1. Người làm chứng và vị trí pháp lý của họ

- Người làm chứng là người biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án hình sự, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai theo đúng Luật TTHS quy định. 
 + Biết được: có thể trực tiếp tri giác một phần hay toàn bộ sự kiện hoặc nghe người khác nói lại, kể lại.
+ Những người không được làm chứng: người bào chữa của bị can bị cáo, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần mà không có khả năng nhận thức được tình tiết vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.
- Vị trí pháp lý: 
+ Họ tham gia TTHS với tư cách thực hiện nghĩa vụ công dân, không có mối quan hệ nhân quả với tội phạm. Họ phải có nghĩa vụ khai báo trung thực, nếu khai báo gian dối; trốn tránh khai báo hoặc từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng; thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307, 308 BLHS. Song thực tế từ trước đến nay chưa khởi tố vụ án nào vì lý do trên do đó nó chi phối rất lớn đến hành vi hợp tác hay không hợp tác của người biết được vụ việc.  
+ Lời khai của người làm chứng là một nguồn chứng cứ quan trọng
Vị trí pháp lý trên là yếu tố ảnh hưởng tới lời khai của người làm chứng. Để thực hiện tốt nhiệm vụ lấy lời khai của người làm chứng (Thu được lời khai đầy đủ, chính xác, khách quan từ người làm chứng về tình tiết vụ án và bị can của vụ án đó mà họ biết; phát hiện tài liệu mới, tình tiết mới để phục vụ cho việc mở rộng công tác điều tra và phòng ngừa tội phạm), đòi hỏi phải nắm được động cơ kìm hãm và thúc đẩy hành động khai báo; vận dụng những tác động tâm lý phù hợp trong quá trình lấy lời khai của họ.

2. Những động cơ kìm hãm và thúc đẩy hành động khai báo của người làm chứng

2.1 Những động cơ kìm hãm hành động khai báo của người làm chứng

- Sợ bị trả thù;
- Sợ mất thời gian gắn với nó là giảm thu nhập, nghỉ ngơi giải trí và các nhu cầu khác của con người;
- Không có thiện cảm với công an vì lý do nào đó;
- Do có mối quan hệ đặc biệt với kẻ phạm tội hoặc hành vi phạm tội;
- Sợ gây thù chuốc oán theo quan niệm của đạo Phật.

2.2 Những động cơ thúc đẩy hành động khai báo của người làm chứng

 -  Người làm chứng có động cơ đúng đắn: Do nhận thức đúng về nghĩa vụ công dân, có mong muốn góp phần làm rõ sự thật vụ án, bảo vệ trật tự xã hội hoặc có sự giác ngộ sau khi được cán bộ điều tra giải thích, tác động.  
- Người làm chứng muốn tỏ “sự quan trọng” của mình: Trong một số trường hợp, người làm chứng tỏ ra tích cực quá mức. Tự nguyện xin làm nhân chứng không phải xuất phát từ sự giác ngộ về nghĩa vụ công dân mà do tính cách của họ. Trong những trường hợp này, người làm chứng thường chủ động tích cực khai báo quá chi tiết, tỉ mỉ và có sự điều chỉnh các tình tiết hợp lý theo lôgíc của họ. Lời khai luôn kèm theo (hoặc lồng trong đó) ý kiến bình luận đánh giá và những thông tin này bị biến dạng nhiều theo sự chế  biến của họ.  
- Người làm chứng muốn tỏ ra thành khẩn, muốn “lập công chuộc tội”. Trong nhiều trường hợp, cơ quan điều tra phải sử dụng những người là phạm nhân của vụ án khác hoặc những người có liên quan đến vụ án nhưng chưa bị khởi tố làm người làm chứng cho vụ án. Trong những trường hợp này, người làm chứng thường tích cực khai báo và muốn thông qua lời khai để tỏ ra thành khẩn, muốn “lập công chuộc tội” và do đó, lời khai của họ cũng thường phóng đại sự thật, chế biến và bịa đặt thêm các tình tiết cho hợp lý.  

2.3 Tác động tâm lý trong lấy lời khai của người làm chứng

2.3.1 Tác động trong lấy lời khai của người làm chứng nói chung  

Thực chất lấy lời khai của người làm chứng dưới góc độ tâm lý học là quá trình cán bộ điều tra tiến hành giao tiếp trực tiếp với người làm chứng theo quy định của Luật TTHS nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của họ phục vụ cho điều tra, xử lý và phòng ngừa tội phạm (Lời khai bao gồm: tình tiết, diễn biến vụ án; đặc điểm nhân thân bị can, người bị hại và những vấn đề khác; mối quan hệ của họ với đối tượng nhằm bước đầu kiểm tra, đánh giá thông tin do họ cung cấp. Luật TTHS quy định: Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ không nói rõ vì sao biết được tình tiết ấy).
=> Muốn đạt kết quả trong lấy lời khai của người làm chứng cần sử dụng những tác động tâm lý cho phù hợp.  
- Tạo ra bầu không khí tâm lý lên án tội phạm để khuyến khích tự giác của người biết việc và sàng lọc những người có khả năng biết việc.
-  Chú ý hình thức mời gọi, địa điểm, thời gian thuận lợi cho NLC; tác phong chỉnh tề, gọn gàng, lịch sự, tuỳ theo đối tượng có thể mặc cảnh phục hoặc dân sự; không nên lấy lời khai ngay mà nên hỏi thăm họ về cuộc sống trên cơ sở những ưu điểm của họ.
- Trong quá trình NLC tự kể hoặc tự viết thì cán bộ điều tra phải tỏ ra chăm chú, không gây tiếng động bất thường, tuyệt đối không nên ngắt lời hay thúc giục họ khai báo, nói chuyện hay tự do đi lại.
- Khi họ kết thúc việc tự khai, cán bộ điều tra có thể đặt câu hỏi để kiểm tra lại và làm chính xác lời khai thì câu hỏi dễ hiểu, giọng hỏi và thái độ phải đúng mức, không gay gắt, xô đẩy họ.
- Bằng kinh nghiệm sống, nghề nghiệp và tài liệu đã thu thập được để đánh giá sơ bộ lời khai (đúng, nhầm lẫn hay gian dối). 
+ Nếu khai báo nhầm lẫn thì dùng quy luật liên tưởng của trí nhớ
+ Nếu khai báo gian dối thì phải tìm hiểu động cơ cụ thể nào và luôn ghi nhớ: Lập trường khai báo gian dối của họ không bền vững => Vì vậy phải tích cực sử dụng phương pháp thuyết phục, sử dụng chứng cứ để thuyết phục họ: Chưa nói hết sự thật. Nếu họ vẫn ngoan cố (phần đông thường là loại người liên quan đến tội phạm hay có quan hệ xã hội quan hệ gia đình thân thuộc với bị can hoặc họ là người đã bị kết án ở vụ án khác) thì cán bộ điều tra nhắc nghĩa vụ pháp luật, hậu quả của lời khai gian dối đối với chính bản thân họ, sử dụng mâu thuẫn, lời khai của người làm chứng khác để đấu tranh vạch trần thái độ ngoan cố của họ.

2.3.2 Tác động tâm lý trong lấy lời khai của người làm chứng là người chưa thành niên

- Do đặc điểm lứa tuổi và ít va chạm, giao tiếp với các chủ thể xã hội khác nhau chưa nhiều => nên mặc dân sự, lấy lời khai ở nơi họ quen biết, không nên kéo dài thời gian theo kiểu một lúc cho xong.
- Dù lời khai của họ có sự sai sự thật do gian dối thì phải thuyết phục trên cơ sở tìm hiểu động cơ (vì các em rất dễ chuyển đổi động cơ); có thể dùng liệu pháp kích tướng trên cơ sở nhu cầu tự khẳng định rất lớn của lứa tuổi này. 
- Phương pháp lấy lời khai phải nhẹ nhàng, động viên khích lệ, tỏ rõ bậc cha chú rất cần sự giúp đỡ của các cháu; tuyệt đối không đe doạ hoặc mớm để các em nói theo ý muốn của cán bộ điều tra.
- Do tâm lý lứa tuổi các em thường dễ bị kích động, tình cảm lời nói không vững vàng, tâm trạng dễ thay đổi, khi biết được vụ việc thường hay kể lại cho người khác.... vì vậy khi các em trình bày xong, cán bộ điều tra cần hỏi các em đã kể lại việc này cho ai nghe và những người đó đã nói gì với các em; điều này để xác định em đã khai những gì theo trình tự tri giác và những gì là lời của người khác.
- NLC là trẻ em khi tham gia tố tụng không có sự ràng buộc của pháp luật về nghĩa vụ, khi lấy lời khai cần có người giám hộ => Do vậy, nên mời những người được các em kính trọng và tin cậy thì sẽ thu được lời khai nhanh chóng, đầy đủ và chính xác.

3. Tác động tâm lý trong lấy lời khai của người bị hại

3.1 Người bị hại và vị trí pháp lý của họ

- Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội gây ra.  
- Vị trí pháp lý:
+ Họ thường biết những tin tức tài liệu làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, vạch giả thuyết điều tra, truy bắt kẻ phạm tội theo dấu vết nóng, khởi tố bị can, tạo ra các khả năng khác để điều tra, khám phá vụ án.
+  Là người có lợi ích hợp pháp phải được giải quyết: Họ được quyền yêu cầu bồi thường thoả đáng và các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải có trách nhiệm làm sáng tỏ tất cả các tình tiết của vụ án có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.
+ Người bị hại được pháp luật qui định quyền tố tụng hình sự rất rộng rãi để bảo đảm cho họ bảo vệ lợi ích của mình trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; đồng thời tạo điều kiện để họ tích cực góp phần đấu tranh chống tội phạm. Họ có thể khai báo với cán bộ điều tra bất cứ lúc nào, đồng thời họ cũng phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, VKS, TA, nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu TNHS.
+ Lời khai của họ là nguồn chứng cứ quan trọng.

3.2 Một số đặc điểm tâm lý của người bị hại có ý nghĩa trong quá trình lấy lời khai của họ

Người bị hại có thể xuất hiện một trong những hiện tượng tâm lý sau:
-  Kết quả tri giác thường không phản ánh đầy đủ, chính xác sự kiện đã xảy ra: Phóng đại sự kiện, không bao quát toàn bộ - chỉ nhìn thấy chân mà không thấy voi. Đây là đặc điểm tâm lý khá phổ biến do họ tri giác trong điều kiện không thuận lợi cả xét cả về phía khách quan lẫn chủ quan.
- Có thể rơi vào trạng thái tâm lý hoảng loạn, sợ hãi: Trạng thái này thường thấy trong  các vụ án cướp, giết người, cưỡng đoạt tài sản, hiếp dâm hoặc sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì kẻ phạm tội tiếp tục đe doạ người bị hại.
- Có thể rơi vào trạng thái đau khổ thất vọng. Thể hiện họ thường chậm chạp, tỏ ra chán nản, mệt mỏi, tham gia thiếu tích cực vào quá trình điều tra. Nguyên nhân do hậu quả của hành vi phạm tội đã đẩy họ vào tình thế khó khăn trong cuộc sống.
- Trạng thái tức giận, căm thù, mong muốn nhanh chóng khám phá tội phạm, được bù đắp thiệt hại... nên một số người bị hại thường phóng đại, thậm chí thêm thắt các tình tiết với động cơ thúc đẩy cơ quan chức năng sớm vào cuộc.
- Có thể xuất hiện mâu thuẫn trong tâm lý của người bị hại: mong muốn được bù đắp thiệt hại, nhanh chóng tìm ra và trừng phạt nặng kẻ phạm tội nhưng lại từ chối khai báo hoặc không muốn khai báo trung thực, đầy đủ sự kiện đã xảy ra đối với mình. Điều này do người bị hại mong muốn bảo vệ lợi ích nào đó của cá nhân (bảo vệ bí mật đời tư, quan hệ; hoặc kẻ phạm tội là người thân hoặc đối tượng bị xâm hại là tài sản bất hợp pháp, sợ trả thù...)
- Có thể có hiểu biết khá đầy đủ về nguyên nhân, tình tiết dẫn tới vụ việc,     (nhất là khi họ có thời gian giao tiếp, trực tiếp tri giác kẻ phạm tội trước đó) và có ấn tượng sâu sắc về sự kiện, đặc điểm nào đó liên quan tới hành vi phạm tội. 

4. Tác động tâm lý trong lấy lời khai của người bị hại

Tác động tâm lý trong lấy lời khai của người bị hại là một yếu tố đảm bảo cho việc lấy lời khai của họ đạt kết quả tốt. Thực chất là tạo mối quan hệ tin cậy lẫn nhau giữa cán bộ điều tra và người bị hại, tạo ra điều kiện tối ưu để họ có thể trình bày đầy đủ, chính xác, nhanh chóng, kịp thời những điều bản thân họ biết về vụ án.
- Hình thức, thời gian, địa điểm, phương tiện để lấy lời khai tuỳ thuộc vào tình huống, điều kiện của người bị hại và yêu cầu của cuộc điều tra: cán bộ điều tra phải quan tâm đến tình trạng sức khoẻ, trạng thái tâm lý hiện tại, tạo điều kiện tối ưu cho lao động, học tập, kinh tế, phương tiện đi lại của người bị hại.
-  Tìm hiểu đặc điểm nhân thân để tìm hiểu những đặc điểm tâm lý và đặc điểm khác có liên quan tới lấy lời khai để có đối sách thích hợp.
- Tác phong, thái độ luôn đúng mực, cần để lại ấn tượng tốt ngay từ buổi lấy lời khai đầu tiên.
- Khi tiến hành khai thác thông tin có thể lựa chọn hình thức phù hợp (để họ kể tự do, viết bản tự khai hoặc đặt câu hỏi để họ trình bày), hướng vào các vấn đề chính nhằm duy trì sự hưng phấn trong toàn bộ quá trình đó để đạt được yêu cầu điều tra đặt ra: mối quan hệ người bị hại với kẻ phạm tội, những tình tiết liên quan tới vụ án (đặc biệt là tài liệu làm căn cứ để khởi tố vụ án, khởi tố bị can, vật chứng, ngăn chặn hậu quả tiếp tục có thể xảy ra...); yêu cầu của người bị hại đối với việc giải quyết vụ án và bồi thường thiệt hại. 
- Sử dụng phương pháp thuyết phục là cơ bản.
- Cần phát hiện sự khác nhau giữa các lần khai về thái độ, lời khai và nguyên nhân của nó để có biện pháp thích hợp trong quá trình lấy lời khai của họ trên cơ sở đối chiếu xem xét những vụ việc chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. 
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê