1. Mức lương trả trước trong trường hợp nợ lương phải là bao nhiêu?

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động năm 2019, quy định chi tiết về kỳ hạn trả lương như sau: Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

Như vậy, quy định tại Khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định rõ về trường hợp không thể trả lương đúng hạn do lý do bất khả kháng. Theo đó, nguyên tắc chung là công ty không được chậm trễ quá 30 ngày trong việc trả lương, áp dụng trong các trường hợp công ty đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn không thể thực hiện trả lương đúng hạn. Tuy nhiên, trong trường hợp công ty và người lao động đạt được thỏa thuận và có cơ sở chứng minh về thỏa thuận đó, không có quy định cấm.

Mặc dù quy định này cho phép thỏa thuận trễ hạn trả lương trong trường hợp đồng ý của cả hai bên và có cơ sở chứng minh, nhưng luật không quy định rõ mức trả trước bao nhiêu phần trăm của lương. Đồng thời, không có quy định cụ thể về việc trả trước 50% lương nhưng thấp hơn mức lương đóng BHXH.

Do đó, nếu đã đồng ý nhận lương chậm, hợp lý hơn hết là nên tiếp tục trao đổi với công ty hoặc xem xét lại nội dung thỏa thuận về việc trả lương để đảm bảo quyền lợi của bạn. Chưa có cơ sở để kết luận rằng công ty đã hoàn toàn vi phạm quy định, vì có thể có các điều khoản và điều kiện đã được thỏa thuận trước đó.

 

2. Có thể bị xử phạt như thế nào về công ty nợ lương người lao động quá thời gian quy định?

Theo quy định tại Điều 17 của Nghị định 12/2022/NĐ-CP, có các hình thức vi phạm liên quan đến tiền lương được quy định như sau:

Người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền trong trường hợp có một trong số các hành vi sau đây: trả lương không đúng hạn theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm việc vào ban đêm; không trả hoặc trả không đủ tiền lương khi ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; ép buộc người lao động chi tiêu lương vào mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định; khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động hoặc trong thời gian đình công; không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ phép hàng năm hoặc chưa sử dụng hết số ngày nghỉ phép hàng năm khi người lao động nghỉ việc, bị mất việc làm; không tạm ứng hoặc tạm ứng không đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo quy định của pháp luật; không trả đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc trong trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động với các mức phạt như sau:

- Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

- Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

- Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

- Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

- Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Bên cạnh đó, quy định này cũng quy định iện pháp khắc phục hậu quả, như sau: Buộc người sử dụng lao động phải trả đủ tiền lương cùng với số tiền lãi từ việc trả chậm hoặc trảthiếu cho người lao động, được tính theo mức lãi suất cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 nêu trên.

Điều này có nghĩa là, nếu Công ty vi phạm quy định về việc thanh toán lương cho người lao động, công ty có thể phải chịu mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, phạt tiền chỉ là một phần của hậu quả mà Công ty phải đối mặt. Đồng thời, Công ty cũng phải chịu trách nhiệm trả đủ số tiền lương cộng với khoản tiền lãi phát sinh từ việc trả chậm hoặc thiếu lương cho người lao động.

Khi một Công ty không thực hiện đúng quy định về thanh toán lương, nó không chỉ vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng đến cuộc sống và nhu cầu cần thiết của người lao động. Việc trả lương chậm hoặc không đủ không chỉ gây ra sự không ổn định tài chính cho người lao động mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần và cuộc sống hàng ngày của họ.

Khi bị xử phạt về việc trả lương chậm hoặc thiếu, Công ty không chỉ phải đền bù số tiền lương mà còn phải trả thêm khoản tiền lãi phát sinh từ số tiền đó. Mức lãi suất được áp dụng là mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất được công bố bởi các ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt. Điều này nhấn mạnh sự nghiêm túc và cam kết của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi và lợi ích của người lao động.

Việc áp dụng mức phạt tiền và yêu cầu trả lương cộng với tiền lãi phát sinh không chỉ là biện pháp để xử lý các vi phạm về thanh toán lương mà còn là cách để khuyến khích các doanh nghiệp tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Điều này giúp tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng và minh bạch, nơi mà quyền lợi của người lao động được đảm bảo và tôn trọng.

 

3. Hình thức công ty phải trả lương cho người lao động là gì?

Theo Điều 96 của Bộ luật Lao động 2019, có quy định chi tiết về hình thức trả lương. Theo đó:

- Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán.

- Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng.

Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.

- Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Theo quy định của Điều 96 trong Bộ luật Lao động năm 2019, công ty có quyền lựa chọn hình thức trả lương cho người lao động là bằng tiền mặt hoặc qua tài khoản ngân hàng cá nhân của họ.

Nếu công ty chọn trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động mà đã được mở tại một ngân hàng, thì công ty sẽ phải chịu trách nhiệm trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương. Điều này nhằm đảm bảo rằng người lao động không phải chịu bất kỳ chi phí nào liên quan đến việc tiếp nhận tiền lương thông qua tài khoản cá nhân của mình.

Việc trả lương qua tài khoản ngân hàng mang lại nhiều lợi ích. Đầu tiên, nó tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tiếp nhận lương một cách an toàn và tiện lợi. Thay vì phải nhận tiền mặt và mang theo số tiền lớn, việc tiền lương được chuyển trực tiếp vào tài khoản cá nhân giúp tránh rủi ro mất mát hoặc cướp giật.

Thứ hai, việc trả lương qua tài khoản ngân hàng cũng giúp quản lý tài chính cá nhân của người lao động dễ dàng hơn. Họ có thể dễ dàng kiểm tra số dư tài khoản, ghi chép các giao dịch và theo dõi thu chi cá nhân. Điều này giúp người lao động có cái nhìn rõ ràng hơn về tình hình tài chính và quản lý tài sản cá nhân một cách hiệu quả.

Ngoài ra, việc trả lương qua tài khoản ngân hàng còn giúp tạo điều kiện cho công ty thực hiện quản lý và xử lý lương nhân viên một cách chính xác và minh bạch hơn. Các giao dịch liên quan đến lương như chuyển khoản, trích nợ và tài liệu liên quan có thể được theo dõi và lưu trữ một cách dễ dàng. Điều này giúp cho quá trình tính lương, nộp thuế và báo cáo tài chính diễn ra một cách trơn tru và chính xác.

Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của người lao động, công ty cần chịu trách nhiệm trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương. Điều này bao gồm các khoản phí mở tài khoản, phí duy trì tài khoản và phí chuyển tiền. Những khoản phí này phải được công ty thanh toán đầy đủ và không được trừ vào lương của người lao động.

Tóm lại, việc trả lương bằng tiền mặt hoặc qua tài khoản ngân hàng cá nhân của người lao động là một quyền lợi và sự linh hoạt mà công ty có theo quy định của Điều 96 trong Bộ luật Lao động năm 2019. Tuy nhiên, trong trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân, công ty phải chịu trách nhiệm trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương, nhằm đảm bảo quyền lợi và sự công bằng cho người lao động. Việc trả lương qua tài khoản ngân hàng mang lại nhiều lợi ích cho cả người lao động và công ty, bao gồm tính an toàn, tiện lợi và khả năng quản lý tài chính cá nhân tốt hơn. Các chi phí phát sinh từ việc này nên được công ty chịu trách nhiệm hoàn toàn, không ảnh hưởng đến số tiền lương mà người lao động nhận được.

Xem thêm >> Mức lương bao nhiêu thì phải đóng thuế thu nhập cá nhân (TNCN)?

Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn