn 1 lần) dự tính đăng kí kết hôn vào tháng 11 này. Vậy bây giờ chúng tôi phải chuẩn bị những thủ tục gì? Tôi có KT3 Thành phố HCM, hộ khẩu thường trú tỉnh Bình Thuận thì chúng tôi có thể đăng kí kết hôn ở tp HCM được không? Vì tôi đang làm việc ở Tp. Bạn trai tôi có cần gởi giấy chứng nhận đã ly hôn về trước để xác minh không? Nếu bạn tôi gởi hồ sơ về trước để tôi nộp, đến tháng 11 bạn tôi về kí thôi được không? Tôi xin chân thành cám ơn luật sư.

Luật Hộ tịch năm 2014 quy định:

"Điều 37. Thẩm quyền đăng ký kết hôn
1. Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.
2. Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn".
"Điều 38. Thủ tục đăng ký kết hôn
1. Hai bên nam, nữ nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
Người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp thêm giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân, bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức làm công tác hộ tịch có trách nhiệm xác minh, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết.
3. Khi đăng ký kết hôn cả hai bên nam, nữ phải có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân, công chức làm công tác hộ tịch hỏi ý kiến hai bên nam, nữ, nếu các bên tự nguyện kết hôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.
4. Chính phủ quy định bổ sung giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn, việc phỏng vấn, xác minh mục đích kết hôn khi giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn; thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên".

Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn về thủ tục như sau:

"Điều 30. Hồ sơ đăng ký kết hôn

1. Hồ sơ đăng ký kết hôn được lập theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 của Luật Hộ tịch và quy định sau đây:

a) Hai bên nam, nữ có thể khai chung vào một Tờ khai đăng ký kết hôn;

b) Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài là giấy do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng; trường hợp nước ngoài không cấp xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó.

Nếu giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài không ghi thời hạn sử dụng thì giấy tờ này và giấy xác nhận của tổ chức y tế theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 của Luật Hộ tịch chỉ có giá trị 6 tháng, kể từ ngày cấp.

2. Trường hợp người nước ngoài không có hộ chiếu để xuất trình theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Nghị định này thì có thể xuất trình giấy tờ đi lại quốc tế hoặc thẻ cư trú.

3. Ngoài giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này, nếu bên kết hôn là công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì còn phải nộp bản sao trích lục hộ tịch về việc đã ghi vào sổ việc ly hôn hoặc hủy việc kết hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 của Nghị định này; nếu là công chức, viên chức hoặc đang phục vụ trong lực lượng vũ trang thì phải nộp văn bản của cơ quan, đơn vị quản lý xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không trái với quy định của ngành đó".

"Điều 31. Trình tự đăng ký kết hôn

Trình tự đăng ký kết hôn được thực hiện theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều 38 của Luật Hộ tịch và quy định sau đây:

1. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Tư pháp tiến hành nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ và xác minh nếu thấy cần thiết. Trưởng phòng Phòng Tư pháp chịu trách nhiệm về kết quả thẩm tra và đề xuất của Phòng Tư pháp trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn.

2. Nếu hồ sơ hợp lệ, các bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, không thuộc trường hợp từ chối kết hôn đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 33 của Nghị định này thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký 02 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

3. Căn cứ tình hình cụ thể, khi cần thiết, Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ quy định bổ sung thủ tục phỏng vấn khi giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và hiệu quả quản lý Nhà nước".

"Điều 32. Tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn, Phòng Tư pháp tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

2. Việc trao, nhận Giấy chứng nhận kết hôn được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 38 của Luật Hộ tịch.

Giấy chứng nhận kết hôn có giá trị kể từ ngày được ghi vào sổ và trao cho các bên theo quy định tại Khoản này.

3. Trường hợp một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì theo đề nghị bằng văn bản của họ, Phòng Tư pháp gia hạn thời gian trao Giấy chứng nhận kết hôn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn. Hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký".

Nếu sau đó hai bên nam, nữ vẫn muốn kết hôn với nhau thì phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu.

Như vậy, người bạn trai cần có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó có quốc tịch. Sau khi có đầy đủ giấy tờ theo quy định thì mới có thể đăng ký kêt hôn.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi muốn ly hôn với vợ tôi thì thủ tục cần những gì. Cũng khá lâu rồi chúng tôi sống kiểu ly thân, còn về phần con cái thì có 2 cháu nhưng tôi xin nuôi con còn tài sản không có tài sản chung. Về nợ nần thì cũng không có vậy xin hỏi luật sư như thông tin trên thì tôi cần làm thủ tục và những giấy tờ gì. Mong luật sư cho biết và cho chút ý kiến. Xin chân thành cảm ơn luật sư!

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về quyền yêu cầu ly hôn từ vợ và chồng. Nếu bạn có thể thỏa thuận với vợ về việc ly hôn, vấn đề tài sản và quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì hai vợ chồng có thể yêu cầu tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Nếu bạn muốn ly hôn nhưng vợ bạn không đồng ý, hai bên không thỏa thuận được thì bạn vẫn có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn. Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia".

Nếu có căn cứ thì bạn có thể gửi hồ sơ đến tòa án để yêu cầu giải quyết ly hôn.

Căn cứ vào điều 28, điều 29, điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì bạn sẽ nộp hồ sơ đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ bạn đang cư trú.

Thành phần hồ sơ bao gồm:

- Đơn xin ly hôn

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

-Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

-Bảo sao giấy khai sinh của con (nếu có)

-Các giấy tờ chứng minh tài sản chung (nếu có).

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền nuôi dưỡng con sau khi ly hôn:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Như vậy, Hai vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Con dưới 36 tháng tuổi sẽ do người mẹ trực tiếp nuôi con, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Con trên 7 tuổi sẽ xem xét đến nguyện vọng của con. Những trường hợp còn lại thì xem xét đến các điều kiện để đảm bảo môi trường tốt nhất cho con.

Xin nhờ Công Ty Luật Minh Khuê tư vấn giúp tôi 1 việc như sau: Năm 2000 tôi cưới vợ có 1 con chung với vợ Tên A. Năm 2012 tôi ly hôn . Tài sản sau khi ly hôn thì tôi còn căn nhà để ở. Vợ A của tôi cũng nhận số tiền tương đương trị giá căn nhà. Năm 2015 tôi cưới Cô B. Hỏi bây giờ tôi muốn lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà tôi đang ở cho con gái tôi 10 tuổi thì trường hợp tôi có chết bất ngờ thì con gái sẽ được hưởng trọn căn nhà này hay không? Ghi chú : tài sản này là tài sản trước khi tôi cưới cô B. Vậy cô B có được chia 1 phần tài sản trong căn nhà này hay không vì tôi chỉ muốn con gái hưởng trọn trị giá căn nhà này mà không có sự ép buộc chia tài sản từ Cô B. Với Cô B, tôi đã tạo dựng 1 tài sản khác từ khi cưới Cô B. Và tài sản này sẽ là tài sản cho Cô B .Trân trọng cảm ơn!

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này".

"Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng
1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.
3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ".

Như vậy, tài sản riêng của vợ, chồng được pháp luật công nhận và bảo vệ. Anh có thể viết di chúc để lại khối tài sản riêng này cho con gái.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Không thể đăng ký kết hôn khi chưa ly hôn ?

Thưa luật sư, Tôi có một Anh Bạn tên là Đức, Anh và vợ đã ly thân từ rất lâu và đã nhiều lần ra tòa xin ly hôn nhưng chưa được tòa án giải quyết. Vậy tôi muốn hỏi Anh Đức có quyền kết hôn khi tòa án chưa cho ly hôn hay không?

Trả lời:

Thư anh Thành Đức gửi cho chúng tôi chia sẻ nỗi niềm là anh đã kết hôn rồi có một vợ và một người con gái năm tuổi. Lúc trước do gia đình anh ép cưới chị chứ anh không hề yêu chị. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nhiều lần anh đòi chia tay nhưng chị nói nếu anh chia tay chị thì chị sẽ tự vẫn chết vì chị không thể chịu nổi lời dị nghị của gia đình, hàng xóm, bạn bè rằng chị phải ra sao mới bị chồng bỏ. Người vợ anh Đức còn nói anh Đức muốn yêu ai và chung sống với ai thì tùy, chị không cấm cản, miễn là không ly hôn với chị. Ngoài ra anh Đức còn tâm sự, do quá cô đơn nên anh có gặp và yêu một người phụ nữ khác, hai người thuê một căn nhà nhỏ để sống chung. Người phụ nữ này hiện đang có thai 2 tháng cũng nhiều lần yêu cầu anh cưới để hợp thức hóa quan hệ của họ cũng như để con chung của hai người có tên cha trong giấy khai sinh. Do vậy anh Đức hỏi: anh có được quyền đăng ký kết hôn với người phụ nữ thứ hai này mà không cần phải làm thủ tục ly hôn với người vợ của anh không. Anh Đức cũng hỏi thêm trong trường hợp anh không thể ly với người vợ mình và làm thủ tục đăng ký kết hôn với người phụ nữ anh đang chung sống thì có cách nào để anh đứng tên là cha trong giấy khai sinh của cháu bá này không?

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900.6162

Hướng dẫn về quyền nuôi con sau ly hôn - Cafe Sáng với VTV3

Trả lời:

Trước tiên anh Đức phải giải quyết xong mối quan hệ với người vợ thì mới tính đến chuyện đăng ký kết hôn với người khác được. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người đang có vợ hoặc có chồng thuộc trường hợp bị cấm kết hôn. Chúng tôi hoàn toàn thông cảm với hoàn cảnh của anh Đức nhưng chúng tôi cũng phải nói rằng anh Đức đang vi phạm pháp luật cụ thể Khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015 có quy định “Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”. Như vậy anh Đức không thể chưa ly hôn với người vợ của mình mà đã chung sống như vợ chồng với người khác được.

Tuy nhiên chúng ta đang đi tìm lời giải cho câu hỏi của anh Đức. chúng ta đã giải quyết được một câu hỏi của anh Đức là anh có thể kết hôn với người phụ nữ mà anh chung sống hiện nay mà không cần phải qua thủ tục ly hôn với người vợ của anh không, chúng tôi xin khẳng định là không thể. Anh phải hoàn tất thủ tục ly hôn với người vợ hiện nay rồi anh mới có thể kết hôn với người phụ nữ khác được.

Câu hỏi thứ hai mà anh Đức hỏi nếu anh không thể kết hôn với người phụ nữ anh đang chung sống vì anh chưa làm thủ tục ly hôn với người vợ của anh thì anh có được đứng tên cha của con chung của anh với người phụ nữ anh đang chung sống không trên giấy khai sinh của cháu bé hay không?

Một số mẫu văn bản áp dụng cho thủ tục ly hôn: Mẫu đơn xin ly hôn Mẫu giấy xác nhân mâu thuẫn vợ chồng;

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân- Công ty luật Minh Khuê

------------------------------------

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?