1. Sử dụng dưới 10 lao động có phải tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động ?

Câu hỏi: Thưa luật sư, tôi nghe nói nếu cơ sở sản xuất có dưới 10 lao động thì không phải tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động có phải không ?

Trả lời:

Quy định “cơ sở sản xuất hay chính xác hơn là Doanh nghiệp có dưới 10 lao động thì không bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội là quy định từ Bộ luật Lao động cũ năm 1994 và đã bị bãi bỏ từ Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2002. Hiện hành là Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động của doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị có sử dụng lao động như sau:

Điều 168. Tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp

1. Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; người lao động được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

Khuyến khích người sử dụng lao động, người lao động tham gia các hình thức bảo hiểm khác đối với người lao động.

Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 cũng quy định về đối tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội gồm có:

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

Như vậy, khi cá nhân hoặc doanh nghiệp, đơn vị có sử dụng lao động thuộc các đối tượng nêu trên đều phải thực hiện trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động và hoàn thành nghĩa vụ đóng quỹ bảo hiểm xã hội trong phạm vi trách nhiệm, nghĩa vụ của người sử dụng lao động.

2. Có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sau khi nghỉ việc được không ?

Câu hỏi: Thưa luật sư, tôi sắp nghỉ việc sau 10 năm làm việc ở công ty hiện tại. Tôi không muốn bỏ phí quãng thời gian đã đóng BHXH cũng như không muốn chấm dứt giữa chừng. Vậy tôi có thể làm cách nào để có thể đảm bảo thời gian tham gia BHXH tốt nhất như tham gia bảo hiểm tự nguyện vì tôi vẫn muốn được hưởng lương hưu sau này. Mong luật sư tư vấn cho tôi!

Trả lời:

Trường hợp của bạn không muốn rút bảo hiểm xã hội một lần, và cũng chưa đủ số năm đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu nên nếu bạn vẫn muốn đóng tiếp bảo hiểm để hưởng lương hưu khi đủ điều kiện thì ban nên tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Khi chuyển từ bảo hiểm xã hội bắt buộc sang bảo hiểm xã hội tự nguyện thì thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đan xen với thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì thời gian tính để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội là tổng thời gian tham gia của cả 2 loại bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện. Theo khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì đều có thể tham gia BHXH tự nguyện. Chúng tôi xin cung cấp cho bạn một số thông tin để thuận lợi cho việc bạn tham khảo có nên tham gia bảo hiếm xã hội tự nguyện hay không

Về mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện:

- Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động.

- Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

- Mức đóng BHXH tự nguyện bằng 22% mức thu nhập do mình lựa chọn ( theo khoản 1 Điều 87 Luật Bảo hiểm xã hội 2014). Mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn. Theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 thì từ ngày 01/01/2021 tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ; theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg thì mức chuẩn nghèo tại khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở.

Phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện: Bạn có thể lựa chọn các phương thức đóng sau:

- Đóng hàng tháng;

- Đóng 03 tháng một lần;

- Đóng 06 tháng một lần;

- Đóng 12 tháng một lần;

- Đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 05 năm một lần;

- Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người đã đủ tuổi hưởng lương hưu nhưng thời gian đóng còn thiếu không quá 10 năm.

Các chế độ được hưởng:

Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ được hưởng các chế độ sau: chế độ hưu trí và trợ cấp tuất.

3. Vợ chồng có được cùng nghỉ việc để chăm con ốm ?

Câu hỏi: Thưa luật sư! Vợ chồng chúng tôi là viên chức nhà nước, đều tham giao bảo hiểm xã hội đầy đủ. Hiên nay con tôi đang bị ốm, vợ chồng tôi muốn cùng nghỉ để chăm con có được không? Kế toán trường tôi nói chỉ được một trong hai người nghỉ. Nếu muốn cùng nghỉ thì không được chỉ được nghỉ luân phiên. Luật sư hồi âm sớm giúp tôi! Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Với câu hỏi của bạn, chúng tôi đang chưa rõ bạn hỏi việc nghỉ chăm con ốm theo chế độ bảo hiểm xã hội hay trường hợp nghỉ việc riêng theo quy định của Bộ luật lao động? Vậy chúng tôi sẽ trả lời theo cả hai phương hướng.

Thứ nhất là nghỉ chế độ con ốm theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội. Trường hợp cả vợ và chồng muốn cùng nghỉ chăm con ốm theo chế độ thì phải đáp ứng điều kiện là con dưới 7 tuổi bị ốm. Nếu con trên 7 tuổi thì không áp dụng nữa. Giả sử con bạn dưới 7 tuổi. Nếu hai vợ chồng muốn cùng nghỉ để chăm con hoàn toàn được. Cụ thể, khoản c Điều 5 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội bắt buộc thì thời gian hưởng chế độ khi con đau ốm được tính như sau:

“Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, cùng nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau thì cả cha và mẹ đều được giải quyết hưởng chế độ khi con ốm đau; thời gian tối đa hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm của người cha hoặc người mẹ cho mỗi con theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội”.

Như vậy, hai vợ chồng bạn đều có thể làm hồ sơ hưởng chế độ con ốm đau và cùng có thể nghỉ chăm con ốm nếu đáp ứng đủ điều kiện về độ tuổi của con.

Thứ hai là nghỉ việc riêng theo quy định bộ luật lao động. Theo quy định của Bộ luật Lao động, con ốm không phải là trường hợp nghỉ việc riêng có hưởng lương. Nên nếu muốn nghỉ chăm con, hai vợ chồng có thể làm đơn xin nghỉ phép năm hoặc xin nghỉ việc riêng không hưởng lương.

4. Có được giải quyết chế độ thai sản đối với thời gian nghỉ trước sinh ?

Câu hỏi: Thưa Luật sư, do sức khoẻ vợ tôi yếu nên đã quyết định nghỉ việc trước sinh 01 tháng. Tình hình kinh tế hai vợ chồng hơi khó khăn, chúng tôi có thể xin ứng trước chế độ thai sản được không? Tôi nghe vài người bạn mách có thể ứng trước hai tháng tiền thai sản phải không?

Trả lời:

Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ sinh con như sau:

1. Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.

Từ quy định trên, thời gian nghỉ thai sản với lao động nữ là 06 tháng gồm cả thời gian trước và sau khi sinh con và thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước sinh là tối đa không quá 02 tháng. Do vậy, vợ bạn hoàn toàn có thể nghỉ chế độ thai sản trước khi sinh con 01 tháng, thời gian nghỉ sau sinh sẽ trừ đi khoảng thời gian nghỉ trước khi sinh. Tuy nhiên, tiền thai sản thì chỉ có thể đợi tới khi vợ bạn sinh mới có thể nộp đủ hồ sơ để được hưởng chế độ thai sản.

5. Các biện pháp xử lý các trường hợp gian lận bảo hiểm xã hội nhằm trục lợi ?

Hiện nay, các thủ đoạn gian lận để trục lợi bảo hiểm xã hội thường thấy là gian dối tình trạng thai sản để đóng bảo hiểm xã hội, lập khống, giả mạo hồ sơ bảo hiểm, hợp thức hóa những tai nạn lao động không thuộc diện được coi là tai nạn lao động để hưởng trợ cấp hoặc thu gom sổ bảo hiểm xã hội của người tham gia bảo hiểm xã hội đã nghỉ việc nhưng chưa nhận lại sổ hoặc không nhận lại sổ sau đó lập hồ sơ khống, chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội,… càng ngày càng có nhiều hành vi biến tướng trái phép liên quan tới bảo hiểm xã hội nhằm trục lợi. Các đối tượng thực hiện những hành vi này, tuỳ theo mức độ vi phạm và tính chất nguy hiểm cũng như giá trị của số tiền bảo hiểm trục lợi có thể bị xử lý hành chính hoặc trách nhiệm hình sự và chế tài bồi thường dân sự theo quy định.

Các chế tài hành chính liên quan tới xử phạt các hành vi vi phạm về bảo hiểm xã hội được quy định tại Nghị định 28/2020/NĐ-CP, trong đó, hành vi trục lợi bảo hiểm xã hội bị xử lý như sau:

Điều 39. Vi phạm quy định về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người lao động có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa làm sai sự thật những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

...

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để trục lợi chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mỗi hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp làm giả, làm sai lệch nội dung.

Các chế tài hình sự: Hành vi gian lận để thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội có thể bị xử lý hình sự về các tội: Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 214), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự, Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341).

Bên cạnh đó, người vi phạm còn bị phạt tiền, buộc phải nộp lại số tiền gian lận và bồi thường thiệt hại cho người bị hại (nếu có).

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ  Luật sư tư vấn pháp luật Bảo hiểm xã hội, gọi:  1900.6162  để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Bảo hiểm xã hội - Công ty luật Minh Khuê