1. Tội phạm học và các khoa học về tội phạm

Theo đó, khoa học về tội phạm bao gồm khoa hộc luật hình sự, khoa học luật tố tụng hình sự - được gọi là khoa học về tội phạm có tính pháp lý, tội phạm học và khoa học điều tra tội phạm - được gọi là khoa học về tội phạm không có tính pháp lý hay khoa học về tội phạm mang tỉnh thực nghiệm.

Tuy cùng nghiên cứu về tội phạm nhung các khoa học về tội phạm nghiên cứu nó từ các góc độ khác nhau do đó có các đối tượng nghiên cứu chuyên sâu khác nhau.

Khoa học luật hình sự nghiên cứu tội phạm và hình phạt, bao gồm các các vấn đề cơ bản như đặc điểm chung của các hành vi bị coi là tội phạm, các dấu hiệu của từng tội phạm cụ thể, hệ thống hình phạt và hình phạt quy định cho từng tội phạm cụ thể cũng như kỹ thuật quy định tội phạm và hình phạt trong luật hình sự. Các kết quả nghiên cứu của khoa học luật hình sự phục vụ cho việc quy định của luật hình sự cũng như việc giải thích và nhận thức đúng các quy định của luật để áp dụng.

Khoa học luật tố tụng hình sự nghiên cứu các thủ tục tố tụng hình sự mà trong đó luật hình sự được áp dụng cho từng trường hợp cụ thế để xác định tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, bao gồm các vấn đề cơ bản như thấm quyền, hoạt động và các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; các biện pháp ngăn chặn; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng hình sự và trình tự tố tụng của các giai đoạn trong tố tụng hình sự. Các kết quả nghiên cứu của khoa học luật tố tụng hình sự phục vụ cho việc quy định của pháp luật tố tụng hình sự, giải thích và nhận thức đúng các quy định của pháp luật để áp dụng.

Khoa học điều tra tội phạm là khoa học về đấu tranh chống tội phạm bằng ngăn chặn và làm rõ tội phạm. Cụ thể, khoa học điều tra tội phạm nghiên cứu về các công cụ và các phương pháp ngăn chặn, phát hiện và làm rõ các hành vi phạm tội và người phạm tội. Các kết quả nghiên cứu của khoa học điều tra tội phạm phục vụ cho công tác đấu tranh chống tội phạm của cảnh sát.

Tội phạm học cũng là khoa học nghiên cứu về tội phạm nhung lại nghiên cứu về tội phạm như hiện tượng xã hội số lớn, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm mà hiện tượng này đã được luật hình sự quy định là tội phạm. Đồng thời, tội phạm học cũng nghiên cứu hiệu quả thực tế của luật hình sự với ý nghĩa là công cụ kiểm soát tội phạm, hiệu quả, tác động phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hình phạt với nghĩa là những biện pháp phản ứng đối với tội phạm, hiệu quả hoạt động và xử lý vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của luật tố tụng hình sự thể hiện phàn ứng của Nhà nước đối với tội phạm. Như vậy, tội phạm học không chỉ nghiên cứu “mặt xã hội” của luật hình sự mà cả của luật tố tụng hỉnh sự hay nói một cách khác là tội phạm học nghiên cứu “mặt xã hội” của luật hình sự về nội dung và của luật hình sự về hình thức.

Khi nghiên cứu các đối tượng của mình, tội phạm học không những phải dựa trên cơ sở các quy định của luật hình sự và luật tố tụng hình sự mà còn phải dựa trên cơ sở giải thích pháp luật của khoa học luật hình sự và khoa học luật tố tụng hình sự. Ngược lại, những kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các đối tượng nghiên cứu của tội phạm học cũng cung cấp'những thông tin, những luận cứ thực tiễn và xã hội cho khoa học luật hình sự và khoa học luật tố tụng hình sự để có thể khai thác, sử dụng trong nghiên cứu phục vụ cho việc hoàn thiện những quy định của luật hình sự và luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả kiểm, soát tội phạm và phòng ngừa tội phạm.

Thực tế đấu tranh chống tội phạm của lực lượng cảnh sát cũng thuộc về hệ thống kiểm soát tội phạm và do đó cũng thuộc đối tượng nghiên cứu của tội phạm học. Khi thực hiện nghiên cứu trong lĩnh vực này, tội phạm học phải dựa vào những tri thức khoa học của khoa học điều tra tội phạm và ngược lại, những kết quả nghiên cứu thực nghiệm của tội phạm học trong lĩnh vực này cũng sẽ được khoa học điều tra tội phạm khai thác và sử dụng phục vụ cho việc nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm của lực lượng cảnh sát.

Bên cạnh đó còn tồn tại “kênh” quan trọng thể hiện mối quan hệ giữa các khoa học về tội phạm hoặc nói cách khác là giữa tội phạm học với các khoa học khác về tội phạm. Đó là mối liên hệ của các khoa học về tội phạm với chính sách hình sự.

>> Xem thêm:  Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm như thế nào ?

Chính sách hình sự có thể được hiểu theo nghĩa hẹp, “là chính sách về tội phạm và về tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm” hay là “chính sách của nhà nước đối với đấu tranh phòng, chống tội phạm bằng biện pháp pháp luật hình sự nhằm đảm bào an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội”. Hoặc chính sách hình sự được hiểu theo nghĩa rộng, như chính sách hình sự là toàn bộ những nguyên tắc, những phương châm chỉ đạo và các biện pháp đấu tranh phòng và chống tội phạm hay chính sách hình sự được hiểu là tổng thể tất cả các biện pháp của nhà nước hướng đến việc ngăn ngừa và đấu tranh chống tội phạm nhằm bảo vệ xã hội và từng người dân. Theo nghĩa này cũng có thể suy ra rằng chính sách hình sự bao gồm chính sách kiểm soát tội phạm và chính sách phòng ngừa tội phạm.

Dù chính sách hình sự được hiểu theo nghĩa rộng hay hẹp thì khoa học luật hình sự, khoa học luật tố tụng hình sự hay khoa học điều tra tội phạm đều phải được quán triệt chỉnh sách hình sự và phục vụ cho việc thực hiện chính sách hình sự. Chính sách hình sự của nhầ nước trước hết phải được thể hiện và xuyên suốt các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, các quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan chức năng trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm cũng như phải được thực hiện trong hoạt động đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm của các cơ quan này. Cắc kết quả nghiên cứu của khoa học luật hình sự, khoa học luật tố tụng luật hình sự và khoa học điều tra tội phạm là để phục vụ cho việc thể hiện và thực hiện đúng đắn chính sách hình sự.

Còn tội phạm học với các kết quả nghiên cứu của mình phải tạo cơ sở cho việc xây dựng chính sách hình sự. Việc quyết định nội dung của chính sách hình sự và việc thực hiện chính sách hình sự (đặc biệt là chính sách phòng ngừa tội phạm) cần phải có điều kiện là sự nhận thức khách quan về tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm hiện thực và thực tế kiểm soát tội phạm hiện thực. Các kết quả nghiên cứu tội phạm học sẽ cung cấp những thông tin, những cơ sở thực tế và xã hội cho việc hoạch định và thực hiện chính sách hình sự, đặc biệt là chính sách phòng ngừa tội phạm dù ở cấp độ nào, ở cấp độ thứ nhất - phòng ngừa xa, ở cấp độ thứ hai - phòng ngừa các nguy cơ phạm tội và ở cấp độ thứ ba - phòng ngừa phạm tội lại ở người phạm tội.

2. Tội phạm học và xã hội học, tâm lý học, tâm thần học

Bên cạnh mối quan hệ với các khoa học về tội phạm, tội phạm học còn có mối quan hệ, thể hiện ở sự giao thoa tri thức với một số ngành khoa học về xã hội và con người có nghiên cứu ở phạm vi nhất định (không chủ yếu) về hiện tượng tội phạm, đặc biệt là xã hội học, tâm lý học và tâm thần học.

Xã hội học là khoa học nghiên cứu quy luật của sự nảy sinh, biến đổi và phát triển mối quan hệ giữa con người và xã hội. Để nghiên cứu được điều này xã hội học phải bắt đầu với việc nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, quá trình và thiết chế xã hội. Nếu diễn đạt một cách khái quát thì có thể coi xã hội học là khoa học nghiên cứu “mặt xã hội’' của thực tại xã hội.” Xét về cơ cấu, xã hội học bao gồm xã hội học đại cương và xã hội học chuyên ngậnh. Trong khi xã hội học đại cương nghiên cứu các quy luật và đặc điểm chung nhất của các sự kiện, hiện tượng và quá trình xã hội thì xã hội học chuyên ngành gắn lý luận xã hội học đại cương vào việc nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng và quá trình xã hội trong lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Là một trong số những xã hội học chuyên ngành, xã hội học tội phạm nghiên cứu tội phạm như hiện tượng số lớn trong đời sống của xã hội và tìm hiểu về những nguyên nhân xã hội của tội phạm bằng phương pháp quan sát số lớn thống kê.

Tâm lý học là khoa học nghiên cứu hành vi và các tiến trình tâm thần của con người. Là bộ phận của tâm lý học, tâm lý học tội phạm nghiên cứu cấu trúc tâm lý của người phạm tội, tức là nghiên cứu toàn bộ nhân thân, tính cách và mối quan hệ tâm lý của người phạm tội với hành'vi phạm tội và cụ thể là trong cả quá trình từ trước khi thực hiện, trong quá trình thực hiện và đến sau khi thực hiện hành vi phạm tội.

Tâm thần học là khoa học nghiên cứu về các bệnh tâm thần và cách điều trị. Là một bộ phận của tâm thần học, tâm thần học tội phạm nghiên cứu về các bệnh tâm thần như ỉà nguyên nhân của tội phạm.

Khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm về các đối tượng nghiên cứu của mình, bắt buộc tội phạm học phải dựa vào các ngành khoa học về xã hội và con người nêu trên bằng cách vận dụng, phát triển, liên kết các tri thức khoa học và các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học này để phân tích, giải thích về hiện tượng xã hội ỉà tội phạm, các nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm. Trong khi xã hội học, tâm lý học và tâm thần học chỉ có một bộ phận nghiên cứu từ một khía cạnh và ở phạm vi nhất định về hiện tượng tội phạm thì tội phạm học lại là khoa học nghiên cứu tổng thể và toàn diện về hiện tượng này. Nhấn mạnh mối quan hệ này đã có học giả cho rằng xã hội học tội phạm, tâm lý học tội phạm và tâm thần học tội phạm cũng là bộ phận của tội phạm học.

>> Xem thêm:  Tình hình tội phạm là gì ? Đặc điểm, ý nghĩa khi nghiên cứu tình hình tội phạm

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Phương pháp nghiên cứu của tội phạm học là gì ? Cho ví dụ ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tại sao tình hình tội phạm mang tính thay đổi về mặt lịch sử ?

Trả lời:

Có mối liên hệ với những sự thay đổi của xã hội: đạo đức, chính trị- tư tưởng, quản lý- tổ chức, khoa học - công nghệ và những điều kiện khách quan khác làm thay đổi cả về lượng và về chất tình hình tội phạm. Cùng với quá trình này sẽ diễn ra quá trình làm mất đi dạng xử sự tội phạm này và làm phát sinh dạng khác.

Câu hỏi: Tại sao thuộc tính của tội phạm lại mang tính tiêu cực ?

Trả lời:

– Có thể mói rằng các thiệt hại mà tội phạm mang lại cho xã hội là hết sức lớn: thiệt hại về con người, kinh tế. trật tự xã hội, an ninh xã hội, chính quyền quốc gia và các chủ thể bị xâm hại khác.

– Cái giá của tội phạm phản ánh qua tình hình tội phạm bao gồm cả những chi phí khổng lồ mà xã hội phải chi trả cho công tác đấu tranh phòng, chống, phục hồi công lý,hình phạt dành cho người phạm tội.

– Tình hình tội phạm bao giờ cũng mang tính xã hội bởi vì nó phản ánh các đặc tính chống đối xã hội,chống đối tập thể và các đặc điểm cá nhân khác của những người phạm tội. Nó là hiện tượng tiêu cực đối vơi xã hôi,mỗi thành viên của xã hội và chính người phạm tội.

Câu hỏi: Tại sao tình hình tội phạm lại mang tính phổ biến ?

Trả lời:

Tình hình tội phạm với tư cách là hiện tượng phổ biến chứa đựng tổng thể những hành vi phạm tội và những người thực hiện chúng trong không gian và thời gian xác định.