1. Mẫu đơn khiếu nại về việc bị lấn chiếm đất

Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu đơn khiếu nại giải quyết tranh chấp đất đai để Quý khách hàng tham khảo và áp dụng vào thực tiễn. Thông tin pháp lý liên quan vui lòng liên hệ trực tiếp để được tư vấn, hỗ trợ.

>> Click để tải ngay: Mẫu đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------------

.........ngày......tháng.......năm............

ĐƠN KHIẾU NẠI VỀ VIỆC BỊ LẤN CHIẾM ĐẤT


Kính gửi: UBND Xã................Huyện...............Tỉnh.................

Tôi tên là: ............................................ Sinh năm....................

Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân:...........................

Cấp ngày..... tháng.... năm...... tại............................................

Địa chỉ:.......................................................................................

Xin trình bày sự việc như sau:

Ngày ....... tháng.......năm......... tôi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số.......................tại thửa............. Sau khi điều chỉnh do tôi chuyển nhượng 80m2 cho Ông ( bà )................................ theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày...... tháng......năm............ thì thửa............... của tôi còn lại.................m2, cụ thể theo bản đồ địa chính thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa ..................... có kích thước còn lại là chiều ngang mặt tiền 3,5 mét, chiều dài 19,2 mét, chiều ngang mặt hậu 3,5 mét. Thế nhưng hiện nay mặt hậu thửa ....... của tôi chỉ còn 2,5 mét vì đã bị
bà ( ông ), ngụ tại số......... đường........ấp.......xã........huyện.......tỉnh, là người sử dụng đất liền kề lấn sang.

Vậy nay tôi làm đơn này kính xin UBND Xã.........Huyện..............Tỉnh......................................... xử lý hành vi lấn đất của bà (ông) để trả lại cho tôi đủ mặt hậu thửa đất......................... là 3,5 mét như Nhà nước đã công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho tôi.

Tôi gửi kèm theo đơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số...........................ngày..........tháng...năm..............................

Kính mong quý cơ quan nhanh chóng giải quyết, tôi xin thành thật biết ơn.


Kính đơn!

Người làm đơn

(Ký, ghi rõ họ tên)

2. Mẫu đơn khiếu nại giải quyết tranh chấp đất với UBND xã

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN KHIẾU NẠI

Kính gửi: Ủy Ban Nhân Dân Quận/Huyện …, Thành Phố Hà Nội

Tên tôi là: Đỗ Văn M, đăng ký hộ khẩu thường trú tại đội …., thôn ……, xã …, huyện …, thành phố Hà Nội.

Tôi làm đơn này khiếu nại Kết luận số …./KL-UBND về việc trả lời đơn đề nghị của ông Đỗ Văn M, thôn ….. của UBND xã ….. lập ngày … tháng … năm 20...

Nội dung khiếu nại cụ thể như sau:

Thứ nhất: Gia đình tôi có mua một mảnh đất của Ông Đỗ Văn K (đã mất) và bà Nguyễn Thị X tại: Đội …, thôn …, xã …, huyện …, thành phố Hà Nội vào ngày … tháng … năm 19… (mảnh đất trên có nguồn gốc sử dụng ổn định từ năm 1981). Gia đình chúng tôi sử dụng ổn định, lâu dài không tranh chấp và đóng thuế đầy đủ cho nhà nước từ đó đến nay theo đúng hướng dẫn của UBND xã …. Do nhà cấp bốn xây dựng đã lâu năm nên thường xuyên dột, kết cấu nhà thiếu bền vững có thể bị đổ, sập bất kỳ khi nào gây nguy hiểm đối với con cháu trong gia đình nên ngày … tháng … năm 20… tôi có bàn bạc với các con để cải tạo lại phần nhà tránh tình trạng dột nát, nguy hiểm kể trên. Tuy nhiên, UBND xã … không cho phép gia đình chúng tôi cải tạo đồng thời yêu cầu gia đình phải ký lại bản hợp đồng thuê mảnh đất trên với UBND xã vào ngày … tháng …năm 20… và yêu cầu gia đình tôi phải nộp phí ...000.000 VNĐ/năm (bằng chữ: … triệu đồng). Tuy biết khoản thu này là trái nguyên tắc nhưng gia đình tôi vẫn chấp thuận và đã nộp đầy đủ theo yêu cầu của chính quyền địa phương.

Ngày … tháng … năm 20…, Tôi đã làm đơn đề nghị UBND xã … xác minh nguồn gốc sử dụng đất của gia đình và yêu cầu giải trình sự việc cản trở gia đình xây dựng cũng như việc buộc gia đình phải ký lại bản hợp đồng với mảnh đất mà gia đình đã sử dụng ổn định, lâu dài, không tranh chấp từ năm 1997 đến nay.

Ngày … tháng … năm 20…, Gia đình chúng tôi đã nhận được bản kết luận số …/KL/UBND của UBND xã … với nội dung:

Kết luận thứ nhất: Hợp đồng số …/HĐ-UB ngày …/…/20… của UBND xã với ông Đỗ Văn M thuê mặt bằng để kinh doanh dịch vụ là hợp đồng chưa đúng quyền hạn của UBND xã.

Như vậy, UBND xã … đã thừa nhận việc yêu cầu gia đình tôi ký lại hợp đồng với UBND xã là không có căn cứ pháp luật, hợp đồng trên vô hiệu về mặt chủ thể (“UBND xã ký hợp đồng thuê mặt bằng để kinh doanh là chưa đúng quyền hạn”).

Với kết luận này tôi đề nghị UBND huyện ….:

  • Yêu cầu UBND xã Hủy bỏ hợp đồng số …/HĐ-UB lập ngày …/…/20… ký giữa UBND xã … với Ông Đỗ Văn M;
  • Yêu cầu UBND xã … hoàn trả số tiền đã thu trái phép của gia đình ông Đỗ Văn M (số tiền : ...000.000 VNĐ/năm);
  • Vì hợp đồng trên là không có hiệu lực nên việc thỏa thuận về các nội dung trong hợp đồng cũng không có giá trị áp dụng cụ thể “Bên thuê mặt bằng chỉ được xây dựng công trình nhà cấp 4, tường gạch chỉ 110mm bỏ trụ, cao không quá 4 m, mái lợp bằng ngói hoặc tấm lợp, không được xây dựng công trình kiên cố và quá diện tích được thuê…”;
  • Yêu cầu UBND xã không tiến hành việc cản trở hoạt động xây dựng hợp pháp của người dân. Nếu tiến hành việc ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xây dựng liên quan đến hoạt động bảo vệ hành lang đê điều phải có quyết định rõ ràng? Trong quyết định phải chỉ rõ gia đình tôi vi phạm quy định định nào? Trong văn bản quy phạm pháp luật nào của nhà nước? Chúng tôi sẵn sàng chấp thuận mọi chủ trương của Đảng và quy định của nhà nước trong lĩnh vực kể trên.

Kết luận thứ hai: Nguồn gốc thửa đất ông Đỗ Văn M đề nghị xác minh tại vị trí bờ hữu kênh … gần đầu Cầu …, thuộc …. thôn …. là đất công nằm trong hành lang bảo vệ đê điều và không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài.

Tôi cho rằng kết luận của UBND xã … là hoàn toàn chủ quan, thiếu căn cứ và không dựa trên cơ sở pháp luật. Cụ thể:

Vấn đề thứ nhất: UBND xã … cho rằng đất đã thuê của Ông … là đất công nằm trong hành lang bảo vệ đê điều. Tôi nhận thấy rằng, Theo quy định của Điều 10 Luật Đất đai năm 2013, thì đất đai được phân loại cụ thể thành 03 nhóm đất như sau:
- Đất nông nghiệp;

- Đất phi nông nghiệp;

- Đất chưa sử dụng (bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng).

Trong Luật Đất đai năm 2013 không có khái niệm pháp lý nào là “đất công”, mà chỉ có đất sử dụng vào mục đích công cộng, gồm đất giao thông, thủy lợi; đất xây dựng các công trình văn hóa...; đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ. Các văn bản của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Đất đai cũng không có quy định về “đất công”. Như vậy là ngoài các nhóm đất, loại đất đã được phân loại theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Uỷ ban nhân dân xã … đã tự quy định thêm loại đất mới (đất công) trái với quy định của các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp trên ban hành và có hiệu lực pháp lý thống nhất trên toàn quốc.

Đồng thời, UBND xã cũng cho rằng mảnh đất của Ông Đỗ Văn Mìn là đất “nằm trong hành lang bảo vệ đê điều”. Tôi cho rằng điều này là hoàn toàn vô căn cứ, bởi lẽ:

- Thứ nhất, căn cứ theo quy định tại khoản 2, điều 23, Luật đê điều số 79/2006/QH11 về hành lang bảo vệ đê được quy định như sau:

“a) Hành lang bảo vệ đê đối với đê cấp đặc biệt, cấp I, cấp II và cấp III ở những vị trí đê đi qua khu dân cư, khu đô thị và khu du lịch được tính từ chân đê trở ra 5 mét về phía sông và phía đồng; hành lang bảo vệ đê đối với các vị trí khác được tính từ chân đê trở ra 25 mét về phía đồng, 20 mét về phía sông đối với đê sông, đê cửa sông và 200 mét về phía biển đối với đê biển;

b) Hành lang bảo vệ đê đối với đê cấp IV, cấp V do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không được nhỏ hơn 5 mét tính từ chân đê trở ra về phía sông và phía đồng”.

- Thứ hai, Căn cứ theo Quyết định số 2207/QĐ-BNN-TCTL của Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc phân loại, phân cấp đê trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành ngày 13 tháng 09 năm 2012. Tôi nhận thấy rằng bờ hữu kênh Vân Đình không thuộc hành lang bảo vệ đê điều nên không thể xác định theo cách tính hành lang bảo vệ đê cấp đặc biệt, cấp I, Cấp II, Cấp III, Cấp IV; Cấp V và đê chuyên dùng.

Như vậy, UBND xã … đã đưa ra kết luận hoàn toàn trái với quy định của pháp luật về đất đai cũng như quy định của luật đê điều. Họ đã hiểu nhầm rằng đất của ông M là “đất công” và đã là “đất công” thì phải do nhà nước quản lý. Đồng thời, họ đưa ra nhận định chủ quan, sai luật rằng đất của Ông M thuộc hành lang bảo vệ đê điều và đương nhiên UBND xã … đã xác định hành lang bảo vệ đê điều hoàn toàn sai vì họ tính từ mép bờ hữu kênh Vân Đình kéo vào 5 m để xác định hành lang bảo vệ đê điều mà quên mất rằng bờ hữu kênh Vân đình không nằm trong hành lang bảo vệ đê theo quy định của luật hiện hành.

- Kết luận thứ ba: Không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài.

Về kết luận này gia đình chúng tôi xin có ý kiến như sau:

Theo kết quả xác minh của UBND xã … và dựa trên những tài liệu, chứng cứ cụ thể do gia đình cung cấp, nguồn gốc sử dụng đất của gia đình Ông M đã được xác định cụ thể như sau.

- Năm 1981: Gia đình bà Nguyễn Thị X và Ông Đỗ Văn K (đã mất) cư trú tại Đội …, thôn …, xã …, huyện …, thành phố Hà Nội là gia đình có công với cách mạng (có 01 con là liệt sĩ) nên được UBND xã … tạo điều kiện cho mở quán nước và sinh sống ổn định tại địa chỉ trên. (Căn cứ vào đơn xin mở quán nước của gia đình bà S, có xác nhận đồng ý cho mở quán nước của UBND xã …). Như vậy, nguồn gốc của mảnh đất trên là do UBND xã cho người dân thuê lại để kinh doanh và ở được xác định từ năm 1981. Gia đình chúng tôi có đầy đủ bản gốc để đối chứng với chính quyền địa phương về mục đích, nguồn gốc sử dụng đất tại thời điểm đó (Gửi kèm bản photo đơn xin mở quán nước có xác nhận của UBND xã của gia đình bà Suất).

- Năm 1997: Ngày 20 tháng 04 năm 1997, do tuổi cao, sức yếu Bà Nguyễn Thị X cùng các con đã đồng thuận ký chuyển nhượng đất quán và tài sản trên đất cho Tôi với giá trị ...000.000 VNĐ (bằng chữ : …triệu đồng chẵn). (Gửi kèm đơn xin nhượng lại quán và hoa màu của gia đình bà X cho Tôi, có người làm chứng và Biên bản chuyển nhượng đất quán khu vực gần Cầu bầu sát đường 73 giữa bà Nguyễn Thị S và Tôi, có người làm chứng).

Tại thời điểm đó: Ngày … tháng … năm 19…theo yêu cầu của UBND xã Tôi buộc phải ký hợp đồng thuê đất mở dịch vụ sản xuất kinh doanh theo hợp đồng số …HĐ/KT trong thời hạn 05 năm từ ngày 11 tháng 08 năm 1997 đến ngày 10 tháng 08 năm 2002. (Gửi kèm bản hợp đồng số …HĐ/KT được ký UBND xã và Ông M).

Như vậy, từ năm 1997 đến năm 2002 gia đình tôi đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật và đóng thuế sử dụng đất đầy đủ đối với mảnh đất kể trên.

- Năm 2002 đến năm 2012: UBND xã không tiến hành ký hợp đồng và cũng không thu tiền sử dụng đất; Gia đình có nhiều lần làm việc với UBND xã nhưng đều được trả lời là hiện tại không thu tiền đất nữa, gia đình ông cứ sử dụng đến khi nào có chính sách mới của Đảng và nhà nước.

- Năm 2012: Tháng 06 năm 2012 UBND xã … thông báo cho gia đình nộp thuế theo biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Loại thuế đất phải nộp là thuế đất ở tại nông thôn. (Gửi kèm theo biên lai thu phí số 007123; ký hiệu HX/2012; mẫu CTT 09B nộp ngày 18 tháng 11 năm 2012)

- Năm 2013: Tháng 06 năm 2012 UBND xã … thông báo cho gia đình nộp thuế theo biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Loại thuế đất phải nộp là thuế đất ở tại nông thôn. (Gửi kèm theo biên lai thu phí số 002664; ký hiệu HX/2012; mẫu CTT 09B nộp ngày 14 tháng 06 năm 2013)

Quan điểm của Gia đình chúng tôi về nguồn gốc sử dụng đất của chúng tôi như sau:

- Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thì quy định về những trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Như vậy, căn cứ theo luật đất đai về xác định nguồn gốc sử dụng đất thì nguồn gốc sử dụng đất của chúng tôi là hoàn toàn rõ ràng (Sử dụng ổn định, lâu dài từ năm 1981, không tranh chấp) không nằm trong phạm vi quy hoạch (hành lang bảo về đê điều) thì tại sao chính quyền UBND xã … có thể khẳng định là đất của Gia đình tôi không đủ điều kiện cấp sổ đỏ.

Cùng với hành vi ngăn cấm, đe dọa xử phạt hành chính đối với hoạt động cải tạo và xây dựng nhà của gia đình chúng tôi, UBND xã … căn cứ vào hợp đồng đã ký kết cho rằng gia đình tôi vi phạm thỏa thuận đã ký với xác nhưng sau khi xem xét lại đơn kiến nghị của gia đình chúng tôi UBND xã thừa nhận việc ký hợp đồng cho thuê mặt bằng mới là không đúng chức năng của UBNX xã. Đồng thời, UBNX xã … đã có hàng loạt các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái luật, cụ thể: Ngày 24 tháng 04 năm 2014 UBND xã … ra công văn số 23/UBND về việc ngừng cấp điện, nước, cấm phương tiện vận chuyển vật liệu và người lao động cho công trình xây dựng vi phạm (Gửi kèm theo đơn công văn số 23/UBND của UBND xã …). Việc cắt điện, nước của UBND xã … vi phạm nghiêm trọng quy chế dân chủ cấp cơ sở, cản trở hoạt động kinh doanh hợp pháp, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình chúng tôi.

Với những nhận định, hành vi hành chính, quyết định hành chính trái pháp luật của cán bộ cấp UBND xã … Tôi đề nghị UBND huyện … thành phố Hà Nội xem xét lại toàn bộ nội dung vụ việc, trả lại sự công bằng và hợp pháp cho gia đình tôi. Chúng tôi cam kết tuân thủ mọi quy định của pháp luật của nhà nước, chính sách của Đảng. Tôi cam kết những điều kê khai trên là hoàn toàn đúng sự thực, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

- Gửi kèm toàn bộ tài liệu, chứng cứ đã trình bày trong đơn

Hà Nội, ngày.... . tháng..... .năm 20....

Người khiếu nại

(ký và ghi rõ họ tên)

3. Mẫu đơn khởi kiện tranh chấp đất đai mới nhất

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập -Tự do - Hạnh phúc

……, ngày….. tháng …… năm…….

ĐƠN KHỞI KIỆN
Về việc tranh chấp đất đai (Có thể ghi rõ là tranh chấp về quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp tài sản trên đất)

Kính gửi: Toà án nhân dân ...............................................................
Họ và tên người khởi kiện: ...............................................................
CMND số ..................................... cấp ngày .../.../... tại ....................
Địa chỉ:...............................................................................................

Họ và tên người bị kiện: ....................................................................
Địa chỉ: ...............................................................................................

Họ và tên người có quyền và lợi ích được bảo vệ ..............................
Địa chỉ: .................................................................................................

NỘI DUNG KHỞI KIỆN

Yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau đây :...............................

Họ và tên người làm chứng (nếu có) ....................................................
Địa chỉ: ..................................................................................................
Những tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm có:
1............................................................................................................
2............................................................................................................
(Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án)
...............................................................................................................
Người khởi kiện

4. Mẫu đơn đề nghị/yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

----------------------------------

Hà Nội, ngày ......tháng ....... năm .......

ĐƠN ĐỀ NGHỊ

V/v: yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai

Kính gửi: UBND phường (xã, phường, thị trấn)..................................

Họ và tên người yêu cầu:

............................................................Sinh năm: ...........................................

CMND số: ........................Ngày cấp: .....................Nơi cấp:........................

Hộ khẩu thường trú: .....................................................................................

Địa chỉ nơi ở hiện nay:...................................................................................

Nội dung vụ việc tranh chấp:

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

Từ những nội dung nêu trên tôi (chúng tôi) đề nghị UBND phường (xã, phường, thị trấn)................................. tổ chức buổi hòa giải để giải quyết tranh chấp đất đai tại xã/phường/thị trấn đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số: ............., tờ bản đồ số..........., địa chỉ: .........

Trong buổi họp hòa giải, đề nghị lập biên bản hòa giải để chúng tôi tiếp tục thực hiện việc yêu cầu ..................................................... đối với thửa đất nêu trên tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tôi xin cam kết nhứng thông tin trên hoàn toàn đúng sự thật. Nếu có gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trước pháp luật.

Kính đơn!

NGƯỜI LÀM ĐƠN

(ký và ghi rõ họ tên)

---------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LÝ LIÊN QUAN:

1. Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất;

2. Tư vấn thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất;

3. Tư vấn thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất;

4. Dịch vụ tư vấn đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất;

5. Dịch vụ công chứng theo yêu cầu và tư vấn sang tên sổ đỏ;

6. Dịch vụ tư vấn đăng ký thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất;

5. Cách giải quyết khiếu nại tranh chấp đất đai ?

Xin chào luật sư, tôi là T, muốn nhờ luật sư tư vấn về việc có thể đòi lại đất hoặc ít nhất là giành quyền thuê mảnh đất đã bị xã thu hồi và giao cho người khác thuê. Cụ thể như sau:

1. Lịch sử của thửa đất: (bố tôi là ông H, hiện đã mất)

- Năm 1957, ông ngoại của bố tôi cho con gái (bà nội tôi) mảnh đất này (khi đó còn là ruộng trồng rau). Năm 1961, ông nội tôi sử dụng mảnh ruộng này để làm nhà ở và vườn để trồng rau.

- Năm 1962: xã X làm đường giao thông nông thôn đi qua mảnh đất này, chia mảnh đất thành 2 phần là nhà ở hiện nay (diện tích 352m2) + ao nước (do lấy đất làm đường), với diện tích 14 thước (tương đương 336 m2).

- Năm 1969, chủ tịch xã X cấp giấy chứng nhận (viết tay) cho gia đình tôi sử dụng ao này.

- Năm 1996, ao này bị gia đình nhà hàng xóm (ông P) khi xây tường lấn chiếm 1 phần diện tích.

- Ngày 22/9/1996, ông H đã có đơn kiện P lên UBND xã.

- Ngày 29/8/1997, phòng địa chính huyện Y cử cán bộ về đo đạc.

- Ngày 30/12/1997, phòng Địa chính huyện Y có công văn số 45-CVDC không công nhận giấy chứng nhận của Ủy ban hành chính xã X năm 1969. Đồng thời, kết luận ao này là đất công, và yêu cầu UBND xã thu hồi quản lý.

- Ngày 2/3/1998, UBND xã X ra quyết định thu hồi đất của gia đình tôi. Sau đó, xã cho lấp ao này và cho tư nhân thuê một cách lặng lẽ mà không tổ chức đấu thầu thuê công khai.

2. Hiện trạng:

- Xã đã cho tư nhân thuê mảnh đất này (ao trước kia) để kinh doanh.

- Người thuê đất này đang làm thủ tục để làm sổ đỏ: địa chính xã đã tiến hành đo đạc.

3. Văn bản, giấy tờ: Hiện tại, gia đình tôi chỉ còn lại 1 bản photo chứng nhận của chủ tịch UBND xã X năm 1969 (bản chính đã bị thất lạc), tuy nhiên chữ đã hơi mờ. Ông chủ tịch xã năm 1969 là anh nuôi của bố tôi (ông M ) và hiện nay ông vẫn còn sống. Các giấy tờ, văn bản khác (Công văn của phòng địa chính, quyết định thu hồi đất của UBND xã). Các tệp tin đính kèm là các giấy tờ này tôi đã gõ lại trên word.

Nhờ luật sư xem giúp tôi liệu có khả năng đòi lại được mảnh đất này hay ít nhất là giành quyền thuê lại mảnh đất này được hay không? Nếu được, luật sư cho tôi biết dịch vụ bên luật sư như thế nào?

Cảm ơn luật sư!

>> Tư vấn pháp luật Đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, căn cứ Luật đất đai năm 2013tại khoản 1, Điều 100 quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau:

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

- Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

- Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

- Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

- Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

- Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

- Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

....................................

Như vậy, tính đến thời điểm trước ngày 15/10/1993 khi chưa có tranh chấp, gia đình bạn sử dụng đất ổn định, lâu dài, có xác nhận của chính quyền địa phương tại thời điểm trước khi xảy ra tranh chấp thì gia đình bạn hoàn toàn có thể xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định trên. Việc ao nước bị ông P xây tường lấn đất là vi phạm pháp luật đất đai và việc khởi kiện của ông H đối với hành vi của ông P là hoàn toàn hợp pháp.

Thứ hai, căn cứ quy định tại Điều 66 Luật đất đai năm 2013 hiện hành đang áp dụng thì:

" Điều 66. Thẩm quyền thu hồi đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất".

Như vậy, Ủy ban nhân dân xã không có thẩm quyền thu hồi đất mà chỉ có thẩm quyền trong việc quản lý đất đai tại địa phương. Do đó, hành vi thu hồi đất của Ủy ban nhân dân xã trên của là hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời, xã X khi thu hồi đất đã tiến hành lấp ao và cho tư nhân thuê đất lặng lẽ mà không đấu thầu công khai và tư nhân thuê đất đang tiến hành làm sổ đỏ trên mảnh đất này là hành vi vi phạm pháp luật.

Trong trường hợp này bạn có thể khiếu nại đến UBND cấp huyện sau đó nếu có kết quả thì căn cứ vào Điều 204 Luật đất đai năm 2013 để tham khảo.

"Điều 204. Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính".

>> Tham khảo ngay:Tư vấn giải quyết tình huống tranh chấp đất đai?

6. Tư vấn về tranh chấp đất đai, đơn khiếu nại tranh chấp đất đai ?

Chào luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi muốn được giải đáp: Gia đình tôi là dân tộc thiểu số, dân tộc K'ho, sống tại Thôn B'Dor, xã Lộc An, huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng. Vì hoàn cảnh rất khó khăn, năm 1990, ba mẹ tôi được người dân và ban thôn tạo điều kiện cho ở trên miếng đất "công cộng" và ba mẹ từ đó mở quán tạp hoá nhỏ bán bánh kẹo học sinh là chủ yếu. Vì hồi đó là nhà tranh nên mỗi khi mùa mưa về là cả nhà đều phải chạy "lụt"

Đến năm 1999, ba mẹ dành dụm được vài triệu nên xin ý kiến ban thôn cho gia đình được phép sửa lại nhà, vì gia đình khó khăn nên ba mẹ tôi chỉ đủ kinh phí lập tôn, xây tường gạch thô 3 bên của căn nhà, chiều cao tường gạch khoảng 2.5m xây theo khung nhà gỗ cũ. Tính ra giờ thì cũng đã gần 10 năm, tường gạch xây không được kiên cố nên giờ xuất hiện nhiều vết nứt, trong khi ván, các trụ gỗ căn nhà cũng đã mục rất nhiều. Thêm nữa là ba tôi bị bệnh động kinh mấy chục năm nay, hàng tháng đều phải đến cơ sở y tế xã để nhận thuốc, sức khỏe yếu nên gần như không lao động nên có thể nói là cả gia đình 3 đứa con đều do 1 tay mẹ gánh vác. Tôi là con trai cả, năm nay 27 tuổi, trước cũng học đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, nhưng đầu năm 3 tôi bỏ học, đi làm thuê làm mướn kiếm tiền phụ giúp mẹ và để 2 em tôi đi học. Đến năm 2015, anh em chúng tôi gom góp được ít tiền với hy vọng để sửa nhà cho ba mẹ tuổi cao được nơi ở gọi là an toàn hơn (ba mẹ đều đã 59 tuổi), tôi có gặp ban thôn và xin mua lại luôn miếng đất, ban thôn họp toàn dân cả thôn và 100% tán thành đồng ý.

Nhưng đến tháng 2/2016, bên UBND xã Lộc An gửi 1 văn bản quyết định ban thôn không có quyền quyết định gì đối với miếng đất này. Còn đối với gia đình tôi thì UBND xã nói ban thôn có trách nhiệm họp lấy ý kiến dân, nếu dân làng không đồng ý thì nhà tôi phải di dời ngay lập tức, nếu dân đồng ý thì nhà tôi phải làm hợp đồng xin ở nhờ và phải trả lại đất đúng thời hạn. UBND ra quyết định như thế thì rất làm khó cho gia đình chúng tôi, kinh phí để bắt đầu làm lại 1 căn nhà mới chúng tôi không xoay nổi, trong khi ở vị trí mặt tiền này ba mẹ tôi có thể kiếm thêm ít thu nhập từ việc bán tạp hoá. Ngoài ra thì gia đình không có lấy 1 mảnh vườn canh tác hay sản xuất nông nghiệp. Còn nếu trong trường hợp phải làm hợp đồng xin ở nhờ thì chúng tôi lại rất băn khoăn trong việc sửa lại nhà. Nếu sửa thì chắc chắn sẽ tốn 1 khoản nào đó, trong khi đối với người nghèo như chúng tôi thì việc kiếm tiền là rất khó khăn, nhưng nếu không sửa nhà thì mỗi lần mưa gió là tôi cứ đau đáu lo lắng sợ nhà sập lúc nào không biết, gây nguy hiểm cho cả gia đình. Vậy tôi có thể làm đơn tố cáo với UBND?

Xin cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, với quyết định của UBND xã Lộc An về việc ban thôn không có thẩm quyền với miếng đất công cộng mà gia đình bạn đang sinh sống là đúng pháp luật, vì Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có thẩm quyền sử dụng quỹ đất nông nghiệp và mục đích công ích của xã, còn không có quyền ra quyết định giao đất cho công dân, căn cứ vào quy định tại khoản 4 điều 132 Luật đất đai năm 2013:

"Quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất quản lý, sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt".

Thứ hai, việc sử dụng đất của gia đình bạn là do nhân dân trong thôn tạo điều kiện cho ở, mà không do cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ cấp huyện trở lên quyết định, như vậy là vi phạm pháp luật về đất đai, cụ thể là vi phạm khoản 6 Điều 12 Luật đất đai năm 2013:

"6. Sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền."

Bên cạnh đó theo quy định tại Điều 205 Luật đất đai năm 2013, thì cá nhân có thể tố cáo khi có vi phạm pháp luật quản lý, sử dụng đất đai. Như vậy, chỉ khi có vi phạm về đất đai thì mới có tố cáo; trường hợp của bạn, căn cứ vào Điều 12 Luật đất đai năm 2013 đã trình bày ở trên thì UBND không vi phạm. Vì thế bạn không tố cáo UBND xã Lộc An được.

Tuy nhiên, căn cứ vào điều 49Luật nhà ở năm 2014(cụ thể tại khoản 2, 3) thì gia đình bạn được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở:

"1. Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng;

2. Hộ gia đình nghèo và cận nghèo tại khu vực nông thôn;

3. Hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu;

4. Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị;

5. Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp;

6. Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân;

7. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

8. Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 81 của Luật này;

9. Học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập;

10. Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở."

Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật Nhà ở năm 2014 về hình thức thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội; gia đình bạn sẽ được hỗ trợ theo các chương trình mục tiêu về nhà ở để xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở. Tham khảo ngay: Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai, xây dựng nhà ở?

7. Khiếu nại liên quan đến tranh chấp đất đai như thế nào ?

Kính thưa Quý Luật sư! Gia đình em đang gặp khó khăn trong vấn đề tranh chấp đất đai. Em đã khiếu nại lên cơ quan ban ngành lâu rồi nhưng vẫn chưa được giải quyết? Nhờ luật sư tư vấn Đơn khiếu nại giúp em ?

Cảm ơn Luật sư rất nhiều. Gia đình em thành thật cảm ơn!

Khiếu nại liên quan đến tranh chấp đất đai như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề mà bạn đang thắc mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

TheoLuật đất đai năm 2013 tại Điều 203 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

-Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết:

- Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định;

+ Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

-Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

+ Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

+ Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

Điều 204 Luật đất đai năm 2013 có quy định về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai:

- Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

- Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Bạn có thể tham khảo mẫu đơn Khiếu nại đất đai tại đây. Tham khảo ngay:Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai ?Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tư vấn khiếu nại giải quyết tranh chấp đất đai thừa kế ?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về hòa giải như sau:

"1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn."

Như vậy, hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử là bắt buộc hay nói cách khác, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải cho các đương sự. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định về việc hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là bắt buộc mà không quy định Tòa án sẽ tiến hành hòa giải bao nhiêu lần. Do đó, Tòa án sẽ căn cứ vào tính chất của vụ án để xem xét và tiến hành hòa giải. Mặc dù vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định cứng về thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ án dân sự tại Điều 203 như sau:

"1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật."

Vụ án của bạn là vụ án tranh chấp về thừa kế quy định tại điểm 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên có thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa là 04 tháng, nếu phức tạp có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng. Như vậy, thời hạn tối đa của giai đoạn chuẩn bị xét xử là 06 tháng (đã tính thời hạn gia hạn). Do đó, Tòa án chỉ có thể tiến hành hòa giải trong thời gian này.

Về quyền khiếu nại:

Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định:

"Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình".

Vậy đối tượng của khiếu nại là hành vi hành chính và quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước.

Điều 9 Luật Khiếu nại 2011 cũng quy định về thời hiệu khiếu nại như sau:

"Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại".

Như vậy, thời hiệu khiếu nại đối với hành vi hành chính và quyết định hành chính là 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Trường hợp của bạn, Tòa án chậm trễ giải quyết vụ án, tiến hành hòa giải nhiều lần không thành nhưng cũng không ra các quyết định liên quan đến vụ án, nên bạn hoàn toàn có thể khiếu nại hành vi của Tòa án trong thời gian Tòa án chậm trễ giải quyết vụ án.

Khoản 1 Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định về trình tự khiếu nại như sau:

Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Câu hỏi: Tư vấn tranh chấp đất đai, khiếu nại quyết định hành chính ?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì khi xảy ra tranh chấp liên quan đến đất đai thì các bên có quyền nộp đơn yêu cầu hòa giải đất đai tại Ủy ban nhân dân xã nơi có đất để yêu cầu giải quyết, nếu Ủy ban nhân dân xã không giải quyết hoặc giải quyết không nhưng các bên tranh chấp đất đai không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền nộp đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai tới Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Khởi kiện tại Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính. Hoặc sau khi hòa giải ở Ủy ban nhân xã không thành thì các bên có tranh chấp đất đai có quyền nộp đơn tới Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất để yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự.

Căn cứ những thông tin bạn cung cấp, bạn đã làm đơn khiếu nại tới nhiều cơ quan có thẩm quyền mà không được giải quyết thỏa đáng. Căn cứ Điều 29, Điều 30 Luật Khiếu nại năm 2011 thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được đơn khiếu nại của công dân phải tiến hành kiểm tra, xác minh hồ sơ, kiểm tra tính chính xác của đơn khiếu nại trực tiếp tại địa điểm phát sinh khiếu nại, sau đó tổ chức đối thoại giữa các bên,... Nhưng Ủy bân nhân dân cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh trong trường hợp của bạn đã không thực hiện đúng trình tự pháp luật quy định. Lúc này, bạn có quyền nộp đơn kiến nghị gửi trực tiếp tới cơ quan Thanh tra cấp Tỉnh của địa phương nơi có đất để yêu cầu thanh tra hành vi sai phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo Điều 201 Luật Đất đai năm 2013.

Cũng theo khoản 7 Điều 97 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật đất đai về hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai:

"7. Vi phạm quy định về thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất bao gồm các hành vi sau:

a) Không nhận hồ sơ đã hợp lệ, đầy đủ, không hướng dẫn cụ thể khi tiếp nhận hồ sơ, gây phiền hà đối với người nộp hồ sơ, nhận hồ sơ mà không ghi vào sổ theo dõi;

b) Tự đặt ra các thủ tục hành chính ngoài quy định chung, gây phiền hà đối với người xin làm các thủ tục hành chính;

c) Giải quyết thủ tục hành chính không đúng trình tự quy định, trì hoãn việc giao các loại giấy tờ đã được cơ quan có thẩm quyền ký cho người xin làm thủ tục hành chính;

d) Giải quyết thủ tục hành chính chậm so với thời hạn quy định;

đ) Từ chối thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục hành chính mà theo quy định của pháp luật về đất đai đã đủ điều kiện để thực hiện;

e) Thực hiện thủ tục hành chính không đúng thẩm quyền;

g) Quyết định, ghi ý kiến hoặc xác nhận vào hồ sơ không đúng quy định gây thiệt hại hoặc tạo điều kiện cho người xin làm thủ tục hành chính gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức và công dân;

h) Làm mất, làm hư hại, làm sai lệch nội dung hồ sơ."

Như vậy, theo quy định trên thì bạn có quyền nộp đơn Kiến nghị/ Đơn đề nghị tới Thanh tra tỉnh nơi có đất để yêu cầu thanh tra những hành vi sai phạm của các các bộ thuộc Ủy ban nhân dân xã, Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân tỉnh nơi có đất để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn theo đúng quy định của pháp luật.

Hoặc bạn có quyền nộp đơn tới Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất để yêu cầu giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự về tranh chấp đất đai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Như thông tin bạn cung cấp, chưa có đầy đủ các tài liệu, giấy tờ chứng minh nên chúng tôi không thể tư vấn chính xác cho bạn về việc phần trăm thắng kiện là bao nhiêu phần trăm, cũng như xác định rõ được việc mảnh đất này sẽ thuộc sở hữu của ai. Do đó, bạn chỉ cần thu thập tất cả các bằng chứng để chứng minh mảnh đất này thuộc quyền sử dụng của bạn, do bạn sử dụng ổn định, có xác nhận của ông đào kênh mà bạn thuê, có người làm chứng, hình ảnh, video, băng ghi âm,... Căn cứ vào những thông tin mà bạn cung cấp, Hội đồng xét xử sẽ xem xét dựa trên những quy định của pháp luật sẽ đưa ra một bản án, quyết định đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích cho các bên trong tranh chấp.

Câu hỏi: Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai khi chưa có sổ đỏ ?

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp, chính quyền địa phương nơi có đất đã hòa giải rất nhiều lần nhưng không thành, do đó, căn cứ Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai thì chính quyền địa phương sẽ lập biên bản hòa giải giữa các bên, có chữ ký của các bên tranh chấp và các chủ thể có thẩm quyền tham gia hòa giải tranh chấp đất đai theo quy định. Biên bản hòa giải có thể là biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành. Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết theo Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 như sau:

- Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

- Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

+ Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Đối với trường hợp của bạn, 2 thửa đất đang xảy ra tranh chấp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, nên bạn được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp quy định tại Khoản 2 Điều 203 như đã nêu trên, tranh chấp này đã được chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không thành công, do vậy, bạn có thể khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền để giải quyết, trong trường hợp này thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có thửa đất tranh chấp.