1. Mức phạt cho tội vì tự vệ vô tình đâm chết người ?

Chào luật sư! Em có một người bạn vì tự vệ vô tình đâm chết người, em không biết có thể giảm nhẹ án được không? Và án nhẹ nhất có thể là bao lâu ?

Sự việc như thế này: Hôm đó là sinh Nhật của người yêu của người tên A. Đi chơi tới tối thì ghé về một bãi biển ngồi chơi, vừa về đến bãi biển thì có một nhóm người lớn tuổi (tầm 45) ra nói lấy tiến để xe và tiền bãi ngồi, lúc đó có một người bạn trong nhóm là B đứng lên nói không có tiền. Người kia mới nói "không có tiền thì đi chổ khác", lúc đấy B mới gọi mọi người đi. Vừa xoay xe thì người lớn tuổi kia mới đánh B vào mặt và đầu, thấy B bị đánh A và nhiều người trong nhóm ra can, lúc đó nhửng người bên kia chạy sang đánh tới tấp khiến 1 bạn nam và 1 ban nữ bị thương nặng, lúc đấy A mới vớ đc con dao gần đó đâm trúng cổ người kia 1 nhát nhưng người kia vẫn đánh trả, A tiếp tuc đâm thêm một nhát vào bụng và một nhát vào ngực khiến người kia chết . Sau đó tất cả chạy về còn một người nam và một người nữ bị đánh ngất ở lại. Sau đó đi bệnh viện, người ở bệnh viện điện thoại cho A nói người kia chết rồi. Lúc đó hoảng loạn A mới ra đầu thú.

Xin luật sư giúp cho!

Người gửi: ĐR

>> Luật sư tư vấn Luật Hình sự về vô ý làm chết người, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì A đã phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 96 Bộ luật hình sự năm 1999 ; Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009:

"Điều 96. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Giết nhiều người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm."

Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có cấu thành tội phạm như sau:

- Khách thể: là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền sống của con người.

- Khách quan: hành vi khách quan của tội phạm là giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Đây là trường hợp nạn nhân chính là người có hành vi tấn công, xâm hại lợi ích hợp pháp và hành vi giết người là hành vi người phạm tội lựa chọn thực hiện để ngăn chặn hành vi tấn công, bảo vệ lợi ích hợp pháp đang bị xâm hại. Trong trường hợp này, hành vi giết người để phòng vệ là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết để thực hiện quyền phòng vệ chính đáng.

- Chủ quan: lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp

- Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 trở lên.

Đây là tội có cấu thành tội phạm vật chất nên bắt buộc phải có hậu quả chết người.

Hành vi của A đã đủ để cấu thành tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, dẫn đến hậu quả làm chết người, nhưng do A chỉ làm chết một người nên A sẽ phải chịu hình phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến năm năm.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua 1900.6162.

>> Xem thêm:  Trách nhiệm bồi thường khi gây ra tai nạn giao thông gồm những gì ?

2. Xô xát vô tình đâm chết người bị xử lý như thế nào ?

Thưa luật sư, do mâu thuẫn cá nhân nên tôi và ông hàng xóm xảy ra xô xát và vô tình làm ông ấy ngã vào dao và chết. Công an thì khám nghiệm và bảo tôi đâm ông ấy chết. Xin hỏi: Pháp luật quy định về trường hợp này như thế nào ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp của bạn, vì bạn không nêu rõ tình tiết vụ việc xảy ra nên có thể người thân bạn sẽ có thể bị xử lý như sau:

Trường hợp thứ nhất, tội giết người theo quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

Điều 93. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết nhiều người;

b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

c) Giết trẻ em;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Trường hợp thứ hai, Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo quy định tại Điều 95 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009 như sau:

Điều 95. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Giết nhiều người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

Trường hợp thứ ba, Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo quy định tại Điều 96 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009 như sau:

Điều 96. Tội giết người do vựơt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Giết nhiều người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm

Trường hợp thứ tư, Tội vô ý làm chết nguời theo quy định tại Điều 98, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009 như sau:

"Điều 98. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm."

Trường hợp thứ năm, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người theo quy định tại Khoản 3, Điều 98, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009 như sau:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Ngoài ra, chi tiết người thân của bạn đã ra đầu thú ngay thì được coi là một tình tiết giảm nhẹ khi tòa án xem xét xác định mức phạt.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Mang dao phòng thân có được pháp luật cho phép không ? Dùng dao đâm người khác phạm tội gì ?

3. Tư vấn pháp luật hình sự về tội vô ý làm chết người ?

Thưa luật sư, mong luật sư tư vấn giúp tôi về hai trường hợp như sau: TH1: A là 1 nữ giáo viên công tác ở mền núi, trong 1 buổi đêm đã khuya khi đang ngủ vì nhạy cảm và rất thính với tiếng động nên tỉnh ngủ và dậy để xem có việc gì bất thường hay không.
Khi dậy A thấy 1 bóng đen từ gầm giường chui lên, nhanh tay A đã cầm viên gạch để ở đầu giường và đập vào đầu B 1 cái làm B chết. Như vậy A có phải chịu TNHS hay không tại sao?

TH2: A' đi làm về trong khi trời đã khuya lại đi trên đoạn đường vắng, bất ngờ A' bị B' (người đã thành niên) dùng vũ lực uy hiếp và bắt giao cấu trái ý muốn, trong lúc B' đang thực hiện hành vi đồi bại thì A' thấy được con dao trong túi quần của B' nên đã dùng dao đâm B', hậu quả là làm B' chết. Như vậy, A' có phải chịu TNHS không ? Tại sao?

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: minhphuong

Tư vấn pháp luật hình sự

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) quy định về tình thế cấp thiết và phòng vệ chính đáng như sau:

"Điều 15. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 16. Tình thế cấp thiết

1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự."

Như vậy, quy định này xác định việc gây thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa không bị coi là tội phạm. Đồng thời, người có hành vi gây thiệt hại sẽ không bị truy cứu trách nhiệm Hình sự.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cần thiết và không phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ những điều kiện sau:

-Phải có sự nguy hiểm đang đe dọa gây ra thiệt hại ngay tức khắc.

Sự nguy hiểm đang đe dọa gây ra thiệt hại phải là sự nguy hiểm đe dọa ngay tức khắc thì mới được coi là trong trường hợp tình thế cấp thiết, nếu sự nguy hiểm đó chưa xảy ra hoặc đã kết thúc thì không được coi là gây ra thiệt hại trong tình thế cấp thiết.

- Sự nguy hiểm đang đe dọa phải là sự nguy hiểm thực tế.

Sụ nguy hiểm không chứa đựng khả năng thực tế gây ra hậu quả mà chỉ do người gây thiệt hại tưởng tượng ra thì không được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết. Mối quan hệ nhân quả giữ sự nguy hiểm với các lợi ích cần bảo vệ là mối quan hệ tất yếu, nếu không có biện pháp thì hậu quả tất yếu sẽ xảy ra.

Theo đó, trong TH1, A phải chịu trách nhiệm hình sự do đã có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Bởi sự nguy hiểm đến từ B vẫn chưa xảy ra hoặc chỉ do A tưởng tượng chứ chưa gây ra hậu quả gì.

Trong TH2, A' không phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của A' được thực hiện trong tính thế cấp thiết bởi sự nguy hiểm đang xảy ra ( B' đang thực hiện hành vi đồi bại)/

>> Xem thêm:  Tại sao xe nhỏ đi sai, xe lớn đi đúng khi xảy ra tai nạn giao thông thì xe lớn vẫn phải đền xe nhỏ ?

4. Đâm chết người chỉ phải bồi thường về tính mạng ?

Thưa luật sư, tôi có một người em gái bị xe ô tô đâm, được người dân đưa đi cấp cứu nhưng em ấy bị chết trên đường đi cấp cứu. Lúc ấy chỉ có công an thành phố tới giải quyết. Tuy nhiên đến tận 3 tháng sau gia đình tôi vẫn chưa nhận được câu trả lời từ công an và không nhận được lời xin lỗi của gia đình người gây tai nạn cho em tôi.

Chỉ có hôm là đám tang em tôi thì gia đình người gây tai nạn có đến và hỏi mạng của em gái tôi đáng giá bao nhiêu để họ đền. Nhưng mạng người chỉ đòi bằng tiền thôi sao? Giờ tôi mong luật sư tư vấn giúp trường hợp của tôi phải giải quyết như thế nào? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết?

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: NMT

Đâm chết người chỉ phải bồi thường về tính mạng?

Tư vấn pháp luật miễn phí - Hotline: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào những thông tin mà bạn cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi không thể xác định được trong vụ tai nạn đó, bên nào là bên có lỗi để xác định trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bạn có thể tham khảo quy định của BLHS về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại Điều 202 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Ngoài ra, căn cứ điều 604 BLDS năm 2005 thì bên có ô tô đâm phải em bạn sẽ phải bồi thường về tính mạng cho em gái bạn.

Như vậy, bạn và người nhà của bạn có thể khởi kiện hình sự đối với người gây tai nạn, nếu bạn có mong muốn khởi kiện. Khi đó, người gây thiệt hại có thể sẽ chịu trách nhiệm hình sự là phạt tù, đồng thời phải bồi thường chi phí hợp lý cho gia đình bạn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Trường hợp nào cảnh sát giao thông sẽ tạm giữ xe người vi phạm giao thông ?

5. Xô xát, cãi cọ vô tình làm chết người ra can ngăn xử lý thế nào ?

Thưa luật sư, Anh/chị cho em hỏi về một vụ việc như sau: Ngày 15/03 vừa qua, hàng xóm nhà em có xảy ra một sự việc bác trai và em rể cãi cọ, xích mích với nhau.

Người con trai của anh vợ ra can ngăn đẩy hai người ra, vô tình người em rể đã có tuổi cùng với men rượu bị ngã, đưa đi cấp cứu và đã tử vong. Sau đó. anh con trai có lên cơ quan công an đầu thú và hiện tại gia đình anh đã bồi thường gia đình bên kia 100 triệu đồng lo tiền mai táng và chi phí. Gia đình bên kia bãi nại, không kiện cáo và xin cơ quan chức năng giảm hình phạt cho anh con trai này. Nếu theo tình tiết vụ án và sự việc như trên thì anh này sẽ bị hình phạt như thế nào ạ? Anh này còn 3 con nhỏ (cháu lớn mới 6 tuổi, cháu nhỏ nhất chưa được 4 tháng tuổi). Mong anh/chị trả lời giúp em trường hợp này.

Em xin cảm ơn. Em thành thật xin lỗi nếu email này làm phiền anh/chị.

Người hỏi: Trần TK Hằng

Trả lời:

Theo như bạn trình bày thì bác trai và em rể cãi cọ nhau, người con trai của anh vợ đã đẩy hai người ra với mục đích là can ngăn, điều này đã làm cho người em rể chết, trong trường hợp này người con trai có thể sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội "tội vô ý làm chết người" quy định tại điều 98 Bộ luật Hình sự năm 1999:

"Điều 98. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm."

Trong trường hợp này, anh con trai này sẽ được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đã tự đầu thú, tự nguyện bồi thường cho gia đình bên kia... bạn có thể tham khảo thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điều 46 Bộ luật Hình sự:

"Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hỏi về quyền và nghĩa vụ của cảnh sát giao thông ? Trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông