1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), sở hữu trí tuệ (SHTT) thường được nhắc đến như là một trong 3 trụ cột của WTO bên cạnh thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Mặc dù Việt Nam đã cam kết thực hiện đầy đủ các quy định của tổ chức này về SHTT, song trên thực tế, tình trạng xâm phạm quyền SHTT đang ngày càng trở nên đáng báo động. Những vướng mắc trong việc thực thi quyền SHTT chính là do các biện pháp xử lý chưa đủ mạnh của các quy định pháp

Trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và xu thế hội nhập, hoạt động phòng, chống xâm phạm quyền sở SHTT đang được các bộ, ngành và các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Để nâng cao hiệu quả của hoạt động này, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương), Bộ Công an và Bộ Bưu chính – Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) đã ký kết Chương trình hành động số 168/CTHĐ/VHTT-KHCN-NNPTNT-TC-TM-CA về hợp tác phòng, chống xâm phạm quyền SHTT giai đoạn 2006-2010 (gọi tắt là Chương trình 168).

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực SHTT như: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT; Nghị định số 106/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp…

Nhìn chung, hầu hết các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về tiêu chuẩn bảo hộ các đối tượng SHTT đều phù hợp với quy định của Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPS). Như vậy, khung pháp lý về SHTT của Việt Nam đã tương đồng với các quốc gia thành viên WTO, tuy nhiên, tính hiệu quả trong thực thi thì còn gặp nhiều hạn chế.

Trên cơ sở phân tích một số điểm còn vướng mắc về mặt lý luận, các điểm chưa hợp lý trong các quy định của pháp luật Việt Nam về SHTT và nhận thức của các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp Việt Nam về SHTT, bài viết dưới đây sẽ cố gắng chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng vi phạm quyền SHTT cũng như đưa ra dự báo và các giải pháp khắc phục hạn chế nói trên.

1. Quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và Hiệp định TRIPS về thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở biên giới

Điều 216 Luật SHTT của Việt Nam quy định về “Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT. Theo đó, các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT bao gồm: Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT.

Ở đây, Luật SHTT đã giao cho hải quan thẩm quyền rất lớn, vượt quá khả năng của cơ quan này. Với trình độ về SHTT hiện nay và hạn chế về trang bị, hải quan Việt Nam khó có khả năng thẩm định được các vi phạm về sáng chế, giống cây trồng, kiểu dáng công nghiệp… Nếu mời chuyên gia thẩm định thì lại vượt quá thời gian tạm dừng thủ tục thông quan mà Luật SHTT quy định. Như vậy, quy định này sẽ rất khó thực thi. Điều này đã phần nào lý giải hiện tượng hàng hóa vi phạm quyền SHTT có nguồn gốc từ nước ngoài đang tràn ngập trên thị trường Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên, Điều 51 Hiệp định TRIPS quy định: “Các thành viên phải ban hành, một cách phù hợp với các quy định sau đây, các thủ tục cho phép chủ thể quyền, khi có những căn cứ hợp lý để nghi ngờ rằng việc nhập khẩu các hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giả mạo hoặc vi phạm bản quyền có thể xảy ra, được đệ đơn cho các cơ quan có thẩm quyền, là cơ quan hành chính hoặc cơ quan xét xử, yêu cầu đình chỉ thông quan tại các cơ quan hải quan để ngăn chặn các hàng hóa đó vào lưu thông tự do”… Như vậy, Hiệp định này chỉ quy định về thủ tục kiểm soát đối với hàng hóa nhập khẩu nghi ngờ vi phạm nhãn hiệu và bản quyền (2 trong số nhiều đối tượng được bảo hộ quyền SHTT). Quy định của TRIPS đã mở ra khả năng thực thi rất cao của cơ quan thực thi quyền SHTT, bởi lẽ với khả năng có hạn và trang bị không đầy đủ, cơ quan thực thi quyền SHTT tại biên giới chỉ có thể kiểm soát hàng hóa nhập khẩu vi phạm nhãn hiệu và bản quyền.

Mặt khác, quy định trên của pháp luật Việt Nam về SHTT còn vượt quá yêu cầu của Hiệp định TRIPS đối với các quốc gia thành viên của WTO. Điều 51 của Hiệp định TRIPS không yêu cầu kiểm soát hàng hóa xuất khẩu vi phạm quyền SHTT, bởi có thể hàng hóa vi phạm quyền SHTT tại quốc gia xuất xứ nhưng lại không vi phạm quyền SHTT tại thị trường của quốc gia nhập khẩu. Nếu quy định như vậy có thể sẽ gây thiệt hại lớn về kinh tế đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, các cơ quan thực thi quyền SHTT sẽ phải đối mặt với hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh có thể xảy ra trong tương lai. Lấy ví dụ đối với ngành may mặc xuất khẩu, có thể có một chủ thể nào đó cố ý tiến hành các hành vi được coi là hợp pháp sau đây:

- Bước 1: theo dõi và thống kê nhãn hiệu chưa được bảo hộ tại Việt Nam trên các lô hàng của một doanh nghiệp may mặc xuất khẩu;

- Bước 2: đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đó tại Việt Nam cho mình;

- Bước 3: gửi thông báo cho doanh nghiệp may mặc xuất khẩu yêu cầu ngừng sản xuất mặt hàng mang nhãn hiệu xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của mình và tìm cách gây khó dễ cho doanh nghiệp;

- Bước 4: nếu doanh nghiệp không thực hiện các yêu cầu tại bước 3, sẽ gửi đơn đến các cơ quan chức năng yêu cầu đình chỉ thông quan đối với lô hàng xuất khẩu của doanh nghiệp nói trên.

Để khắc phục tình trạng quản lý còn sơ hở nêu trên, cần xây dựng các quy định của pháp luật về SHTT sao cho phù hợp với quy định của WTO và nhanh chóng loại bỏ những quy định không có lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập (cụ thể là loại bỏ việc kiểm soát hàng hóa xuất khẩu có các yếu tố vi phạm quyền SHTT). Đề xuất này có vẻ cực đoan song không vi phạm các nguyên tắc của WTO vì hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiệp định TRIPS như trên đã phân tích.

2. Các cơ quan có thẩm quyền quản lý đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ

Hiện nay, ở nước ta vẫn tồn tại mâu thuẫn trong quy định về các cơ quan có thẩm quyền quản lý 2 đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, đó là nhãn hiệu và tên thương mại. Việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp của 2 đối tượng này rất khác nhau: quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu do Cục SHTT cấp, còn quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó.

Trên thực tế, Bộ Khoa học và Công nghệ (thông qua Cục SHTT) quản lý nhà nước đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý tên thương mại của các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp; Bộ Tài chính quản lý tên thương mại của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý tên thương mại của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán… Luật SHTT giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về SHTT, còn các bộ khác có trách nhiệm “phối hợp” với các bộ trên trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, hiện chưa hề có một văn bản nào quy định về cơ chế phối hợp.

Mối liên quan giữa nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và tên thương mại:

- Điều 74.2.k Luật SHTT quy định một trong những trường hợp của nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt là “Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ”.

- Điều 78.3 Luật SHTT quy định một trong các điều kiện để xác định khả năng phân biệt của tên thương mại là “Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được bảo hộ”.

Trong thực tế, khi xảy ra tranh chấp giữa một bên là chủ thể quyền của nhãn hiệu được bảo hộ và chủ thể quyền của tên thương mại đã được cấp phép, các cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng thủ tục nào để giải quyết và cơ quan nào sẽ có thẩm quyền và chịu trách nhiệm giải quyết vụ việc, Bộ Khoa học và Công nghệ hay Bộ Kế hoạch và Đầu tư?

Hệ thống đăng ký nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý do Cục SHTT quản lý được tổ chức rất chặt chẽ, không có khả năng trùng hoặc rất ít trường hợp tương tự tới mức độ gây nhầm lẫn trên phạm vi toàn quốc. Nhưng tên thương mại lại do quá nhiều bộ quản lý như trên nên việc trùng hoặc tương tự tới mức độ gây nhầm lẫn giữa tên thương mại với nhau, tên thương mại trùng hoặc tương tự tới mức độ gây nhầm lẫn với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Trong thực tế đã xảy ra khá nhiều vụ tranh chấp quyền SHTT đối với các đối tượng khác nhau mà lỗi không phải từ phía các doanh nghiệp mà từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.

Do vậy, trong thời gian tới, nếu hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về SHTT vẫn còn giữ như hiện nay, chắc chắn tình trạng này sẽ có chiều hướng gia tăng bởi ngày càng có nhiều doanh nghiệp mới được hình thành, mà theo quy định của pháp luật, mỗi doanh nghiệp phải có 1 tên thương mại riêng; hơn nữa, mỗi doanh nghiệp có thể lại có nhiều hơn 1 nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của mình.

Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp trước mắt là phải có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và tên thương mại, trước hết là giữa hai bộ, Bộ Khoa học và Công nghệ (quản lý nhà nước về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý) và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (quản lý nhà nước về tên thương mại).

Hiện nay, mạng thông tin tương đối hiện đại của Cục SHTT đã đăng tải đầy đủ và kịp thời về tình trạng pháp lý của các đối tượng sở hữu công nghiệp, do vậy, mọi chủ thể có thể khai thác miễn phí các thông tin này. Giải pháp đề xuất là: Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp đăng ký kinh doanh phải tra cứu các thông tin về tình trạng pháp lý của các đối tượng sở hữu công nghiệp (chủ yếu là nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý) để tránh cấp tên thương mại trùng hoặc tương tự tới mức độ gây nhầm lẫn với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý.

Về lâu dài, cần nghiên cứu mô hình chỉ một cơ quan duy nhất có quyền quản lý thống nhất các đối tượng của quyền SHTT, mặc dù việc thực hiện giải pháp này sẽ phức tạp hơn.

3. Tên thương mại và nhãn hiệu là hai đối tượng khác nhau của quyền sở hữu trí tuệ

Phân tích ví dụ sau: Ngày 24/5/1995, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 311/TTg về việc thành lập Tổng công ty Lương thực Miền Nam có tên giao dịch quốc tế là VIETNAM SOUTHERN FOOD CORPORATION, viết tắt là VINAFOOD II. Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ cũng ra Quyết định số 312/TTg về việc thành lập Tổng công ty Lương thực Miền Bắc có tên giao dịch quốc tế là VIETNAM NORTHERN FOOD CORPORATION, viết tắt là VINAFOOD I.

Cần lưu ý rằng, VINAFOOD I và VINAFOOD II trong các quyết định nói trên của Thủ tướng Chính phủ chỉ là tên thương mại, nhưng một thời gian dài sau đó, cả 2 tổng công ty này đều dùng VINAFOOD I và VINAFOOD II như là nhãn hiệu để in trên bao bì sản phẩm của mình.

7 năm sau (ngày 28/06/2002), Tổng công ty Lương thực Miền Nam nộp đơn xin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu VINAFOOD II cho nhóm 29 và 30 và đã được Cục SHTT cấp Đăng bạ quốc gia nhãn hiệu hàng hóa vào ngày 20/06/2003.

Ngày 06/12/2006, Tổng công ty Lương thực Miền Bắc

mới nộp đơn xin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu VINAFOOD I. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng VINAFOOD I đã “tương tự tới mức độ gây nhầm lẫn” với VINAFOOD II. Do vậy, ngày 17/09/2007, Tổng công ty Lương thực Miền Bắc đã phải nộp đơn xin bảo hộ cho nhãn hiệu VNF1 và cho đến thời điểm này, Tổng công ty Lương thực Miền Bắc vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu VINAFOOD I và nhãn hiệu VNF1.

Có thể thấy, VINAFOOD I là tên thương mại mạnh được người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến, nếu trở thành nhãn hiệu thì sẽ thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, Tổng công ty Lương thực Miền Bắc đã có chiến lược riêng của mình khi tập trung xây dựng cho nhãn hiệu VNF1. Điều đặc biệt là, mặc dù VNF1 chưa được coi là “đăng ký quốc gia” về nhãn hiệu nhưng đã được coi là “đơn quốc gia” về nhãn hiệu nên Tổng công ty Lương thực Miền Bắc đã vận dụng Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu VNF1 tại các quốc gia thành viên của Nghị định thư. Đây là một chiến lược đúng đắn của một doanh nghiệp lớn trong quá trình hội nhập. Thực tế, chỉ trong một thời gian ngắn, người tiêu dùng trong nước và nhiều đối tác nước ngoài đã quen và tin tưởng khi dùng sản phẩm và dịch vụ mang nhãn hiệu VNF1.

Trên thế giới đã có không ít trường hợp doanh nghiệp lấy tên thương mại của mình làm nhãn hiệu như: SONY, TOSHIBA, HONDA… Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp không lấy tên thương mại của mình làm nhãn hiệu như trường hợp điển hình là UNILEVER, tập đoàn hiện đang sở hữu khoảng trên 1.600 nhãn hiệu: LIPTON, OMO, P/S… nhưng chưa bao giờ lấy UNILEVER làm nhãn hiệu sản phẩm.

Như vậy, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sẽ còn rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp phải trường hợp như trên, không những gây tốn kém về tài chính mà còn ảnh hưởng tới quá trình vươn ra chiếm lĩnh thị trường nước ngoài.

Về giải pháp, không nên ghép tên thương mại và nhãn hiệu làm một, bởi ngay Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp đã quy định chúng là các đối tượng khác nhau của quyền sở hữu công nghiệp. Có ý kiến cho rằng, nên lấy luôn tên thương mại làm nhãn hiệu cho đỡ tốn kém, song Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa chỉ dựa trên “đăng ký quốc gia” về nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa chỉ dựa trên “đơn quốc gia” về nhãn hiệu([2]).

Bởi vậy, các doanh nghiệp muốn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ra nước ngoài, trước hết phải đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam (kể cả trường hợp sử dụng ngay tên thương mại của mình làm nhãn hiệu), sau đó có thể đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ra nước ngoài theo 2 cách:

- Cách 1: theo quy định của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp tại các nước không là thành viên của Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa và Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa (số lượng các nước này khá nhiều, trong đó có các nước lớn như: Mỹ, Anh, Ôxtrâylia, Canađa, Nhật Bản…), thủ tục đăng ký nhãn hiệu được thực hiện tại cơ quan sở hữu công nghiệp của nước đó([3]).

- Cách 2: theo quy định của Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa và Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa tại các nước thành viên (hiện có khoảng trên 50 nước tham gia Thỏa ước Madrid), doanh nghiệp chỉ cần nộp 01 đơn đăng ký bằng tiếng Pháp cho cơ quan duy nhất là Văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) thông qua Cục SHTT Việt Nam để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở nhiều quốc gia.

4. Nhãn hiệu và nhãn hàng hóa là các thuật ngữ hoàn toàn khác nhau

Trong nhiều nghiên cứu, đôi khi các tác giả đã nhầm lẫn hai thuật ngữ này, thậm chí còn gọi là “nhãn mác”, trong khi thực chất chỉ có “nhãn hiệu” là đối tượng của quyền SHTT.

Lấy ví dụ trường hợp Công ty Cổ phần ắc quy Tia Sáng, website của Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng đã chuyển tải một bài nghiên cứu đăng trên Báo Hải Phòng như sau: “Đây là lần đầu tiên gặp phải trường hợp này nên ban đầu công ty cho rằng mình vi phạm pháp luật nhưng ở mức độ nhẹ do không đăng ký nhãn “NATSIONAL” tại Việt Nam. Tuy nhiên, Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/9/2006 của Chính phủ về nhãn mác hàng hóa, mục 3 điều 5 quy định : “sản phẩm làm xuất khẩu cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam yêu cầu ghi nhãn hàng hóa theo hợp đồng mua bán và chịu trách nhiệm theo yêu cầu của mình thì tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hóa được thực hiện theo hợp đồng với điều kiện những yêu cầu này không làm sai lệch bản chất hàng hóa, không vi phạm pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước nhập khẩu” ([4]).

Ở đây, đã có sự nhầm lẫn về hình thức: NATSIONAL là “nhãn hiệu” chứ không phải “nhãn”; hơn nữa, Nghị định 89/2006/NĐ-CP quy định về “nhãn hàng hóa” chứ không quy định về “nhãn mác hàng hóa”. "Nhãn hàng hoá" là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa ([5]). Do đó, NATSIONAL không phải là nhãn hàng hóa mà là nhãn hiệu được bảo hộ theo pháp luật của Vương quốc Campuchia.

Qua đây có thể thấy, không chỉ các doanh nghiệp nhầm lẫn những khái niệm hết sức cơ bản của lĩnh vực SHTT mà ngay cả các cơ quan quản lý nhà nước đôi khi cũng có sự hiểu nhầm.

Về lâu dài, sự nhầm lẫn này có thể sẽ gây thiệt hại cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa khi bị các cơ quan qun lý nhà nước kiểm tra. Pháp luật không yêu cầu mọi loại hàng hóa lưu thông trên thị trường đều phải gắn nhãn hiệu song lại quy định hàng hóa phải ghi định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản… là những yếu tố cấu thành nhãn hàng hóa.

Do vậy, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý rằng mọi loại hàng hóa khi lưu thông trên thị trường đều phải gắn nhãn hàng hóa theo quy định của Nghị định 89/2006/NĐ-CP. Để hàng hóa và dịch vụ có thể xuất khẩu ra nước ngoài thì phải gắn nhãn hiệu (pháp luật của nhiều quốc gia quy định hàng hóa phải gắn nhãn hiệu khi lưu thông trên thị trường). Nhãn hiệu này phải được bảo hộ tại Việt Nam, sau đó phải đăng ký bảo hộ tại quốc gia có thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ đó.

5. Hiệu lực lãnh thổ của tên thương mại và nhãn hiệu

Cách đây không lâu, nhiều người không khỏi ngạc nhiên về sự thay đổi nhãn hiệu dịch vụ của Ngân hàng Công Thương Việt Nam. Được thành lập từ năm 1988, Ngân hàng Công Thương Việt Nam là một trong những ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất Việt Nam và được xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt của Việt Nam. Trong 20 năm qua, Ngân hàng Công Thương Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên mọi mặt hoạt động và góp phần không nhỏ trong việc thực thi hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đến năm 2008, mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Công Thương Việt Nam đã được phân bố rộng khắp trên 56 tỉnh, thành phố trong cả nước, có quan hệ đại lý với trên 800 ngân hàng tại 80 quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, ít ai biết rằng, trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Công Thương Việt Nam đã lấy tên thương mại Incombank của mình làm nhãn hiệu dịch vụ mà không hề đăng ký với Cục SHTT để được cấp Đăng bạ Quốc gia nhãn hiệu hàng hóa Incombank, trái ngược với nhiều ngân hàng khác.

Trong khi đó, ngày 14/01/1993 (5 năm sau khi Ngân hàng Công Thương Việt Nam thành lập), Cục SHTT đã cấp cho Công ty Vàng bạc thuộc Ngân hàng Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) có trụ sở tại 165-169 Hàm Nghi, quận 1, TP HCM quyền sở hữu đối với nhãn hiệu Incombank ICB. Như vậy, ngay từ năm 1993, Ngân hàng Công Thương Việt Nam đã mất quyền đăng ký nhãn hiệu Incombank. Nhãn hiệu Incombank ICB đã hết hiệu lực bảo hộ từ ngày 02/11/2002, do Công ty Vàng bạc thuộc Ngân hàng Công thương TP HCM không gia hạn bảo hộ. Theo quy định của Luật SHTT, phải 5 năm sau, tức là từ ngày 03/11/2007, Ngân hàng Công Thương Việt Nam và các chủ thể khác mới có quyền đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Incombank.

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Ngân hàng Công Thương Việt Nam phải vươn ra thị trường nước ngoài, lúc đó mới biết trên thế giới đã có nhiều ngân hàng mang nhãn hiệu Incombank như ở Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc… Theo quy định, nhãn hiệu do quốc gia nào cấp văn bằng bảo hộ thì chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ quốc gia đó, do vậy, Ngân hàng Công Thương Việt Nam không thể lấy tên Incombank để hoạt động ở nước ngoài, nên đã đăng ký và được Cục SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Vietinbank vào ngày 18/07/2007.

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sẽ có nhiều trường hợp như nhãn hiệu Incombank vừa nêu. Bởi vậy, các doanh nghiệp hiện đang là chủ sở hữu của các nhãn hiệu không có thành phần phân biệt([6]), nếu muốn xuất khẩu hàng hóa hoặc dịch vụ ra nước ngoài cần phải sớm đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đó tại quốc gia có thị trường tiêu thụ. Trong trường hợp bị từ chối, có thể chọn 2 cách:

- Cách 1: không dùng nhãn hiệu bị từ chối ở nước ngoài đối với thị trường trong nước, chọn một nhãn hiệu khác có thành phần phân biệt cao để đăng ký đồng thời ở trong nước và nước ngoài (như trường hợp Ngân hàng Công Thương Việt Nam đã chọn nhãn hiệu Vietinbank).

- Cách 2: vẫn dùng nhãn hiệu bị từ chối ở nước ngoài đối với thị trường trong nước, chọn một nhãn hiệu khác có thành phần phân biệt cao để đăng ký đồng thời ở trong nước và nước ngoài. Như vậy, trong trường hợp này, doanh nghiệp dùng đồng thời 2 nhãn hiệu: 1 nhãn hiệu chỉ cho trong nước và 1 nhãn hiệu cho cả trong nước và nước ngoài.

6. Mâu thuẫn trong quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Cạnh tranh

Trước khi ban hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh là một đối tượng được bảo hộ theo quy định tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP, nhưng điều 3 của Luật SHTT không nhắc đến đối tượng này mà lại quy định ở điều khoản khác.

Điều 130.1.c Luật SHTT quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh: “Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng”.

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có liên quan đến tên miền được quy định tại Điểm d, khoản 1, điều 130.1.d. Luật SHTT: “Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng tên miền hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng”.

Điều 211.3. Luật SHTT quy định: “Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về SHTT thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh”.

Mặt khác, điều 39 Luật Cạnh tranh quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHTT chỉ có hành vi: “Chỉ dẫn gây nhầm lẫn và xâm phạm bí mật kinh doanh”.

Hiện tại, trong Nghị định 120/2005/NĐ-CP (ban hành ngày 30/9/2005 trước khi ban hành Luật SHTT) mới chỉ có điều 30 quy định mức xử phạt đối với hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn và điều 31 quy định mức phạt đối với hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. Như vậy, chưa có quy định về xử lý đối với hành vi được quy định tại điều 130.1.c. và điều 130.1.d của Luật SHTT.

Như trên đã nói, do có quá nhiều bộ quản lý nên cho đến nay vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giải quyết tranh chấp giữa tên miền với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

Tháng 5/2003, Bộ trưởng Bộ Bưu chính – Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) đã ra Quyết định 92/2003/QĐ-BBCVT về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet, trong đó quy định việc đăng ký tên miền là “Tổ chức, cá nhân đăng ký trước được xét cấp trước”. Đây có thể được coi là một bước đột phá so với quy định trước, song vẫn còn nhiều hạn chế do mâu thuẫn với các quy định về SHTT.

Thực tế cho thấy, nhiều tranh chấp tên miền đã phát sinh, trong đó phổ biến là giữa một bên chủ sở hữu nhãn hiệu với bên chiếm giữ tên miền trùng hoặc tương tự tới mức độ gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, song vẫn được Trung tâm Internet Việt Nam cấp đăng ký (các vụ tranh chấp giữa tên miền và nhãn hiệu Trung Nguyên, Vietcombank, Tiger,…).

Trong thời gian tới, những vụ tranh chấp như vậy sẽ còn diễn ra gay gắt hơn, không chỉ giữa các chủ thể trong nước mà còn giữa các chủ thể nước ngoài với chủ thể trong nước. Nguyên nhân của tình trạng này, ngoài sự hạn chế của pháp luật Việt Nam còn do sự bất cập của pháp luật quốc tế, đó là Hiệp định TRIPS không hề có quy định nào điều chỉnh tên miền trên Internet. Đây là một điều khó hiểu nhất của WTO trước thực tiễn phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử. Như vậy, WTO khó thực hiện được mục tiêu của mình khi đề ra điều 7 của Hiệp định TRIPS: “Việc bảo hộ và thực thi các quyền SHTT phải góp phần thúc đẩy việc cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, góp phần đem lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ, đem lại lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế, và tạo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ”.

Để khắc phục hạn chế về quy định này của WTO là điều không thể bởi Việt Nam chỉ là một trong nhiều quốc gia thành viên của WTO. Tuy nhiên, cần có một Thông tư liên tịch giữa Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc quy định cơ chế phối hợp nhằm tránh tình trạng cấp tên miền trùng với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và tên thương mại do người khác làm chủ sở hữu. Quy định này cũng cần phải lưu ý do tính duy nhất của tên miền, trong khi nhãn hiệu lại có thể không duy nhất bởi có thể có những nhãn hiệu trùng nhau cho các hàng hóa hoặc dịch vụ khác nhau. Để thực hiện được điều này, đòi hỏi phải có sự lao động trí tuệ nghiêm túc của nhiều chuyên gia.

(MINH KHUE LAW FIRM: sưu tầm)

2. Tranh chấp Sở Hữu Trí Tuệ liên quan dến thương hiệu nhựa Bình Minh bị xâm phạm

Trước đây, thương hiệu Bình Minh của Cty CP nhựa Bình Minh bị Cty TNHH TM-DV-SX nhựa ống Bình Minh sử dụng. Dù Cty CP nhựa Bình Minh đã gởi đơn khiếu nại, thuê văn phòng luật sư đấu tranh cho quyền lợi hợp pháp của mình nhưng đến nay, sự việc vẫn chưa được giải quyết.

Điều đáng nói là cho đến nay vẫn tồn tại hai quan điểm khác nhau từ chính các cơ quan quản lý. Sở KHCN TP HCM thì nói Cty TNHH TM-DV-SX nhựa ống Bình Minh đã vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ về đặt tên thương mại. Sở KHĐT TP HCM thì vẫn giữ quan điểm cho rằng, Cty TNHH TM-DV-SX nhựa ống Bình Minh không vi phạm gì trong việc đặt tên nêu trên, không phải sửa tên gì cả…

Sở KHCN: Đặt tên như vậy là phạm luật !

Thanh tra Sở KHCN TP HCM đã có Công văn số 593/SKHCN-TTr ngày 25/7/2008 gởi Sở KHĐT TP HCM, và đề nghị Sở KHĐT cấp lại Giấy đăng ký kinh doanh đổi tên khác cho Cty TNHH TM-DV-SX nhựa ống Bình Minh. Công văn nêu rõ: Cty CP nhựa Bình Minh hoạt động hợp pháp từ năm 1994. Ống nước nhựa và phụ kiện mang nhãn hiệu Bình Minh, là nhãn hiệu được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu số 23374 từ ngày 12/12/1996, và đang trong thời gian hiệu lực. Còn Cty TNHH TM-DV- SX nhựa ống Bình Minh được cấp Giấy phép ĐKKD ngày 15/2/2008, dù có tên rất dài nhưng tên riêng trùng với nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ. Công văn cũng đề nghị Sở KHĐT yêu cầu Cty TNHH TM-DV-SX nhựa ống Bình Minh phải sửa đổi phần tên riêng của mình, thay đổi chữ Bình Minh trên giấy ĐKKD. Việc thay đổi tên riêng nêu trên thực hiện theo quy định Điều 78.3 Luật SHTT; Điều 32 Luật DN; Điều 11.4 Nghị định 88/2006/ND9-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.

>> Luật sư tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Gọi: 0986.386.648

Trong cùng một ngành hàng (sản xuất ống nước nhựa và phụ kiện), việc sử dụng tên riêng Bình Minh của Cty TNHH ống nhựa Bình Minh, là không có khả năng phân biệt với nhãn hiệu Bình Minh của Cty CP nhựa Bình Minh. Ngày 17/6/2008, Thanh tra Sở KHCN TP HCM đã làm việc với Cty TNHH nhựa ống Bình Minh, yêu cầu Cty này chấm dứt việc sử dụng dấu hiệu Bình Minh in nổi bật trên bảng hiệu của Cty, vì đây là hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu Bình Minh của Cty CP nhựa Bình Minh.

DN vẫn phải chờ

Bà Nguyễn Thị Kim Yến – Phó TGĐ Cty CP nhựa Bình Minh cho biết: Ngày 18/3/2008, Cty CP nhựa Bình Minh đã có đơn khiếu nại về việc đặt tên thương mại gây nhầm lẫn với nhãn hiệu Bình Minh. Sau đó, ngày 28/3/2008, Phòng kinh doanh Sở KHĐT TP HCM đã có Công văn số 4459 trả lời Cty CP nhựa Bình Minh rằng việc đặt tên nêu trên không có gì sai. Bà Nguyễn Thị Kim Yến vô cùng búc xúc trước việc thương hiệu Bình Minh bị xâm hại. Cho dù Sở KHCN đã có Công văn gửi Sở KHĐT như đã nêu, nhưng đến nay, Sở KHĐT vẫn chưa có trả lời. Không thể hiểu nổi lập luận của Phòng kinh doanh Sở KHĐT là 2 tên của 2 Cty không trùng nhau, không gây nhầm lẫn.

Trao đổi với chúng tôi, nhiều luật gia cho rằng: Thương hiệu của bất cứ Cty nào cũng được hiểu và biết một cách ngắn gọn, được in lớn trên sản phẩm như: Nhà Bè, Việt Tiến, Sony, Samsung… Và không thể có một thương hiệu hợp pháp cùng ngành trùng tên những thương hiệu đó, cho dù có thêm chữ phần đầu hay phần sau của thương hiệu, hoặc khác loại hình như: cơ sở sản xuất, TNHH, cổ phần, TNHH một thành viên… Ở trường hợp mà Cty CP nhựa Bình Minh bị xâm hại, hai Cty cùng ngành hàng, cùng tên riêng, cùng tên thương hiệu trên sản phẩm và trên thị trường (Bình Minh). Khi người tiêu dùng mua ống nhựa và phụ kiện ngành cấp thoát nước, họ cũng chỉ biết ngắn gọn là ống Minh Hùng, ống Tân Tiến, ống Đệ Nhất… Các loại ống này khác nhau về giá trị, chất lượng, giá bán… Nếu bây giờ lại có thêm một loại ống Bình Minh nữa thì không thể phân biệt

Các sản phẩm đặt tên giống, hoặc nhái đều nhằm mục đích “ăn theo” sự nổi tiếng của thương hiệu khác, đánh lừa người tiêu dùng, gây hại cho thương hiệu nổi tiếng… Chắc chắn khi thành lập, Cty TNHH TM-DV-SX nhựa ống Bình Minh đã biết rõ sự nổi tiếng, giá trị của thương hiệu Bình Minh, và họ phải hiểu là hoàn toàn có thể tạo nên sự nhập nhằng giá trị thực của họ với thương hiệu này.

Hiện Việt Nam chỉ có 30 thương hiệu quốc gia, việc xây dựng thương hiệu đạt cấp quốc gia là rất khó. Thương hiệu nhựa Bình Minh của Cty CP nhựa Bình Minh là thương hiệu quốc gia, 12 năm Hàng Việt Nam chất lượng cao, 4 lần đạt giải “Sao Vàng Đất Việt”… Việc thương hiệu này bị trùng tên, bị nhầm lẫn sẽ gây cho các thương hiệu khác nỗi lo sợ cũng có thể bị tình trạng như vậy nếu nổi tiếng.

Điều 78.3 Luật Sở hữu trí tuệ: Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt, nếu không trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Điều 32 Luật DN: Những điều cấm trong đặt tên DN: Đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên DN đã đăng ký.

Điều 11.4 Nghị định 88/2006/NĐ- CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh: Không được sử dụng tên thương mại của tổ chức cá nhân khác đã đăng ký bảo hộ để cấu thành tên riêng của DN, trừ trường hợp được sự chấp thuận của chủ sở hữu tên thương mại đó.

(LUATMINHKHUE.VN: sưu tầm)

3. Tranh chấp sở hữu trí tuệ: Chiếc ram máy vi tính

Một công ty nhập, phân phối ram máy vi tính bị tước văn bằng bảo hộ vì nhà sản xuất nước ngoài đang sử dụng nhãn hiệu sản phẩm này. Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa xử vụ Công ty TNHH Phát triển kỹ thuật ứng dụng VS kiện quyết định hủy bỏ văn bằng bảo hộ của Cục Sở hữu trí tuệ. Đây là một vụ kiện khá mới xung quanh việc đăng ký nhãn hiệu bộ nhớ máy vi tính (ram).

Trước cấp, sau hủy

Theo hồ sơ, tháng 10-2005, Công ty VS nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hóa cho sản phẩm ram máy vi tính nhãn hiệu K. của một công ty ở Đài Loan và hơn một năm sau thì được cấp bằng.

Sau đó, phát hiện một doanh nghiệp khác nhập bán sản phẩm K. không rõ nguồn gốc, Công ty VS đã thông báo, được cơ quan quản lý thị trường xác định đó là hàng giả và đề xuất UBND TP.HCM phạt doanh nghiệp nọ 100 triệu đồng. Tức mình, doanh nghiệp nọ khiếu nại yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ hủy bỏ văn bằng đăng ký nhãn hiệu đã cấp cho Công ty VS với lý do VS chỉ là nhà phân phối, không phải đơn vị sản xuất.

Nhận đơn khiếu nại, Cục Sở hữu trí tuệ đã thông báo cho VS và công ty này đã nộp bổ sung bản tuyên thệ của nhà sản xuất ở Đài Loan đồng ý cho VS nộp đơn đăng ký nhãn hiệu K. tại Việt Nam. Tuy nhiên, Cục Sở hữu trí tuệ không chấp thuận vì nộp trễ (lý giải vì sao không nộp bản tuyên thệ lúc đăng ký, Công ty VS cho biết khi đó Cục không yêu cầu). Thế là tháng 10-2007, Cục Sở hữu trí tuệ đã ra quyết định hủy bỏ văn bằng đã cấp với lý do Công ty VS không đủ điều kiện nộp đơn.

Sơ thẩm: Cục sai

Công ty VS khởi kiện. Tại phiên sơ thẩm của TAND TP.HCM, đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng Công ty VS không có quyền nộp đơn đăng ký nhãn hiệu vì chỉ là đại lý phân phối, không phải nhà sản xuất. Trong việc này, chỉ có nhà sản xuất ở Đài Loan mới có tư cách nộp đơn. Ngược lại, Công ty VS cho rằng dựa vào điểm c khoản 2 Điều 14 Nghị định 63 (về sở hữu công nghiệp) thì một đơn vị kinh doanh cũng có quyền nộp đơn.

Một vấn đề khác gây tranh cãi giữa Công ty VS và Cục Sở hữu trí tuệ là theo khoản 3 Điều 220 Luật Sở hữu trí tuệ, đối với văn bằng cấp sau khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực thì việc hủy bỏ các văn bằng đó áp dụng theo quy định tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ. Ở đây, VS đã được cấp văn bằng bảo hộ vào tháng 11-2006, sau khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực. Tuy nhiên, khi ra quyết định hủy bỏ văn bằng, Cục Sở hữu trí tuệ lại căn cứ vào Nghị định 63 (đã hết hiệu lực tại thời điểm VS được cấp văn bằng). Giải thích, đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng Luật Sở hữu trí tuệ thay đổi nhiều lần nên không thống nhất. Tại thời điểm cấp văn bằng, Cục Sở hữu trí tuệ căn cứ vào Nghị định 63, không căn cứ vào Luật Sở hữu trí tuệ.

>> Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 1900.6162

Cuối cùng, TAND TP đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty VS, hủy quyết định của Cục Sở hữu trí tuệ về việc hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đã cấp cho công ty này.

Phúc thẩm: Cục đúng

Giải quyết vụ việc tưởng khá phức tạp này theo thủ tục phúc thẩm, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM đã vận dụng chính Nghị định 63 để ra phán quyết trái ngược với cấp sơ thẩm.

Cụ thể là tòa phúc thẩm cho rằng quy định ở điểm c khoản 2 Điều 14 Nghị định 63 bao gồm hai phần: Thứ nhất, nhà sản suất không phản đối việc nộp đơn. Thứ hai, nhà sản suất không tiếp tục sử dụng nhãn hiệu đó.

Trong trường hợp này, nhà sản xuất ở Đài Loan đồng ý cho Công ty VS nộp đơn đăng ký nhãn hiệu ram máy vi tính K. Tuy nhiên, nhà sản xuất này vẫn còn sử dụng nhãn hiệu K. để sản xuất và bán sản phẩm tại các nước nên VS chưa đủ điều kiện nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu này tại Việt Nam. Mặt khác, với tư cách cơ quan quản lý nhà nước, khi kiểm tra, phát hiện sai luật, Cục Sở hữu trí tuệ có quyền sửa đổi, hủy bỏ quyết định đã cấp…

Từ những phân tích trên, tòa phúc thẩm đã sửa án sơ thẩm, tuyên giữ nguyên quyết định hủy bỏ văn bằng bảo hộ sản phẩm K. của Công ty VS.

Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu hàng hóa đó cho sản phẩm tương ứng và không phản đối việc nộp đơn nói trên.

(Theo điểm c khoản 2 Điều 14 Nghị định 63)

(LUATMINHKHUE.VN: sưu tầm)

4. Bảo vệ ca sỹ hay nhà đầu tư

Ở các nước, việc khai thác qua mạng điện thoại di động nhạc chuông/nhạc chờ, hình ảnh ca sĩ… đang mang lại những khoản tiền rất lớn đồng thời những tranh chấp giữa ca sĩ với các công ty sản xuất băng đĩa cũng diễn ra thường xuyên. Ở Việt Nam rồi cũng sẽ như vậy, nhất là khi cả luật pháp lẫn kinh nghiệm thực tế của chúng ta trong lĩnh vực phức tạp này còn nhiều hạn chế.

Theo báo điện tử Pháp luật TPHCM, mới đây, ca sĩ Mỹ Tâm đã yêu cầu nhiều công ty viễn thông và hàng chục mạng nhạc số không được kinh doanh các bản nhạc chuông, nhạc chờ có sử dụng các bài hát do ca sĩ thể hiện hoặc phải trả ca sĩ tiền về quyền liên quan.

Về yêu cầu này, một số công ty cho rằng họ không phải trả tiền cho người biểu diễn mà chỉ trả cho hãng sản xuất băng đĩa và họ đã trả qua Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV).

Mỹ Tâm khẳng định chưa bao giờ ký hợp đồng chuyển giao quyền của người biểu diễn cho bất cứ hãng băng đĩa nào. Vì vậy, việc một số hãng băng đĩa nói rằng họ có quyền sở hữu các cuộc biểu diễn của ca sĩ là sai pháp luật.

Các hãng băng đĩa liên quan trong vụ việc này và RIAV lại cho rằng, căn cứ vào điều 29.1 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), toàn bộ các bản ghi âm/ghi hình này thuộc quyền sở hữu của các nhà sản xuất, còn Mỹ Tâm chỉ có các quyền nhân thân, vì các bản ghi âm/ghi hình đều do họ đầu tư, ca sĩ chỉ biểu diễn để ghi âm/ghi hình và đã nhận đủ tiền thù lao.

Ở đây sẽ không bàn đến vấn đề ai đúng ai sai, mà chỉ xin nêu vài ý kiến về một quy định pháp lý quan trọng trong các vụ tranh chấp kiểu này – điều 29.1 Luật SHTT.

>> Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 1900.6162

Để khuyến khích tạo ra các tác phẩm mới và phổ biến các tác phẩm đến công chúng, pháp luật phải bảo vệ không chỉ các quyền của tác giả đối với tác phẩm (quyền tác giả), mà còn phải bảo vệ các quyền của nghệ sĩ biểu diễn đối với cuộc biểu diễn mà anh ta thực hiện, các quyền của hãng sản xuất băng đĩa đối với bản ghi âm họ thu, và các quyền của tổ chức phát sóng đối với chương trình phát sóng do họ sản xuất (các quyền liên quan).

Về quyền liên quan của người biểu diễn, điều 29.1 Luật SHTT của Việt Nam quy định:

Người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì có các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; trong trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân thân và chủ đầu tư có các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn.

Điều 745.1 Bộ luật Dân sự 2005, về nội dung, cũng tương tự như điều 29.1 Luật SHTT.

Rõ ràng, với các quy định này, pháp luật quyền liên quan của Việt Nam đang bảo vệ người đầu tư để thực hiện cuộc biểu diễn mà không phải chính người biểu diễn, vì chỉ người đầu tư mới có các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn, còn người biểu diễn chỉ có các quyền nhân thân (được nêu tên khi biểu diễn và được bảo vệ sự toàn vẹn của hình tượng biểu diễn). Nếu không phải là chủ đầu tư, người ca sĩ sẽ bị tước đi các quyền chính đáng (và đó cũng là các điểm tựa pháp lý quan trọng cho các đàm phán hợp đồng giữa ca sĩ với, ví dụ, các hãng băng đĩa), như các quyền ngăn cấm người khác thu hình hoặc phát sóng cuộc biểu diễn trực tiếp.

Các quy định này của pháp luật Việt Nam là trái với các quy định về quyền của người biểu diễn trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đang tham gia, cụ thể là điều 7 của Công ước Rome 1961, điều 4.7 chương II Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, và điều 14.1 TRIPS. Có một điểm quan trọng cần lưu ý rằng: Công ước Rome và điều 14.1 TRIPS đều nhằm bảo hộ các “sáng tạo nghệ thuật” (atistic achievement hay acts of spiritual creation) của nghệ sĩ biểu diễn, mà không phải nhằm bảo vệ “các lợi ích về kỹ thuật và tài chính” (technical and financial interests) như trong trường hợp đối với các nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng.

Các quy định này của Việt Nam là trái với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; vậy, liệu các ca sĩ có thể vận dụng quy định của điều 5.3 Luật SHTT – nói rằng khi quy định của Luật SHTT khác với điều ước quốc tế thì áp dụng điều ước quốc tế – để đòi lại từ chủ đầu tư các quyền tài sản cho mình?

Thêm nữa, quy định này – hãy tạm không bàn đến sự trái ngược với các điều ước quốc tế của nó – có lợi gì cho Việt Nam, hay có xuất phát từ đặc điểm cụ thể nào của Việt Nam? Vì lý do nào mà các nhà làm luật của ta lại muốn bảo hộ cho “người đầu tư để thực hiện cuộc biểu diễn” khi trong thực tế rất nhiều nhà đầu tư loại này lại chính là các công ty sản xuất băng đĩa đã được bảo hộ bằng các quy định riêng (ví dụ, điều 30 Luật SHTT)?

Có lẽ trước mắt, để tự bảo vệ mình trước khi Việt Nam có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, các ca sĩ nên ký các hợp đồng đầy đủ, chi tiết và chặt chẽ (thường đến vài chục trang) với người quản lý, nhà sản xuất và các công ty băng đĩa để tránh những thiệt hại có thể rất lớn về vật chất

(LUATMINHKHUE.VN: sưu tầm)

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Dịch vụ tư vấn bảo hộ thương hiệu doanh nghiệp;

5. Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

Bí mật kinh doanh (BMKD) là một loại tài sản trí tuệ rất có giá trị vì nó tạo ra lợi thế riêng của chủ sở hữu BMKD so với các đối thủ cạnh tranh khác. Theo Điều 39 của Hiệp định TRIPs (Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ – SHTT), việc bảo hộ quyền SHTT đối với thông tin bí mật (TTBM) là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới nhằm tạo dựng và phát triển các quan hệ thương mại lành mạnh và bình đẳng.

Ở nước ta, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với BMKD được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) và một số văn bản hướng dẫn thực hiện Luật SHTT. Tuy nhiên, so với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật nước ta về bảo hộ BMKD vẫn chưa đầy đủ, đang bộc lộ những hạn chế nhất định cần tiếp tục hoàn thiện.

1. Thực trạng pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh

Theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành, việc bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:

1.1. Phạm vi và điều kiện bảo hộ

Phạm vi bảo hộ

Tại Việt Nam, BMKD là đối tượng của quyền SHCN được pháp luật bảo hộ theo Khoản 1, Điều 750 Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo đó, BMKD là “thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh” (Khoản 23, Điều 4 Luật SHTT). Tuy nhiên, không phải bất cứ TTBM nào cũng được bảo hộ. Điều 85 của Luật SHTT đưa ra danh mục các loại thông tin không được bảo hộ với danh nghĩa BMKD bao gồm: “1. Bí mật về nhân thân; 2. Bí mật về quản lý nhà nước; 3. Bí mật về quốc phòng, an ninh; 4. Thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh”.

>> Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 1900.6162

Như vậy, trong pháp luật Việt Nam đã có khái niệm BMKD; tuy nhiên, khái niệm này vẫn còn chung chung, chưa làm rõ phạm vi các thông tin được bảo hộ. Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Có quan điểm cho rằng, BMKD đơn thuần là các thông tin về các hoạt động kinh doanh của các chủ thể. Quan điểm khác lại xác định BMKD bao gồm cả các thông tin về khoa học kỹ thuật, thông tin về các hoạt động kinh doanh của chủ thể… Khác với Việt Nam, pháp luật các nước thường quy định tương đối rõ ràng về vấn đề này. Ví dụ: theo Khoản 4, Điều 1, Luật Bí mật thương mại hợp nhất của Mỹ năm 1979 (1), khái niệm “bí mật thương mại” đã được giải thích tương đối cụ thể, thuận lợi cho việc áp dụng trên thực tế: “Bí mật thương mại là các thông tin bao gồm công thức, mẫu hình, sưu tập các thông tin, chương trình, phương sách, biện pháp, công nghệ hoặc quy trình”.

Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh

Quyền SHCN đối với BMKD phát sinh khi BMKD đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định. Vì vậy, việc xác định các điều kiện bảo hộ đối với BMKD là rất quan trọng. Theo quy định của Điều 84 Lut SHTT, BMKD sẽ được bảo hộ khi đáp ứng các điều kiện sau: không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng BMKD đó; được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để BMKD đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.

Ngoài ra, theo tinh thần của Điều 8 Luật SHTT, thì các BMKD trái với đạo đức xã hội, xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh sẽ không được pháp luật Việt Nam bảo hộ.

Về cơ bản, các điều kiện bảo hộ theo quy định của pháp luật nước ta đã thể hiện được ba đặc điểm chính của BMKD là: tính bí mật; có giá trị; và được chủ sở hữu bảo mật. Tuy nhiên, so sánh với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, chúng ta thấy có một số điểm khác biệt như:

- Theo Điều 39 của Hiệp định TRIPs, một trong các điều kiện quan trọng để TTBM được bảo hộ là phải có giá trị thương mại (commercial value). Cụ thể, Khoản 2, Điều 39 Hiệp định TRIPs quy định thông tin được bảo hộ phải đáp ứng các điều kiện: “có tính chất bí mật nghĩa là các thông tin đó không phổ biến hoặc không dễ dàng tiếp cận thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó đối với những người thường xuyên giải quyết với các loại thông tin như vậy; có giá trị thương mại vì nó có tính chất bí mật, và được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó giữ bí mật bằng các biện pháp hợp lý”.

Điều 9, Chương 2 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng quy định tương tự. Như vậy, pháp luật Việt Nam chưa thể hiện đầy đủ nội dung này. Trên thực tế, giá trị thương mại của TTBM được tạo ra bởi nhiều yếu tố, trong đó “lợi thế” mà TTBM mang lại cho người nắm giữ nó chỉ là một trong các yếu tố quan trọng làm nên giá trị thương mại của thông tin.

- Cũng theo Khoản 2, Điều 39 của Hiệp định TRIPs, thông tin được bảo hộ khi “không phổ biến, không dễ dàng tiếp cận” không phải là đối với mọi chủ thể mà chỉ đối với “những người thường xuyên giải quyết đối với các loại thông tin như vậy”. Điều này có nghĩa, ngay cả những người thường xuyên tiếp xúc, xử lý thông tin đó, thì đối với họ, những thông tin như vậy vẫn là loại thông tin không phổ biến, hay có thể gọi là thông tin “hiếm”. Quy định trên của Hiệp định TRIPs có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn cản việc bảo hộ quá rộng đối với các loại thông tin khác tồn tại trên thực tế. Tuy nhiên, nội dung này của Hiệp định TRIPs lại chưa được pháp luật Việt Nam thể chế hóa đầy đủ, rõ ràng.

Ngoài ra, pháp luật nước ta cũng chưa nêu cụ thể các biện pháp bảo mật mà chủ sở hữu BMKD được quyền áp dụng; những tiêu chuẩn để xác định những lợi thế mà BMKD mang lại cho chủ sở hữu dẫn đến việc xác định BMKD được bảo hộ trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn.

1.2. Thời điểm làm phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

Khác với các đối tượng khác của quyền SHCN, quyền SHCN đối với BMKD của các chủ sở hữu không được xác lập thông qua hình thức cấp văn bằng bảo hộ mà được bảo hộ “tự động”. Có nghĩa là quyền SHCN đối với BMKD sẽ phát sinh khi đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật mà không cần thông qua bất cứ một thủ tục đăng ký nào. “Quyền SHCN đối với BMKD được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp BMKD và thực hiện việc bảo mật BMKD đó” (điểm c, Khoản 3, Điều 6 Luật SHTT). Điều này hoàn toàn phù hợp với tính chất đặc thù của BMKD cũng như các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, thời điểm chấm dứt quyền SHCN đối với BMKD lại chưa được pháp luật Việt Nam đề cập tới dẫn đến nhiều khó khăn cho việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến BMKD.

1.3. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Theo Điều 123 Luật SHTT, chủ sở hữu BMKD có các quyền:

Thứ nhất, sử dụng, cho phép người khác sử dụng BMKD. Được coi là “sử dụng” BMKD khi chủ thể thực hiện một trong các hành vi được quy định tại Điều 124 Luật SHTT, bao gồm: áp dụng BMKD để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hoá; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất do áp dụng BMKD;

Thứ hai, ngăn cấm người khác sử dụng BMKD. Chủ sở hữu BMKD không có quyền ngăn cấm người khác thực hiện các hành vi sau (Khoản 3, Điều 125 Luật SHTT):

- Bộc lộ, sử dụng BMKD thu được khi không biết và không có nghĩa vụ phải biết BMKD đó do người khác thu được một cách bất hợp pháp;

- Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công chúng. Đây là trường hợp bộc lộ các kết quả thử nghiệm hoặc các dữ liệu liên quan đến việc lưu hành các dược phẩm, các nông hoá phẩm đã được quy định cụ thể tại Điều 128 Luật SHTT.

- Sử dụng dữ liệu bí mật liên quan đến các loại dược phẩm, nông hoá phẩm không nhằm mục đích thương mại;

- Bộc lộ, sử dụng BMKD được tạo ra một cách độc lập. Trong trường hợp này người tạo ra BMKD phải chứng minh được tính “độc lập” trong việc đã tạo ra BMKD mà người đó sử dụng.

- Bộc lộ, sử dụng BMKD được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm được phân phối hợp pháp với điều kiện người phân tích, đánh giá không có thoả thuận khác với chủ sở hữu BMKD hoặc người bán hàng.

Thứ ba, định đoạt BMKD.

Nghĩa vụ của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Nghĩa vụ quan trọng nhất chủ sở hữu BMKD theo quy định của pháp luật Việt Nam là phải cung cấp các kết quả thử nghiệm hoặc bất kỳ dữ liệu nào khác là BMKD cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. “Trong trường hợp pháp luật có quy định, người nộp đơn xin cấp phép kinh doanh, lưu hành dược phẩm, nông hoá phẩm phải cung cấp kết quả thử nghiệm hoặc bt kỳ dữ liệu nào khác là BMKD” (Khoản 1, Điều 128 Luật SHTT). Trong trường hợp này, người phải cung cấp các kết quả thử nghiệm hoặc bất kỳ dữ liệu mật nào khác có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp cần thiết để giữ bí mật các thông tin đó “để các dữ liệu đó không bị sử dụng nhằm mục đích thương mại không lành mạnh và không bị bộc lộ”. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ trên, nếu “việc bộc lộ là cần thiết để bảo vệ công chúng”.

Như vậy, so với các quy định của Hiệp định TRIPs, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu BMKD đã được pháp luật Việt Nam quy định tương đối cụ thể. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để các chủ sở hữu sử dụng và khai thác hiệu quả BMKD của mình. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, vẫn có một số điểm không rõ, chưa đầy đủ, như:

- Trong các quyền của chủ sở hữu BMKD, pháp luật Việt Nam chưa đề cập tới quyền được ngăn chặn các chủ thể khác bộc lộ bất hợp pháp BMKD của mình. Trong khi đó, đây là một trong những quyền thể hiện tính đặc thù của việc bảo hộ đối với BMKD đã được Hiệp định TRIPs và pháp luật các nước quy định rất cụ thể;

- Các quy định về sử dụng BMKD chưa khái quát được tất cả các hành vi sử dụng BMKD trên thực tế;

- Về chuyển giao quyền SHCN đối với BMKD, pháp luật Việt Nam đã không quy định cụ thể về nghĩa vụ phải giữ bí mật BMKD đối với Bên chuyển giao quyền và Bên được chuyển giao. Mặt khác, pháp luật cũng chưa làm rõ việc Bên nhận được chuyển giao quyền sử dụng BMKD có được tiếp tục sử dụng BMKD đó sau khi hợp đồng chuyển giao hết hiệu lực?

- Pháp luật lao động Việt Nam chưa đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động đối với việc quản lý, bộc lộ, khai thác sử dụng BMKD. Nếu công việc của người lao động được phép tiếp cận đối với BMKD, thì họ có nghĩa vụ phải giữ bí mật hay không và nghĩa vụ đó tồn tại tới khi nào? Điều khoản giữ bí mật đối với BMKD có là điều khoản bắt buộc của hợp đồng lao động? Sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động có được quyền sử dụng hoặc phát triển BMKD của người sử dụng lao động?

1.4. Về hành vi vi phạm bí mật kinh doanh

Theo Khoản 1, éiều 127 Luật SHTT, hành vi vi phạm BMKD bao gồm các hành vi sau:

a) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc BMKD bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp BMKD đó. Người kiểm soát BMKD trong trường hợp này bao gồm chủ sở hữu BMKD, người được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng BMKD;

b) Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc BMKD mà không được phép của chủ sở hữu BMKD đó (loại trừ các trường hợp ngoại lệ đã được nêu tại Khoản 3, Điều 125 Luật SHTT)

c) Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ BMKD;

d) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc BMKD của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan có thẩm quyền;

đ) Sử dụng, bộc lộ BMKD dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết BMKD đó do người khác thu được có liên quan đến một trong các hành vi vi phạm BMKD đã được pháp luật quy định;

e) Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật đối với các cơ sở dữ liệu, kết quả thử nghiệm theo quy định của pháp luật.

Việc quy định cụ thể các hành vi vi phạm BMKD được xem là một trong những bước tiến quan trọng của pháp luật Việt Nam trong thời gian gần đây. Nó có ý nghĩa thiết thực trong việc xác định chính xác và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm BMKD, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho chủ sở hữu BMKD. Tuy nhiên, so với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, chúng ta có thể nhận thấy vẫn còn một số điểm cần bàn, như:

- Pháp luật Việt Nam chưa làm rõ trách nhiệm pháp lý của Bên thứ ba. Bên thứ ba trong trường hợp này phải được hiểu là bên không có quyền chiếm giữ, sử dụng cũng như nghĩa vụ bảo mật BMKD cho chủ sở hữu nhưng lại có được BMKD từ các hành vi không trung thực như xúi giục, lôi kéo người khác tiết lộ BMKD của chủ sở hữu cho họ. Khi xem xét trách nhiệm của Bên thứ ba để xác định có hay không hành vi vi phạm BMKD, thì một vấn đề được đặt ra làm thế nào để xác định được trường hợp bên thứ ba “biết hoặc có nghĩa vụ phải biết” về việc BMKD đó là được tiếp nhận một cách bất hợp pháp? Pháp luật Việt Nam chưa có giải thích cũng như quy định các căn cứ cụ thể. Mặt khác, Điều 130 của Luật SHTT có đề cập đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHTT; nhưng việc Bên thứ ba xâm phạm BMKD của chủ sở hữu hoặc của người kiểm soát BMKD lại không có trong nội dung của Điều luật. Điều đó là chưa phù hợp với quy định của Hiệp định TRIPs, bởi mục đích trước tiên trong việc bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM theo quy định của Hiệp định này là tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể: “để đảm bảo việc chống cạnh tranh không lành mạnh một cách hữu hiệu… các nước thành viên phải có nghĩa vụ bảo hộ TTBM” (Khoản 1, Điều 39 Hiệp định TRIPs);.

- Các hành vi vi phạm BMKD trong lĩnh vực quan hệ lao động, trong lĩnh vực chuyển giao quyền SHTT đối với BMKD cũng chưa được pháp luật Việt Nam đề cập tới.

2. Các giải pháp hoàn thiện

Các hạn chế trên tồn tại trong pháp luật Việt Nam là khó tránh khỏiC, bởi việc bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD là một lĩnh vực còn rất mới và thực sự chưa được chú trọng tại Việt Nam. Trong một thời gian dài chúng ta mới chỉ tập trung vào một số đối tượng được xem là “nóng” của quyền SHTT, như: bản quyền, nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp… còn các đối tượng khác, trong đó có BMKD hầu như không được chú ý tới. Trong giai đoạn hiện nay, xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, để bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ các cam kết quốc tế cũng như phù hợp với các điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD cần phải được hoàn thiện hơn nữa theo hướng tập trung vào một số nội dung chính sau:

2.1. Quy định cụ thể hơn về phạm vi và điều kiện bảo hộ

Học tập kinh nghiệm của các nước, pháp luật Việt Nam khi quy định về BMKD cần đưa ra các tiêu chí mang tính chuẩn mực để việc xác định đối tượng được bảo hộ thuận lợi và chính xác. Theo đó có thể quy định: “BMKD là các thông tin về khoa học kỹ thuật, về quy trình sản xuất, về tài chính hoặc các thông tin về các hoạt động sản xuất kinh doanh khác”. Khái niệm cụ thể này sẽ giúp chúng ta xác định được phạm vi các thông tin sẽ được pháp luật Việt Nam bảo hộ là BMKD một cách chính xác, tránh những tranh cãi không cần thiết như hiện nay.

Về điều kiện bảo hộ: Điều 84 Luật SHTT đã quy định các điều kiện chung đối với BMKD, tuy nhiên cần phải có hướng dẫn cụ thể về nội dung của từng điều kiện:

- Giải thích thế nào là một thông tin được xem là “bí mật”. Hiện nay pháp luật Việt Nam đã đưa ra hai tiêu chí: không phải là hiểu biết thông thường; không dễ dàng có được. Tuy nhiên, pháp luật cần chỉ rõ hai tiêu chí trên không phải áp dụng đối với mọi chủ thể mà chỉ áp dụng đối với những chủ thể là “người thường xuyên xử lý loại thông tin đó” như quy định tại Điều 39 của Hiệp định TRIPs.

- Để thể hiện được giá trị thương mại của BMKD, cần bổ sung thêm điều kiện để thông tin được bảo hộ là “có giá trị thương mại và khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ BMKD lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng BMKD đó”. Thêm nữa, pháp luật cần giải thích các “lợi thế” đó có thể có ở hiện tại hoặc tương lai với điều kiện hợp pháp.

- Cần hướng dẫn cụ thể về các bin pháp bảo mật có thể được chủ thể quyền áp dụng nhằm hạn chế các tranh cãi về việc đã có hay chưa các biện pháp bảo mật được coi là cần thiết? Kinh nghiệm của các nước là thường đưa ra một số biện pháp bảo mật mẫu mà chủ thể quyền có thể áp dụng để bảo mật các thông tin của mình.

2.2. Bổ sung thêm các quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Bổ sung vào Điều 123 Luật SHTT “quyền của chủ sở hữu đối tượng SHCN” quyền được ngăn chặn các chủ thể khác bộc lộ một cách bất hợp pháp đối tượng SHCN của mình.

Ngoài các trường hợp được nêu tại Khoản 4 Điều 124, Luật SHTT cần bổ sung thêm một số hành vi sử dụng BMKD hợp pháp khác của chủ sở hữu như: góp vốn, cầm cố, thế chấp đối với BMKD.

2.3. Quy định thời điểm chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

Xác định thời điểm chấm dứt quyền SHCN đối với BMKD là vô cùng quan trọng vì vấn đề này liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý của các bên chủ thể. Do vậy, pháp luật cần quy định cụ thể về thời điểm chấm dứt quyền SHCN đối với BMKD. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của BMKD, thời điểm chấm dứt quyền SHCN đối với BMKD sẽ rơi vào một trong các trường hợp sau: 1) Chủ sở hữu BMKD chuyển giao quyền sở hữu đối với BMKD cho chủ thể khác; 2) BMKD không đảm bảo các điều kiện để được bảo hộ theo quy định của pháp luật, ví dụ như không còn tính bí mật hoặc không còn giá trị thương mại…; 3) BMKD đã bị tiêu huỷ.

2.4. Quy định các vấn đề liên quan đến chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

Pháp luật về SHTT cần bổ sung các quy định về nghĩa vụ phải giữ bí mật đối với BMKD của Bên chuyển giao quyền và Bên được chuyển giao khi ký kết hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với BMKD (nghĩa vụ này tồn tại ngay cả khi hợp đồng đã hết hiệu lực, trừ khi các bên có thoả thuận khác). Bên nhận được chuyển giao quyền sử dụng BMKD phải chấm dứt việc sử dụng BMKD đó sau khi hợp đồng chuyển giao hết hiệu lực. Tuy nhiên, nếu BMKD đã được bên nhận chuyển giao phát triển, cải tiến, thì việc sử dụng đó là hoàn toàn hợp pháp.

2.5. Quy định các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động đối với việc quản lý, bộc lộ, khai thác bí mật kinh doanh

Để việc bảo hộ BMKD có hiệu quả, pháp luật lao động cần quy định về nghĩa vụ của người lao động đối với việc bảo mật BMKD. Người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động vẫn có nghĩa vụ giữ bí mật đối với BMKD đó (các bên có thể thoả thuận về thời gian giữ bí mật đối với BMKD sau khi hợp đồng lao động chấm dứt). Để tạo điều kiện cho người lao động có thể vận dụng những kinh nghiệm mà mình có được trong công việc cũ tại nơi làm việc mới, pháp luật nên quy định người lao động có quyền sử dụng các BMKD mà mình tạo ra trong quá trình làm việc để phục vụ cho công việc trong tương lai của họ.

2.6. Quy định trách nhiệm pháp lý của bên thứ ba trong việc bộc lộ, sử dụng, chiếm đoạt BMKD của chủ sở hữu

Pháp luật cần quy định cụ thể về quyền của chủ sở hữu BMKD trong việc ngăn chặn Bên thứ ba bộc lộ, sử dụng, chiếm đoạt BMKD một cách trái phép. Trong trường hợp này phải giải thích rõ ràng “Bên thứ ba” là như thế nào và các hành vi vi phạm BMKD từ Bên thứ ba. Nếu Bên thứ ba xâm phạm BMKD của chủ sở hữu hoặc của người kiểm soát BMKD hợp pháp, thì hành vi đó phải được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD như trên không những bảo đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam với các quy định của các điều ước quốc tế Việt Nam đã tham gia mà còn có tác dụng tích cực trong việc bảo hộ hiệu quả BMKD tại nước ta trong hiện tại cũng như trong tương lai.

(LUATMINHKHUE.VN: sưu tầm)