1. Mẫu tờ khai hoàn cảnh gia đình của người nhận con nuôi

Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu tờ khai hoàn cảnh gia đình của người nhận con nuôi (Mẫu TP/CN-2011/CN.06) để Quý khách hàng tham khảo và áp dụng trên thực tiễn. Thông tin pháp luật liên quan vui lòng liên hệ trực tiếp để được tư vấn, hỗ trợ:

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------------------

TỜ KHAI HOÀN CẢNH GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI NHẬN CON NUÔI

PHẦN TỰ KHAI CỦA NGƯỜI NHẬN CON NUÔI

1. Ông:

Họ và tên: ................................ Ngày sinh: ...................

Nơi sinh: ..........................................................................

Số Giấy CMND: ........ Nơi cấp: ...... Ngày cấp ...............

Nghề nghiệp: ...................................................................

Nơi thường trú: ................................................................

Tình trạng hôn nhân[1]: ....................................................

..........................................................................................

2. Bà:

Họ và tên: ........................... Ngày sinh: ..........................

Nơi sinh: ..........................................................................

Số Giấy CMND: ...... Nơi cấp: ...... . Ngày cấp ..............

Nghề nghiệp: ...................................................................

Nơi thường trú: ..............................................................

Tình trạng hôn nhân[2]: ..................................................

........................................................................................

.........................................................................................

3. Hoàn cảnh gia đình[3]:...................................

.........................................................................................

.........................................................................................

..........................................................................................

.........................................................................................

..........................................................................................

..........................................................................................

- Nhà ở: ............................................................................

..........................................................................................

..........................................................................................

- Mức thu nhập: ................................................................

...........................................................................................

...........................................................................................

- Các tài sản khác: ............................................................

...........................................................................................

............................................................................................

...........................................................................................

..............., ngày........ tháng..........năm..............

Ông

(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên)

Ý kiến của Tổ trưởng tổ dân phố/Trưởng thôn về người nhận con nuôi:

...........................................................................................

............................................................................................

............................................................................................

...........................................................................................

...........................................................................................

..............., ngày...........tháng............ năm.........

Tổ trưởng dân phố/Trưởng thôn

(Ký, ghi rõ họ tên)

Xác minh của công chức tư pháp - hộ tịch[4]:

...........................................................................................

...........................................................................................

............................................................................................

.............................................................................................

............................................................................................

.............................................................................................

..............., ngày...........tháng............ năm.........

Người xác minh

(Ký, ghi rõ họ tên)

Xác nhận của UBND xã/phường/thị trấn

..............., ngày...........tháng............ năm.........

TM. UBND XÃ/PHƯỜNG/THỊ TRẤN

(Ký, ghi rõ họ tên, chức vụ và đóng dấu)

[1] Khai rõ đây là lần kết hôn thứ mấy của người nhận con nuôi, tình trạng con cái.

[2] Khai như chú thích 1.

[3] Khai rõ hiện nay người nhận con nuôi đang sống cùng với ai; thái độ của những người trong gia đình về việc nhận con nuôi.

[4] Ý kiến của cán bộ xác minh về các nội dung mà người nhận con nuôi tự khai ở trên. Đánh giá người nhận con nuôi đủ hay không đủ điều kiện để nhận con nuôi.

---------------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

2. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

4. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;

>> Xem thêm:  Thủ tục thay đổi tên trong giấy khai sinh ? Có thể đổi họ con riêng của vợ sang họ chồng hiện tại ?

2. Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt việc nuôi con nuôi sẽ được giải quyết như thế nào?

Thư luật sư, Tôi muốn hỏi: Anh T và chị C lấy nhau đã 12 năm nhưng không có con, họ đã đi đến quyết định xin nhận cháu D 13 tuổi con một người hàng xóm đông con làm con nuôi. Được vài năm, do điều kiện kinh tế của hai vợ chồng gặp nhiều khó khăn nên anh chị quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi với cháu D và trả lại quyền nuôi dưỡng cho cha mẹ đẻ của cháu.
Vậy hậu quả pháp lý của việc chấm dứt việc nuôi con nuôi sẽ được giải quyết như thế nào?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 78 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định:

- Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Toà án (cả trong trường hợp tự nguyện hay không tự nguyện), các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cũng chấm dứt; nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì Toà án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom, nuôi dưỡng.

- Trong trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích một phần từ khối tài sản chung đó theo thoả thuận giữa con nuôi và cha mẹ nuôi; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

- Khi việc nuôi con chấm dứt, theo yêu cầu của cha mẹ đẻ hoặc của người đã làm con nuôi, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định việc người đã làm con nuôi được lấy lại họ, tên mà cha mẹ đẻ đã đặt.

Ý kiến bổ sung:

Bạn thân mến, theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì có thể chấm dứt việc nuôi con nuôi trong trường hợp “Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi”. Trong trường hợp của anh T, vợ chồng anh T có thể chấm dứt việc nuôi cháu D theo ý tự nguyện của vợ chồng anh.

Taị thời điểm này vợ chồng anh T chấm dứt việc nuôi con nuôi thì cháu bé chưa đủ tuổi thành niên ; căn cứ theo quy định tại Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm thì hậu quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi trong trường hợp này như sau:

Quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng anh T và cháu D chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Toà án có hiệu lực pháp luật.

Cháu D là người chưa thành niên thì Tòa án sẽ quyết định giao cho cha mẹ đẻ cháu D hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích tốt nhất cho cháu D.

Nếu cháu D được Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ chăm sóc thì cha mẹ đẻ được khôi phục quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với cháu bé.

Trong trường hợp cháu D có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu cháu D có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình vợ chồng anh T thì được trích một phần từ khối tài sản chung đó theo thỏa thuận giữa cháu D và vợ chồng anh T; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Khi việc nuôi con nuôi chấm dứt, theo yêu cầu của cha mẹ đẻ hoặc của cháu D, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc người đã làm con nuôi được lấy lại họ, tên mà cha mẹ đẻ đã đặt.

Chúc vợ chồng anh T có cuộc sống hạnh phúc! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục cải chính, thay đổi họ tên ? Cha mẹ nuôi có được thay đổi họ tên cho con nuôi không ?

3. Một số nội dung liên quan đến nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Người thường trú tại nước mà nước đó và Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi (danh mục các nước kèm Thông tư này). Người thuộc đối tượng này được xin bất kỳ trẻ em nào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) làm con nuôi.

I. NGƯỜI XIN NHẬN CON NUÔI, TRẺ EM ĐƯỢC CHO LÀM CON NUÔI

1. Người xin nhận con nuôi

Theo Điều 35 và khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), người xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi bao gồm:

1.1. Người thường trú tại nước mà nước đó và Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi (danh mục các nước kèm Thông tư này). Người thuộc đối tượng này được xin bất kỳ trẻ em nào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) làm con nuôi.

1.2. Người thường trú tại nước mà nước đó và Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì được xin bất kỳ trẻ em nào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) làm con nuôi:

a) Người có thời gian công tác, học tập, làm việc tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên. Thời gian 06 tháng được tính theo một lần nhập – xuất cảnh Việt Nam; nếu hai vợ chồng xin nhận con nuôi thì chỉ cần một người đáp ứng điều kiện này;

b) Người có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam. Người gốc Việt Nam được hiểu theo quy định tại Thông tư số 2461/2001/TT-BNG ngày 5 tháng 10 năm 2001 của Bộ Ngoại giao, là người hiện nay hoặc trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam; người có cha đẻ, mẹ đẻ hoặc ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hiện nay hoặc trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam;

c) Người có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được xin làm con nuôi hoặc đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin nhận làm con nuôi.

Quan hệ họ hàng được hiểu là quan hệ giữa người xin nhận con nuôi là cô, cậu, dì, chú, bác với trẻ em là cháu được xin làm con nuôi (theo bên nội hoặc bên ngoại). Trường hợp người có quan hệ họ hàng là ông, bà xin nhận cháu hoặc anh, chị em xin nhận nhau làm con nuôi, thì không giải quyết.

Quan hệ thân thích là quan hệ giữa người xin nhận con nuôi là chồng với con riêng của vợ hoặc vợ với con riêng của chồng.

1.3. Người thường trú tại nước mà nước đó và Việt Nam không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi và cũng không thuộc các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều 35 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), thì chỉ được xin nhận con nuôi là trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em mất năng lực hành vi dân sự, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em mắc các bệnh hiểm nghèo khác đang sống tại gia đình hoặc tại cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại Việt Nam, hoặc trẻ em mồ côi đang sống tại gia đình.

1.4. Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài được xin bất kỳ trẻ em nào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) làm con nuôi, không phụ thuộc vào việc Việt Nam với nước ngoài nơi người đó định cư cùng hoặc không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi.

Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiểu là người có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài, không kể người đó đã nhập quốc tịch nước ngoài hay chưa.

2. Trẻ em được cho làm con nuôi

Theo Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trẻ em được cho làm con nuôi bao gồm:

2.1. Trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại Việt Nam. Cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp được hiểu là cơ sở bảo trợ xã hội được thành lập theo Quy chế thành lập và hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 25/2001/NĐ-CP ngày 31/5/2001 của Chính phủ (sau đây gọi là cơ sở nuôi dưỡng). Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thông báo cho Cục Con nuôi quốc tế danh sách các cơ sở nuôi dưỡng này và danh sách trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng đó có đủ điều kiện để giới thiệu làm con nuôi.

Việc giới thiệu trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng làm con nuôi phải tuân thủ các quy định sau:

a) Ưu tiên giới thiệu trẻ em làm con nuôi ở trong nước; việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ được coi là biện pháp cuối cùng, khi không thể tìm được mái ấm gia đình cho trẻ em ở trong nước;

b) Chỉ được giới thiệu trẻ em làm con nuôi sau 30 ngày, kể từ ngày trẻ em được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng; đối với trẻ sơ sinh bị bỏ rơi thì chỉ được giới thiệu làm con nuôi sau 60 ngày, kể từ ngày phát hiện trẻ em bị bỏ rơi;

c) Trẻ em bị bỏ rơi đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng chỉ được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cấp tỉnh trở lên mà không có thân nhân đến nhận và cũng không được người trong nước nhận làm con nuôi (nội dung thông báo theo mẫu kèm Thông tư này).

2.2. Trẻ em đang sống tại gia đình được cho làm con nuôi người nước ngoài nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung).

Đối với trẻ em có quan hệ họ hàng với người xin nhận con nuôi, thì chỉ được giải quyết cho làm con nuôi của cô, cậu, dì, chú, bác (bên nội hoặc bên ngoại) ở nước ngoài, nếu trẻ em đó bị mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị mồ côi mẹ hoặc cha, còn người kia không có khả năng lao động và không có điều kiện để nuôi dưỡng trẻ em đó; trường hợp trẻ em còn cha, mẹ nhưng cả cha và mẹ đều không có khả năng lao động và không có điều kiện để nuôi dưỡng trẻ em đó, thì trẻ em cũng được giải quyết cho làm con nuôi.

Trong trường hợp trẻ em tuy có quan hệ họ hàng với người xin nhận con nuôi, nhưng trẻ em đó còn cả cha và mẹ, sức khoẻ của trẻ em và của cha mẹ bình thường, cha mẹ vẫn có khả năng lao động và có điều kiện để bảo đảm chăm sóc con mình tại Việt Nam, thì không giải quyết cho làm con nuôi ở nước ngoài.

2.3. Trẻ em khuyết tật, tàn tật, là nạn nhân của chất độc hoá học, nhiễm HIV/AIDS, mắc bệnh hiểm nghèo khác (trước đây sống tại cơ sở nuôi dưỡng hoặc sống tại gia đình) đang được chữa trị ở nước ngoài, nếu được người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài xin nhận làm con nuôi, thì được xem xét giải quyết tại Cơ quan đại diện Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài như đối với trẻ em không còn hộ khẩu thường trú ở trong nước.

II. MỘT SỐ HƯỚNG DẪN VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI CON NUÔI

1. Hồ sơ của người xin nhận con nuôi

Hồ sơ của người xin nhận con nuôi gồm các giấy tờ theo quy định tại Điều 41 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần chú ý một số điểm sau:

a) Đơn xin nhận trẻ em làm con nuôi phải ghi đầy đủ theo mẫu quy định, trong đó nguyện vọng của người xin nhận con nuôi về trẻ em cần xin làm con nuôi (như số lượng trẻ, độ tuổi, giới tính, tình trạng sức khoẻ) phải phù hợp với giấy phép hoặc bản điều tra về hoàn cảnh gia đình, xã hội do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;

b) Trong trường hợp khi nộp hồ sơ mà người xin nhận con nuôi chưa có hộ chiếu, chỉ có bản sao có công chứng giấy chứng minh nhân dân, giấy thông hành hoặc thẻ cư trú và trên các giấy tờ của Việt Nam đều ghi họ tên, ngày tháng năm sinh của người đó theo loại giấy tờ này, thì khi đến Sở Tư pháp để hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi, người xin nhận con nuôi không phải nộp bản sao hộ chiếu;

c) Đối với người xin nhận con nuôi thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 35 của Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung):

- Nếu thuộc điểm a thì phải có bản chụp thị thực nhập – xuất cảnh Việt Nam (01 lần) hoặc giấy tờ khác để chứng minh việc đã ở Việt Nam từ 06 tháng trở lên.

- Nếu thuộc điểm b thì phải có giấy tờ phù hợp để chứng minh (có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam).

- Nếu thuộc điểm c thì phải có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của trẻ em xác nhận người đó có quan hệ họ hàng với trẻ em được xin làm con nuôi; bản chụp giấy chứng nhận kết hôn của người xin con nuôi với cha hoặc mẹ của trẻ em được xin làm con nuôi và giấy khai sinh của trẻ em đó để chứng minh quan hệ thân thích; bản chụp quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho nhận con nuôi, giấy khai sinh của con nuôi và của trẻ em được xin làm con nuôi để chứng minh người đó đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin làm con nuôi;

d) Đối với trường hợp người xin nhận con nuôi là vợ chồng, nhưng trong quá trình giải quyết hồ sơ, một trong hai bên vợ hoặc chồng chết, nếu người kia muốn tiếp tục xin nhận con nuôi, thì phải làm lại những giấy tờ nói tại các điểm a, c, và d khoản 1 Điều 41 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung).

.Giải quyết các hồ hơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài: Mỗi nơi làm một kiểu

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

2. Thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ

Thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ của người xin nhận con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 42 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần lưu ý một số điểm như sau:

2.1. Trước khi tiếp nhận hồ sơ, Cục Con nuôi quốc tế phải kiểm tra và chịu trách nhiệm về việc người xin nhận con nuôi thuộc đối tượng quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) và hướng dẫn tại điểm 1 mục II Thông tư này.

2.2. Việc nộp hồ sơ được thực hiện như sau:

a) Người xin nhận con nuôi thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) nộp hồ sơ xin nhận con nuôi thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hữu quan.

Người đứng đầu Văn phòng con nuôi nước ngoài, nhân viên của Văn phòng con nuôi nước ngoài được uỷ quyền hợp lệ hoặc người đại diện của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài phải trực tiếp nộp hồ sơ xin nhận con nuôi tại Cục Con nuôi quốc tế;

b) Người xin nhận con nuôi thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) trực tiếp nộp hồ sơ xin nhận con nuôi tại Cục Con nuôi quốc tế, nếu xin nhận trẻ em tại Việt Nam làm con nuôi hoặc tại Cơ quan đại diện Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài, nếu xin nhận trẻ em Việt Nam ở nước ngoài làm con nuôi.

2.3. Sau khi kiểm tra thấy hồ sơ của người xin nhận con nuôi đầy đủ và hợp lệ, Cục Con nuôi quốc tế cấp Phiếu tiếp nhận hồ sơ (theo mẫu kèm Thông tư này) cho người nộp hồ sơ; thời gian thụ lý hồ sơ được tính kể từ ngày cấp Phiếu tiếp nhận hồ sơ.

3. Trường hợp xin đích danh

Việc xin đích danh trẻ em Việt Nam làm con nuôi chỉ được áp dụng đối với các trường hợp sau:

a) Người xin nhận con nuôi thuộc diện quy định tại khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung);

b) Người xin nhận con nuôi quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) mà thuộc một trong các trường hợp:

- Có thời gian công tác, học tập, làm việc tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên;

- Có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam;

- Có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được xin làm con nuôi hoặc đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin nhận làm con nuôi.

4. Hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi

Hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài gồm các giấy tờ quy định tại Điều 44 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần lưu ý một số giấy tờ sau:

4.1. Đối với Giấy khai sinh của trẻ em, có thể nộp bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao công chứng, chứng thực từ bản chính.

4.2. Đối với giấy xác nhận sức khoẻ, có thể nộp giấy do tổ chức y tế cấp huyện trở lên của Việt Nam cấp; khuyến khích nộp giấy xác nhận sức khoẻ của trẻ em do tổ chức y tế chất lượng cao hoặc tổ chức y tế cấp tỉnh trở lên cấp.

4.3. Đối với trẻ em có cha, mẹ thuộc diện không còn khả năng lao động hoặc không có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con, thì phải có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của cha, mẹ trẻ em.

4.4. Đối với trẻ em bị bỏ rơi, để bảo đảm nguồn gốc rõ ràng của trẻ em, cần phải có:

a) Bản tường trình của người phát hiện trẻ em bị bỏ rơi, trong đó thể hiện rõ ràng, đầy đủ các thông tin về người phát hiện (họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, địa chỉ liên lạc, nghề nghiệp, số chứng minh nhân dân) và chữ ký của người đó; nếu người đó không biết chữ thì phải điểm chỉ nhưng phải ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, số chứng minh nhân dân và chữ ký của người viết hộ;

b) Biên bản về việc trẻ em bị bỏ rơi, trong đó ghi rõ ngày tháng năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi, giới tính, đặc điểm nhận dạng, tài sản và các đồ vật khác của trẻ em (nếu có), có đủ chữ ký của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người lập biên bản và những người khác có liên quan, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan Công an nơi trẻ em bị bỏ rơi.

c) Giấy tờ chứng minh việc cơ sở nuôi dưỡng đã thông báo trước đó ít nhất 30 ngày trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên về việc trẻ em bị bỏ rơi;

d) Văn bản cam đoan của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng về việc sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên mà trẻ em không có thân nhân đến nhận và đồng thời cũng không được người trong nước nhận làm con nuôi.

4.5. Đối với giấy đồng ý cho trẻ em làm con nuôi, phải bảo đảm rằng:

a) Việc đồng ý của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài phải hoàn toàn tự nguyện, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; tuyệt đối nghiêm cấm việc người xin nhận con nuôi gặp gỡ, tiếp xúc với người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em để đưa ra những thoả thuận về tài chính, lợi ích vật chất khác hoặc bất kỳ mục đích vụ lợi nào để có được sự đồng ý cho trẻ em làm con nuôi;

b) Trước khi tự nguyện đồng ý cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em phải nhận thức một cách rõ ràng và đầy đủ về những hệ quả pháp lý của việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi theo hình thức trọn vẹn/vĩnh viễn và có thể dẫn đến việc chấm dứt mối quan hệ pháp lý tồn tại trước đó giữa trẻ em và cha, mẹ đẻ theo pháp luật nước ngoài; sự đồng ý này không thể bị rút lại;

c) Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi mà không xác định được cha, mẹ đẻ do cha, mẹ cố tình giấu địa chỉ, cung cấp địa chỉ giả hoặc tuy có địa chỉ của cha, mẹ nhưng vào thời điểm xác minh, cha, mẹ có lý do chính đáng yêu cầu giữ kín thông tin hoặc cha, mẹ đã chuyển đi nơi khác không rõ địa chỉ, thì chỉ cần sự tự nguyện đồng ý của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó;

d) Trong trường hợp trẻ em được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng mà cha, mẹ đẻ chưa thể hiện rõ nguyện vọng cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, nhưng xác định được địa chỉ của cha, mẹ đẻ, thì còn phải có văn bản tự nguyện đồng ý của cha, mẹ đẻ cho con làm con nuôi người nước ngoài; nếu cha, mẹ đẻ chưa đủ 18 tuổi, thì còn phải có sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ của cha, mẹ trẻ em đó; nếu những người này không biết chữ, thì phải điểm chỉ vào văn bản tự nguyện đồng ý cho trẻ em làm con nuôi và ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, số chứng minh nhân dân và chữ ký của người viết hộ.

5. Trình tự giới thiệu trẻ em làm con nuôi trong trường hợp xin không đích danh

Mọi trường hợp xin nhận trẻ em làm con nuôi thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam (không thuộc diện quy định tại điểm 3.1, tiểu mục 3 mục III Thông tư này) được áp dụng như trường hợp xin không đích danh theo quy định tại Điều 51 Nghị định 68/2002/NĐ-CP. Trình tự giới thiệu trẻ em làm con nuôi được thực hiện như sau:

5.1. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ của người xin nhận con nuôi, căn cứ vào danh sách trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng, đặc điểm và các điều kiện của trẻ em, nguyện vọng của người xin nhận con nuôi, Cục Con nuôi quốc tế có công văn kèm theo bản chụp Phiếu tiếp nhận hồ sơ và đơn của người xin nhận con nuôi gửi Sở Tư pháp để Sở hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng xem xét giới thiệu trẻ em.

5.2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được công văn của Cục Con nuôi quốc tế, Sở Tư pháp có công văn đề nghị cơ sở nuôi dưỡng xác định trẻ em có đủ điều kiện (thuộc danh sách trẻ em đã báo cáo), phù hợp với nguyện vọng của người xin nhận con nuôi để giới thiệu làm con nuôi và trả lời bằng văn bản cho Cục Con nuôi quốc tế, kèm theo các giấy tờ nói tại điểm 5.3, tiểu mục 3, mục III Thông tư này.

5.3. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được công văn đề nghị của Sở Tư pháp, cơ sở nuôi dưỡng xác định trẻ em có đủ điều kiện để giới thiệu làm con nuôi và có công văn (theo mẫu kèm Thông tư này) trả lời cho Sở Tư pháp, kèm theo các giấy tờ sau:

a) Bản chụp Giấy khai sinh (kèm 02 ảnh 9×12 hoặc 10×15) của trẻ em;

b) Bản chụp Biên bản bàn giao trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng; trường hợp trẻ em bị bỏ rơi tại cơ sở nuôi dưỡng thì chỉ cần bản tường trình của người phát hiện;

c) Bản chụp quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng;

d) Đối với trẻ em bị bỏ rơi, phải có:

- Giấy tờ chứng minh việc cơ sở nuôi dưỡng đã thông báo trước đó ít nhất 30 ngày trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên về việc trẻ em bị bỏ rơi (như báo tỉnh hoặc giấy xác nhận về việc đã đưa tin trên đài phát thanh, truyền hình tỉnh).

- Văn bản của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng (theo mẫu kèm Thông tư này) khẳng định về việc sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên mà trẻ em không có thân nhân đến nhận và đồng thời cũng không được người trong nước nhận làm con nuôi.

5.4. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Sở Tư pháp, Cục Con nuôi quốc tế thông báo cho người xin nhận con nuôi về kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi (thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam).

5.5. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Con nuôi quốc tế, người xin nhận con nuôi phải trả lời bằng văn bản cho Cục Con nuôi quốc tế về việc đồng ý hay không đồng ý nhận trẻ em được giới thiệu làm con nuôi (thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam).

5.6. Chỉ sau khi nhận được văn bản đồng ý của người xin nhận con nuôi đối với trẻ em được giới thiệu theo thủ tục trên đây, Cục Con nuôi quốc tế mới có Công văn gửi Sở Tư pháp để hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ cho trẻ em được giới thiệu làm con nuôi (Công văn 1); lúc này cơ sở nuôi dưỡng mới chính thức lập hồ sơ cho trẻ em.

Trong trường hợp người xin nhận con nuôi từ chối nhận trẻ em đã được giới thiệu, Cục Con nuôi quốc tế có công văn gửi Sở Tư pháp để Sở thông báo cho cơ sở nuôi dưỡng giới thiệu cho người khác; người xin nhận con nuôi chỉ được giới thiệu trẻ em khác sau 12 tháng, kể từ ngày có văn bản từ chối.

6. Thủ tục kiểm tra hồ sơ của trẻ em

6.1. Sau khi nhận đủ 04 bộ hồ sơ của trẻ em do cơ sở nuôi dưỡng chuyển đến, Sở Tư pháp tiến hành kiểm tra toàn bộ các giấy trong hồ sơ, thẩm tra tính hợp pháp của các giấy tờ và xác minh làm rõ về nguồn gốc của trẻ em theo quy định tại Điều 45 Nghị định 68/2002/NĐ-CP, đặc biệt lưu ý đối với những giấy tờ như đã nêu tại điểm 4 mục III Thông tư này.

Trong trường hợp yêu cầu cơ quan Công an xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định 68/2002/NĐ-CP, thì Sở Tư pháp phải gửi bản chụp kết quả xác minh của cơ quan Công an kèm theo 01 bộ hồ sơ của trẻ em cho Cục Con nuôi quốc tế.

6.2. Cục Con nuôi quốc tế kiểm tra toàn bộ hồ sơ của trẻ em theo quy định tại Điều 46 Nghị định 68/2002/NĐ-CP và chỉ gửi công văn cho ý kiến đồng ý giải quyết việc người nước ngoài xin nhận trẻ em làm con nuôi (Công văn 2), kèm theo 01 bộ hồ sơ của người xin nhận con nuôi gửi Sở Tư pháp để trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, nếu xét thấy hồ sơ của trẻ em đã bảo đảm đầy đủ, hợp lệ theo đúng quy định của Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) và hướng dẫn tại Thông tư này.

7. Hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi

Việc hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 47 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần chú ý một số điểm sau:

Trường hợp có lý do chính đáng mà người xin nhận con nuôi không thể có mặt tại Việt Nam trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Sở Tư pháp để hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi, thì người đó phải có văn bản đề nghị Sở Tư pháp cho gia hạn. Nếu đồng ý cho gia hạn, Sở Tư pháp thông báo cho Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam để Văn phòng báo cho người xin nhận con nuôi; thời gian gia hạn không quá 60 ngày kể từ ngày có văn bản của Sở Tư pháp cho phép gia hạn.

Trường hợp có lý do chính đáng mà người xin nhận con nuôi không thể có mặt tại Việt Nam trong thời hạn trên, thì người đó phải uỷ quyền bằng văn bản cho Văn phòng con nuôi nước ngoài đến Sở Tư pháp nộp lệ phí và bản cam kết (theo mẫu quy định) về việc thông báo định kỳ 06 tháng một lần cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Cục Con nuôi quốc tế về tình hình phát triển của con nuôi trong 03 năm đầu tiên, sau đó mỗi năm tiếp theo, thông báo một lần cho đến khi con nuôi đủ 18 tuổi; trong văn bản uỷ quyền người xin nhận con nuôi phải cam đoan không được từ chối nhận trẻ em đã được giới thiệu; văn bản uỷ quyền phải có chữ ký của người xin nhận con nuôi, không cần công chứng hay chứng thực.

8. Hoàn tất thủ tục xuất cảnh Việt Nam cho trẻ em

8.1. Sau khi có quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi và việc giao nhận con nuôi đã được tiến hành tại Sở Tư pháp, các cơ quan chức năng có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để hoàn tất thủ tục cho trẻ em xuất cảnh Việt Nam, nhập cảnh và cư trú tại nước tiếp nhận.

8.2. Trường hợp trẻ em được cho làm con nuôi là trẻ em sống tại cơ sở nuôi dưỡng, thì tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu cho trẻ em phải do Giám đốc Sở Tư pháp ký xác nhận; trường hợp trẻ em được cho làm con nuôi là trẻ em sống tại gia đình, thì tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu cho trẻ em phải do Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ em có hộ khẩu thường trú, ký xác nhận.

9. Cha, mẹ nuôi xin huỷ quyết định cho nhận con nuôi

Trường hợp đã có quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi và việc giao nhận con nuôi đã được tiến hành tại Sở Tư pháp nhưng trẻ em chưa xuất cảnh Việt Nam, cha mẹ nuôi có đơn xin huỷ quyết định nuôi con nuôi vì lý do chính đáng (như việc cha, mẹ nuôi đột nhiên mắc bệnh hiểm nghèo, không đủ sức khoẻ để chăm sóc con nuôi; con nuôi mắc bệnh hiểm nghèo không thể xuất cảnh Việt Nam vì nguy hiểm đến tính mạng; con nuôi không thể hoà nhập được với cha, mẹ nuôi và đòi ở lại Việt Nam hoặc vì lý do chính đáng khác), Cục Con nuôi quốc tế có trách nhiệm báo cáo trình Lãnh đạo Bộ Tư pháp để phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét giải quyết.

Nếu xét thấy lý do xin huỷ quyết định cho nhận con nuôi là chính đáng, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiến hành huỷ/thu hồi quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi và chỉ đạo việc nhận lại trẻ em về cơ sở nuôi dưỡng hoặc về gia đình để tiếp tục nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

SOURCE: Thông tư số 08/2006/TT-BTP về việc hướng dẫn thực hiện một số quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài do Bộ Tư Pháp ban hành

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Con nuôi là gì ? Đăng ký nhận con nuôi như thế nào ? Điều kiện để người nước ngoài nhận con nuôi ?

4. Mỹ muốn hợp tác về con nuôi với Việt Nam

Trao đổi với VietNamNet ngày 12/2 tại Hà Nội, tân trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Janice L.Jacobs cho hay Mỹ trông đợi việc Việt Nam sớm tham gia Công ước La Haye, làm nền tảng nối lại hoạt động hợp tác cho và nhận con nuôi giữa hai nước, vốn bị dừng lại từ tháng 9/2008.

Được ký kết năm 2005, Hiệp định hợp tác về con nuôi giữa Việt Nam và Mỹ đã dừng lại theo nguyện vọng của hai bên sau khi hết hạn 3 năm theo giao kết.

Trong 3 năm đó, trong số 69 tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, có 42 tổ chức thuộc Mỹ. 1.700 trẻ em Việt Nam có hoàn cảnh éo le được các gia đình Mỹ nhận nuôi. Mỹ đã trở thành nước nhận nhiều con nuôi nhất từ Việt Nam.

Việt Nam đang tiến hành điều chỉnh cơ chế quản lý việc cho và nhận con nuôi quốc tế, trong đó có việc chuẩn bị tham gia Công ước La Haye, nhằm đảm bảo các chương trình hợp tác con nuôi giữa Việt Nam với quốc tế chất lượng hơn.

Bà Janice L.Jacobs khẳng định Mỹ trông đợi những bước hợp tác tích cực giữa hai nước trong vấn đề cho và nhận con nuôi khi Việt Nam chính thức tham gia Công ước La Haye, thậm chí để ngỏ khả năng ký kết một thỏa thuận hợp tác bước đệm.

Mỹ muốn hợp tác về con nuôi với Việt Nam

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Cơ chế minh bạch

Khi Hiệp định hợp tác về con nuôi giữa hai nước hết hiệu lực, các văn phòng của các tổ chức con nuôi Mỹ tại Việt Nam cũng đã dừng hoạt động. Nhu cầu thực tế nhận con nuôi từ Việt Nam của các gia đình Mỹ hiện như thế nào, thưa bà?

Việc cho và nhận con nuôi giữa các quốc gia với nhau là vấn đề được quan tâm ở Mỹ. Có nhiều tổ chức, nhóm ở Mỹ quan tâm lĩnh vực nhận con nuôi giữa các quốc gia vì đây là công việc đem lại cơ hội để trẻ em thiệt thòi được chăm sóc, yêu thương.

Chúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ sớm tham gia Công ước La Haye về cho và nhận con nuôi quốc tế, nhằm hướng tới sự minh bạch, thúc đẩy quyền lợi của trẻ em được cho và nhận làm con nuôi, cũng như của bố mẹ nuôi và bố mẹ đẻ.

Mỹ quan tâm đến yếu tố minh bạch. Đây là vấn đề rất quan trọng. Chúng tôi luôn thúc giục các nước đối tác công bố bảng phí liên quan đến vấn đề con nuôi. Chúng tôi cũng muốn được biết trẻ được cho làm con nuôi có đủ điều kiện của diện cho làm con nuôi và trẻ xuất thân từ đâu.

Sau khi hai nước ký Hiệp định hợp tác, đã có mối quan tâm lớn đối với việc nhận trẻ Việt Nam làm con nuôi trong các gia đình Mỹ. Nhiều tổ chức về con nuôi của Mỹ đã mở văn phòng hoạt động ở Việt Nam.

Tuy nhiên, sau khi Hiệp định hết hiệu lực, chúng tôi đã quyết định dừng không gia hạn do những sai phạm phát hiện được trong viêc cho và nhận con nuôi. Việt Nam sau đó đã giải quyết vấn đề. Đó là điều đáng khích lệ. Thủ tướng Việt Nam trong chuyến thăm Mỹ năm ngoái cho biết Việt Nam quan tâm đến việc tham gia Công ước La Haye.

Chúng tôi muốn hợp tác với Việt Nam khi Việt Nam chính thức tham gia Công ước này. Tôi rất vui khi được nói rằng, không chỉ là nỗ lực riêng của Mỹ mà nhiều sứ quán khác ở Việt Nam sẵn sàng tham gia trợ giúp kỹ thuật giúp Việt Nam chuẩn bị tham gia Công ước.

Giữa Mỹ và Việt Nam đã có sự hợp tác tích cực trong nhiều lĩnh vực. Tôi hy vọng giữa hai nước sẽ có nhiều bước đi tích cực trong lĩnh vực hợp tác con nuôi.

Hạn chế số lượng tổ chức con nuôi

Bà đã đề cập cụ thể vấn đề này trong chương trình làm việc với các quan chức tại Việt Nam?

Tôi sẽ có các cuộc làm việc các quan chức Bộ Tư Pháp và các bộ, ngành khác. Tôi hy vọng chúng tôi có thể làm việc với nhau để tiến tới một thoả thuận hợp tác về việc giúp Việt Nam chuẩn bị đáp ứng các tiêu chuẩn của Công ước La Haye.

Việt Nam đang soạn thảo Luật nuôi con nuôi và dự kiến sẽ được Quốc hội xem xét, thông qua vào tháng 5/2010. Mỹ có gợi ý hoặc tham gia trợ giúp kỹ thuật giúp Việt Nam xây dựng dự luật này?

Chúng tôi mong nhìn thấy dự luật đó. Không chỉ Mỹ mà các tổ chức khác như UNICEF và một số nước rất khác quan tâm. Mỹ sẵn sàng cung cấp hỗ trợ kỹ thuật giúp Việt Nam như đào tạo nâng cao năng lực cán bộ xây dựng luật hoặc trao đổi đoàn cán bộ học hỏi kinh nghiệm. Ngoài ra, có thể cộng tác với UNICEF hoặc văn phòng của La Haye để thiết kế các chương trình hợp tác, hỗ trợ hiệu quả.

Nếu chương trình hợp tác con nuôi giữa Việt Nam và Mỹ được nối lại, thực hiện theo các chuẩn mực của Công ước La Haye, phía Việt Nam ước tính sẽ chỉ cấp phép hoạt động cho khoảng 20 tổ chức nuôi con nuôi của Mỹ hoạt động. Mỹ có tham gia lựa chọn để đảm bảo các tổ chức hoạt động chất lượng? Bà hy vọng khi nào hai bên sẽ nối lại hợp tác về vấn đề này?

Chúng tôi cần cùng nhau trao đổi về những vấn đề liên quan. Nếu như hai bên ký một thỏa thuận hay hiệp định hợp tác mới thì đó là thỏa thuận bước đệm để tiến tới việc Việt Nam ký kết tham gia Công ước La Haye. Dù mất bao nhiêu thời gian thì chúng tôi cũng sẵn sàng.

Sẽ là khôn ngoan khi hạn chế số lượng các tổ chức con nuôi hoạt động. Trong quá khứ, khi làm việc với các đối tác không tham gia Công ước La Haye, chúng tôi cũng đề nghị chỉ sử dụng những tổ chức, nhà cung cấp dịch vụ liên quan đến vấn đề con nuôi đã được xác nhận đáp ứng những tiêu chuẩn như khuôn khổ của Công ước La Haye.

SOURCE: VIETNAMNET - XUÂN LINH - Trích dẫn từ: http://vietnamnet.vn/

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản giao nhận con nuôi mới nhất ? Thủ tục làm con nuôi cho người nước ngoài ?

5. Mẫu giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi nước ngoài

Mẫu giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi nước ngoài - Công ty luật Minh Khuê cung cấp để Quý khách hàng tham khảo. Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ trực tiếp để được tư vấn, hỗ trợ:

Mẫu giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi nước ngoài.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

-----------------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

SOCIALISH REPUBLIC OF VIET NAM

Independence - Freedom - Happiness

----------------------

GIẤY CHỨNG NHẬN

VIỆC NUÔI CON NUÔI NƯỚC NGOÀI

CERTIFICATE

OF CONFORMITY OF INTERCOUNTRY ADOPTION

Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chứng nhận/Ministry of Justice of Socialist Republic of Vietnam hereby certifies that:

Trẻ em Việt Nam/Vietnamese child:

- Họ và tên/Full name: ................................. Giới tính/Sex: .............

- Ngày, tháng, năm sinh/Date of birth: ..............................................

- Nơi sinh/Place of birth: ....................................................................

- Nơi thường trú/Permanent residence: .............................................

...........................................................................................................

Đã được giải quyết cho làm con nuôi của/was adopted by the following person(s):

Ông/Mr.

Bà/Mrs.

Họ và tên/Full name

Ngày, tháng, năm sinh

Date of birth

Nghề nghiệp

Occupation

Quốc tịch/Nationality

Số Hộ chiếu/Giấy CMND

Passport/National ID No

Nơi cấp/Place of issue

Ngày, tháng, năm cấp

Date of issue

Nơi thường trú

Permanent residence

Địa chỉ liên hệ

Address for correspondence

Theo Quyết định số:......…../QĐ-UBND, ngày………. tháng……….năm…….. của Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố/..............;

According to the Decision No.........../QD-UB, dated ............ month ............ year .............of the People’s Committee of ................ ;

Văn bản đồng ý của Cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi của nước .............ngày............ tháng...........năm..........;

The agreement of the Central Authority of ............., dated ............ month ............ year ....................;

Văn bản đồng ý của Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số/.............ngày..............tháng..............năm..........

The agreement of Department of Adoption, Ministry of Justice of Socialist Republic of Vietnam No:..............,dated..........month..........year.................

Việc nuôi con nuôi đã được giải quyết theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với quy định của....

.................................................................................................

The adoption was made in accordance with the applicable laws of Vietnam and

.................................................................................................

..................................................................................................

Hà Nội, ngày ................ tháng.................... năm................

Done at Hanoi, on ....................

TL. BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP

CỤC TRƯỞNG CỤC CON NUÔI

FOR THE MINISTER OF JUSTICE

GENERAL DIRECTOR

OF DEPARTMENT OF ADOPTION

(Ký tên, đóng dấu/sign and seal)

>> Xem thêm:  Thủ tục cho, nhận nuôi con nuôi trong nước năm 2020 ? Hồ sơ, giấy tờ cần chuẩn bị là gì ?