1. Khái quát chung về nguyên nhân tranh chấp Hợp đồng tín dụng

Nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD rất đa dạng, có thể xem xét theo nhiều tiêu thức khác nhau. Một trong những cách tiếp cận thông dụng là phân tích nguyên nhân gây ra từ phía bên cho vay, bên vay...

1.1 Nguyên nhân từ phía bên cho vay

Thông thường phía ngân hàng vi phạm nghĩa vụ giải ngân cho khách hàng như trong hợp đồng. Các TCTD không tuân thủ chế độ tín dụng và điều kiện cho vay. Đôi khi ngân hàng cho vay mà không tiến hành quy trình thẩm định theo nguyên tắc 6cs, điều mà các định chế tài chính quốc tế luôn cảnh báo là: 6cs tính cách người vay character), năng lực trả nợ  capacity), dòng tiền  mặt cash follow), tài sản thế chấp collaral), các điều kiện môi trường conditions), sự kiểm soát control), mà ngân hàng lại dựa vào nhận định của các nhân viên của mình. Trên thực tế, khi tiến hành thẩm định bên cho vay không thể kiểm tra được bên vay có thông qua một TCTD đen nào hay không.
Ở Việt Nam, ngân hàng chưa có chính sách hợp lý và quy trình cho vay hiệu quả, cơ chế phân tích và quản lý rủi ro còn hạn chế. Việc đánh giá biện pháp bảo đảm tiền vay còn hạn chế, chưa phân tích, đánh giá các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay. TCTD đánh giá về biện pháp bảo đảm tiền vay còn dựa vào tài liệu do bên vay xuất trình mà chưa có sự kiểm tra thực tiễn. Trình độ thẩm định của nhân viên ngân hàng còn chưa cao, nên có những sai xót và thiếu chặc chẽ - kết quả thẩm định chưa đạt yêu cầu.
Mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng còn hạn chế - trong thực tế bên ngân hàng không nắm rõ ràng các thông tin chính xác về khách hàng, không biết chính xác là khách hàng vay vốn và có sử dụng vốn vay đúng mục đích trong hợp đồng hay không. Một số nhân viên ngân hàng còn thiếu phẩm chất đạo đức cũng như thiếu năng lực nên trong việc cho vay có đảm bảo nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp mà bên vay vẫn được giữ cả giấy tờ gốc chứng minh tài sản thế chấp của mình. Điều này dẫn đến có thể bên vay lại đem bán tài sản đã thế chấp ở ngân hàng cho người thứ ba. Lúc này ngân hàng và người thứ ba có sự tranh chấp về quyền tài sản – tài sản đã được thế chấp bằng danh nghĩa ở ngân hàng.
Thông qua phân tích trên ta nhận thấy, ngân hàng cần tuân thủ nghiêm túc quy trình, điều kiện cho vay, các quy định của pháp luật liên quan, cần nâng cao hơn nữa đội ngũ nhân viên ngân hàng, xây dựng và nâng cao hệ thống thông tin tín dụng, có biện pháp để kiểm tra, giám sát hữu hiệu các hoạt động của bên vay theo những cam kết trong hợp đồng.

1.2 Nguyên nhân từ phía bên vay

Những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp HĐTD do người vay như: Bên vay không đảm bảo nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ của mình. Thông thường do hai nguyên nhân: nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Nguyên nhân khách quan: là những nguyên nhân tác động ngoài ý chí, tầm kiểm soát của khách hàng như: do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh tế, do thiên tai, hoả hoạn, điều chỉnh quy hoạch, do thị trường biến động, quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi … làm cho hoạt động của bên vay không thực hiện như kế hoạch đề ra.
Nguyên nhân chủ quan: Cá nhân vay vốn không nắm được thông tin cần thiết về kế hoạch đầu tư, sản xuất khi vay vốn – dẫn đến tình trạng vay vốn về đầu tư không có hiệu quả. Có thể là do vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không đáp ứng nhu cầu, năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và thông tin về các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, công nghệ chưa được cải thiện nên sản phẩm tạo ra chưa có tính cạnh tranh cao, hiệu quả kinh doanh kém, hậu quả là doanh nghiệp thua l lâm vào tình trạng phá sản. Cũng có trường hợp do bên vay cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật ngay từ khi vay vốn nên khi về đầu tư hay sử dụng vào mục đích của mình không có hiệu quả.
Nguyên nhân nữa là do bên vay còn thiếu hiểu biết về pháp luật, trình độ hiểu biết của bên vay còn hạn chế về những kiến thức pháp luật liên quan. Có trường hợp bên vay ký hợp đồng trong khi bản thân không hiểu rõ về pháp luật, nên khả năng xảy ra những bất lợi cho mình là rất lớn.

2. Các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh  từ  Hợp  đồng tín dụng

Để bảo đảm quyền lợi của các chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp HĐTD  nên  việc  giải  quyết  tranh chấp này đòi hỏi phải đạt được các yêu cầu sau:

- Tranh chấp phải được giải quyết  một  cách  kịp  thời,  phải đảm bảo nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro và có thể tận dụng được những  cơ hội  kinh  doanh  mới cho các chủ thể tham gia tranh chấp.

- Thứ hai, trong quá trình giải quyết tranh chấp phải bảo đảm giữ được    bí mật  của hoạt  động  kinh doanh  cũng như uy tín của các bên  trong quan  hệ tranh chấp. Bởi vì, các bên còn nhiều đối tác quan hệ kinh doanh khác.
- Thứ ba, quá trình giải quyết phải đảm bảo tính dân chủ và quyền tự   định đoạt của các bên với chi phí giải quyết thấp.
Pháp luật hiện hành quy định các phương thức giải quyết tranh chấp  phát   sinh   từ   HĐTD   cụ   thể   như:   thương   lượng,   hòa   giải,   trọng    tài và Tòa án.

2.1 Thương lượng

Phương thức thương lượng là phương thức được các bên tranh chấp    lựa chọn trước tiên và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp phát sinh từ HĐTD được giải quyết bằng phương thức này. Thông qua phương thức này, các bên tranh chấp c ng nhau bàn bạc, tự tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại b tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào.
Phương pháp thương lượng là phương thức được các bên tiến hành đầu tiên bởi các ưu điểm của nó như: thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, linh hoạt, ít tốn kém về thời gian, về tiền bạc, không ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp, đảm bảo bí mật, uy tín của các bên. Nếu thương lượng thành công thì ít gây phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên thậm chí còn được tăng cường về sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi kết thúc cuộc thương lượng.
Tuy vậy, bên cạnh các ưu điểm trên, thương lượng cũng có những nhược điểm như: thương lượng thành công phụ thuộc vào các bên có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp. Nếu bên vay muốn d ng hình thức thương lượng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thì thương lượng chỉ làm tốn kém và kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp hơn. Sự thực thi kết quả thương lượng phụ thuộc vào ý chí tự nguyện thi hành của các bên tham gia. Cũng chính vì, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng không bị ràng buộc bởi bất kỳ các cơ chế pháp lý nào nên kết quả thương lượng cũng không được bảo đảm bởi bất kỳ cơ chế pháp lý nào dẫn đến tính bắt buộc thực hiện không cao. Mặt khác, hình thức giải quyết khép kín, không công khai đôi khi lại nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật.

2.2 Hoà giải

Hoà giải là các bên tranh chấp c ng nhau bàn bạc, th a thuận để giải quyết các vấn đề tranh  chấp  nhưng  khác là hoà giải  có  sự  h  trợ  của bên thứ ba là hòa giải viên. Hòa giải  có  ưu điểm như:  thủ  tục, thời gian, địa  điểm hoà giải có thể được th a  thuận  và  điều  chỉnh  do  các bên  tham gia giải quyết tranh chấp, các bên có quyền tự  định  đoạt,  lựa  chọn  bất  kỳ  người nào làm trung gian hòa giải. Hòa giải mang tính  thân mật  nhằm tiếp  tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì lợi ích của cả hai    bên. Trong hòa giải, các bên tranh chấp có thể nói chuyện, trao đổi, đàm    phán và thảo luận về các giải pháp trong toàn bộ quá trình. Quá trình hòa     giải tạo cơ hội cho m i bên bày  t  quan  điểm  của  mình  về  tranh  chấp, không dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng thua như quá trình kiện tụng tại      Tòa án, duy trì được mối quan hệ vốn có của các bên. Do hòa giải xuất phát   từ sự tự nguyện  tham gia  và tự do  th  a thuận  của  các bên,  nên  nội  dung  th  a thuận luôn hướng tới lợi ích của tất cả các bên. Mặt khác, là khi giải  quyết bằng con đường này các bên kiểm soát được những bí mật của  mình  bởi phiên họp hòa giải được tổ chức kín, trong khi giải quyết tại  Tòa án thì  các yêu cầu này không được đảm bảo do Tòa án thực hiện  xét  xử  theo nguyên tắc công khai. Bên cạnh những ưa điểm trên, giải quyết tranh chấp HĐTD   bằng   phương   pháp   hòa   giải   vẫn   còn   tồn    tại    những    nhược điểm nhất định: việc hòa giải có được  tiến  hành  hay  không  phụ  thuộc vào sự nhất trí của các bên, hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết  định ràng buộc hay áp  đặt bất  cứ vấn  đề gì  đối  với các bên tranh  chấp th a thuận hòa giải, không có tính bắt buộc thi hành như phán quyết của Trọng tài thương  mại hay của  Tòa án. Các th  a thuận, cam kết từ kết   quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện  của  các bên.  Vì vậy,  phương pháp  này ít được sử dụng nếu các bên không có sự tin tưởng với nhau.

2.3 Trọng tài thương mại

Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại cho thấy có một số ưu điểm sau:
Thứ nhất, phương pháp trọng tài thương mại trong giải quyết tranh   chấp có nguyên tắc xử kín nếu các bên không có th a thuận khác.
Thứ hai, quyết định của Trọng tài  thương  mại  là chung  thẩm và vì  vậy nó có giá trị bắt buộc đối với các bên,  các bên không có quyền chống     án hay kháng cáo.
Thứ ba, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thể hiện tính năng động, linh hoạt và mềm dẻo, tạo quyền chủ động cho các bên về địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp, tiết kiệm được  thời  gian  c  thể rút  ngắn thủ tục tố tụng trọng tài.
Thứ tư, giải quyết trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các  bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh     chấp cho mình.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, phương pháp giải quyết  tranh  chấp  bằng  trọng tài có những nhược điểm đáng  kể  như  là:  Quyết  định  trọng  tài thương mại không có tính cưỡng chế cao như quyết định của  Tòa án; việc     thi hành quyết định trọng tài thương mại  không  phải  lúc  nào  cũng  trôi  chảy, thuận lợi như việc thi hành bản án mà  phụ thuộc chủ  yếu vào thiện     chí và sự hợp tác giải quyết của các  bên.  Giải  quyết  bằng  phương  thức trọng tài đòi h  i chi phí tương đối cao, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì     phí trọng tài càng cao.

2.4 Giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án

Phương  thức   giải   quyết   tranh   chấp   HĐTD   tại   Tòa   án   là   hình thức cuối c ng mà các bên lựa chọn để  giải  quyết  tranh  chấp  khi  không còn lựa chọn nào khác. Việc đưa tranh chấp ra xét xử tại Tòa án có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những nhược  điểm nhất định. Ưu điểm của  hình thức giải quyết tranh chấp thông qua Tòa  án  là: đặc trưng  cơ bản  của thủ tục giải quyết tranh chấp bằng  Tòa án là thông qua hoạt động của bộ    máy tư pháp và nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc   các bên có nghĩa vụ thi hành. Vì vậy, quyết định của Tòa án có  tính cưỡng  chế cao, quyền lợi của người thắng kiện  sẽ  được  đảm  bảo  nếu  như  bên thua kiện có  tài sản để thi hành  án.  So với phương thức trọng tài  thương  mại, việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án được thực hiện theo nguyên tắc chế độ xét xử  sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm hai cấp xét xử, nhờ vậy      mà những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp có khả năng được     phát hiện, khắc phục đảm bảo quyền lợi chính đáng của  các bên  tham gia.  Chi phí giải quyết tranh chấp bằng Tòa án ít hơn nhiều so với chi phí giải  quyết tranh chấp  bằng trọng tài thương  mại. Tuy vậy, việc lựa chọn  hình  thức  giải  quyết  tranh  chấp   phát   sinh   từ   HĐTD   bằng   con   đường   Tòa án cũng có những nhược điểm nhất  định  so  với  các hình  thức khác  như: thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án thường dài hơn so với   giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương  mại.  Hơn  nữa, nguyên  tắc xét  xử công khai tại Tòa án có thể làm sụt giảm uy tín của các bên trên thương trường; tiết lộ các bí mật kinh doanh cản trở hoạt động đối với các chủ  thể  bên vay là doanh nghiệp. Ngoài ra, bản án xét xử xong chưa được thi hành ngay mà các bên có quyền kháng cáo, khiếu nại nên thời gian kéo dài ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của các bên tranh chấp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê