1. Quy định về các loại nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước?

Theo quy định tại Điều 80 của Luật Nhà ở năm 2014, các loại nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước được phân loại và mô tả như sau:

- Nhà ở công vụ do Nhà nước đầu tư xây dựng hoặc mua bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước hoặc được xác lập thuộc sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật. Những căn nhà này thường được sử dụng để cung cấp chỗ ở cho các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và nhân viên của các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống hành chính nhà nước. Việc xây dựng và quản lý nhà ở công vụ tuân thủ các quy định về kiến trúc, an toàn, vệ sinh và sử dụng đúng mục đích.

- Nhà ở để phục vụ tái định cư do Nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn hoặc theo các hình thức quy định tại khoản 3 của Điều 36 trong Luật Nhà ở. Loại nhà này là những căn hộ, nhà ở được xây dựng để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi, tái định cư của những hộ dân, cá nhân bị thu hồi đất, di dời do các dự án phát triển, xây dựng công trình công cộng, khu đô thị mới hoặc các mục tiêu quốc phòng, an ninh.

- Nhà ở xã hội do Nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn hoặc theo các hình thức quy định tại khoản 1 của Điều 53 trong Luật Nhà ở. Đây là những căn hộ, nhà ở được xây dựng và cung cấp cho các đối tượng có điều kiện kinh tế khó khăn, thuộc các nhóm như công nhân, viên chức, lao động, sinh viên, người cao tuổi, người tàn tật và các đối tượng khác được xác định bởi Nhà nước. Mục đích của nhà ở xã hội là đảm bảo cho những người có thu nhập thấp hoặc khó khăn có một nơi ở ổn định, an toàn và tiện nghi.

- Nhà ở cũ được đầu tư xây dựng bằng vốn từ ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ vốn ngân sách nhà nước hoặc được xác lập thuộc sở hữu của Nhà nước, và đang cho hộ gia đình, cá nhân thuê theo quy định của pháp luật về nhà ở. Những căn nhà này thường đã qua sử dụng và có thể được sửa chữa, cải tạo để phục vụ mục đích cho thuê nhà ở cho những người dân có nhu cầu.

 

2. Trường hợp nào nhà ở thuộc sở hữu nhà nước bị thu hồi?

Theo quy định tại Điều 84 của Luật Nhà ở năm 2014, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước có thể bị thu hồi trong một số trường hợp sau đây.

- Trước tiên, việc thu hồi nhà ở thuộc sở hữu nhà nước có thể được thực hiện khi nhà ở đó được bán, cho thuê hoặc cho thuê mua không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng hoặc không đủ điều kiện theo quy định của Luật này. Điều này ám chỉ rằng việc giao dịch nhà ở phải tuân theo các quy định về quyền hạn và đối tượng được phê duyệt.

- Thứ hai, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước có thể bị thu hồi khi hết thời hạn thuê theo hợp đồng mà bên thuê không còn nhu cầu thuê tiếp hoặc khi hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê hoặc thuê mua nhà ở. Điều này đảm bảo quyền tự do trong việc chọn thuê và chấm dứt hợp đồng thuê nhà.

- Thứ ba, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước có thể bị thu hồi nếu bên thuê hoặc bên thuê mua trả lại nhà ở đang thuê hoặc thuê mua. Điều này đảm bảo quyền lợi của các bên trong việc trao đổi nhà ở.

- Thứ tư, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước có thể bị thu hồi nếu bên thuê không còn đủ điều kiện được thuê nhà ở theo quy định của Luật này. Điều này đảm bảo rằng các bên sử dụng nhà ở phải tuân thủ các yêu cầu và điều kiện quy định.

- Thứ năm, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước có thể bị thu hồi nếu bên thuê chết hoặc có tuyên bố mất tích của Tòa án mà không có ai đang cùng sinh sống. Trong trường hợp thuê nhà ở công vụ, khi người được thuê nhà ở công vụ chết hoặc có tuyên bố mất tích của Tòa án, cũng là lý do để thu hồi nhà ở.

- Thứ sáu, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước có thể bị thu hồi nếu bên thuê hoặc thuê mua nhà ở không nộp tiền thuê nhà ở từ 03 tháng trở lên mà không có lý do chính đáng. Điều này khẳng định rằng việc thanh toán tiền thuê nhà ở là trách nhiệm của bên thuê hoặc thuê mua.

- Thứ bảy, nhà ở cho thuê hoặc cho thuê mua có thể bị thu hồi nếu điều kiện phá dỡ để cải tạo, xây dựng lại được quyết định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này nhằm đảm bảo sự phát triển và cải thiện chất lượng nhà ở.

- Cuối cùng, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước có thể bị thu hồi nếu bên thuê hoặc thuê mua sử dụng nhà ở không đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê nhà ở hoặc tự ý chuyển đổi, bán, cho thuê lại, cho mượn nhà ở hoặc tự ý đục phá, cơi nới, cải tạo, phá dỡ nhà ở đang thuê hoặc thuê mua. Điều này nhằm đảm bảo sự tuân thủ và sử dụng hợp lý các căn nhà ở thuộc sở hữu nhà nước.

Vậy, như đã trình bày, đối với nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho thuê không đúng thẩm quyền, sẽ bị thu hồi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 84 như trên. Các trường hợp khác như hết hạn thuê, trả lại nhà ở, không đủ điều kiện thuê, chết hoặc mất tích của bên thuê, không nộp tiền thuê, cải tạo hoặc sử dụng không đúng mục đích cũng đều là lý do để thu hồi nhà ở. Quy định này giúp đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan và quản lý việc sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước một cách hợp lý và công bằng.

 

3. Quy định về mức bồi thường đối với nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước ?

Quy định về việc bồi thường nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước được trình bày trong Nghị định 47/2014/NĐ-CP, đặt ra các quy định cụ thể về quyền lợi của người đang sử dụng nhà ở trong trường hợp sở hữu của họ bị thu hồi.

- Theo Điều 14 của Nghị định này, người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước (bằng cách thuê hoặc nhờ tổ chức tự quản) sẽ phải đối mặt với việc thu hồi đất và phá dỡ nhà ở của họ. Tuy nhiên, theo quy định này, người đang thuê nhà không được bồi thường về diện tích của căn nhà thuộc sở hữu Nhà nước và diện tích cơi nới trái phép nếu có, nhưng họ sẽ được bồi thường chi phí tự cải tạo, sửa chữa và nâng cấp căn nhà đó. Mức đền bù này sẽ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

- Đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước bị phá dỡ, họ sẽ được cung cấp nhà ở tại nơi tái định cư. Giá thuê căn nhà này sẽ tuân theo giá thuê căn nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước. Nhà thuê tại nơi tái định cư có thể được bán cho người đang thuê căn nhà theo quy định của Chính phủ về việc bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê. Trong trường hợp đặc biệt không có nhà tái định cư để bố trí, người đang sử dụng nhà ở sẽ được hỗ trợ bằng tiền để tự tìm chỗ ở mới. Mức hỗ trợ này sẽ bằng 60% giá trị đất và 60% giá trị căn nhà đang được thuê.

Tóm lại, theo quy định của Nghị định 47/2014/NĐ-CP, người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước sẽ không được bồi thường về diện tích cơi nới trái phép, nhưng sẽ được nhận khoản đền bù chi phí tự cải tạo, sửa chữa và nâng cấp căn nhà. Đối với những trường hợp bị phá dỡ, người đang thuê nhà ở đó sẽ được cung cấp nhà ở tại nơi tái định cư, và có thể mua căn nhà này nếu có quy định từ Chính phủ. Trong trường hợp không có nhà tái định cư, người đang sử dụng nhà ở được hỗ trợ bằng tiền để tự tìm chỗ ở mới, với mức hỗ trợ là 60% giá trị đất và 60% giá trị căn nhà đang thuê.

 

4.Cưỡng chế thu hồi nhà ở thuộc sở hữu nhà nước

Quy định về trình tự và thủ tục cưỡng chế thu hồi nhà ở thuộc sở hữu nhà nước được đề cập trong Điều 46 của Nghị định 99/2015/NĐ-CP như sau:

- Theo quy định, nếu người đang trực tiếp sử dụng nhà ở không tuân thủ quyết định thu hồi nhà ở theo Điều 45 của Nghị định này, đơn vị quản lý vận hành nhà ở phải báo cáo cơ quan quản lý nhà ở trong vòng 5 ngày kể từ ngày hết hạn quy định tại Khoản 7 Điều 45. Báo cáo này đề nghị cưỡng chế thu hồi nhà ở.

- Trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo từ đơn vị quản lý vận hành nhà ở, cơ quan quản lý nhà ở phải tiến hành kiểm tra và lập tờ trình kèm theo dự thảo quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở để gửi cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà ở xem xét và ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở.

- Trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được tờ trình từ cơ quan quản lý nhà ở, cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà ở có trách nhiệm kiểm tra và so sánh với quy định tại Điều 45 của Nghị định này để ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở. Quyết định này sẽ được gửi cho cơ quan quản lý nhà ở, đơn vị quản lý vận hành nhà ở và người đang trực tiếp sử dụng nhà ở để thực hiện. Nếu quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở được ban hành bởi các Bộ, ngành hoặc cơ quan Trung ương, cơ quan này phải có văn bản kèm theo quyết định và gửi đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có nhà ở để tổ chức cưỡng chế thu hồi.

- Trong trường hợp nhà ở không thuộc diện cưỡng chế thu hồi, cơ quan đại diện chủ sở hữu phải thông báo cho cơ quan quản lý nhà ở và đơn vị quản lý vận hành nhà ở để tiếp tục thực hiện quản lý theo quy định.

- Đối với nhà ở được quản lý bởi Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an, cơ quan có chức năng quản lý nhà ở của Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an có quyền ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở nếu được giao thực hiện. Nếu nhà ở không thuộc diện cưỡng chế thu hồi, cơ quan đại diện chủ sở hữu sẽ thông báo cho cơ quan quản lý nhà ở và đơn vị quản lý vận hành nhà ở để tiếp tục thực hiện quản lý theo quy định.

Lưu ý rằng thông tin trên chỉ là tóm tắt và không thể áp dụng cho tất cả các trường hợp cụ thể. Quy trình cưỡng chế thu hồi nhà ở có thể có sự khác biệt và chi tiết hơn tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia hoặc vùng lãnh thổ.

Xem thêm >>> Thu hồi nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước có được bồi thường hay không?

Nếu quý khách hàng gặp bất kỳ vấn đề hay thắc mắc nào liên quan đến bài viết hoặc các vấn đề pháp lý, chúng tôi rất mong nhận được sự phản hồi của quý khách. Chúng tôi luôn đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu và cam kết hỗ trợ giải quyết mọi vấn đề một cách nhanh chóng và kịp thời.

Để đảm bảo rằng quý khách nhận được sự hỗ trợ tốt nhất, chúng tôi đã cung cấp các thông tin liên lạc sau đây: quý khách có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua số điện thoại hotline 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn. Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm của chúng tôi sẽ sẵn lòng lắng nghe và giải đáp mọi câu hỏi của quý khách.