1. Xử phạt như thế nào với tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất cấp tín dụng không đúng quy định?

Mức phạt đối với tổ chức tín dụng vi phạm quy định về cấp tín dụng, như được quy định tại Điều 14 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP, đã được sửa đổi bởi Điều 1 Nghị định số 143/2021/NĐ-CP như sau: Vi phạm quy định về cấp tín dụng sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với một trong các hành vi sau đây:

- Lập hợp đồng, thỏa thuận cấp tín dụng không đúng các nội dung theo quy định của pháp luật: Hợp đồng và thỏa thuận này thường chứa các điều khoản quan trọng như lãi suất, điều kiện về trả nợ, và các điều kiện khác mà cả hai bên phải tuân thủ. Khi không đúng các nội dung theo quy định của pháp luật, có thể dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng như tranh chấp pháp lý hoặc sự không minh bạch và không công bằng trong quá trình cấp tín dụng.

- Miễn, giảm lãi suất cấp tín dụng khi chưa ban hành quy định nội bộ. Quy định nội bộ thường được ban hành để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc xác định lãi suất và điều kiện vay. Khi miễn hoặc giảm lãi suất mà không tuân thủ quy định nội bộ, có thể gây ra sự không công bằng cho các bên vay khác, gây ra rủi ro không mong muốn cho tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng.

- Chuyển nợ quá hạn, cơ cấu lại thời hạn trả nợ không tuân thủ quy định của pháp luật. Việc vi phạm này có thể gây ra những tác động tiêu cực cho các bên liên quan, bao gồm người vay, các tổ chức hoặc cá nhân cung cấp dịch vụ tín dụng, và hệ thống tài chính nói chung. Mức phạt cho hành vi này thường được quy định cụ thể trong pháp luật về cấp tín dụng. Phạt có thể là một khoản tiền cố định hoặc một phần trăm của số tiền nợ chuyển đổi hoặc cơ cấu lại. Đồng thời, việc vi phạm cũng có thể dẫn đến các hậu quả pháp lý khác như bị yêu cầu bồi thường thiệt hại cho các bên bị ảnh hưởng.

- Sử dụng lãi suất cấp tín dụng không tuân thủ quy định của pháp luật: Việc không tuân thủ quy định về lãi suất có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như: Gây ra sự không công bằng cho người vay khi họ phải trả mức lãi suất cao hơn so với quy định pháp luật; Tạo ra tình trạng nợ nần gia tăng do lãi suất cao, gây áp lực tài chính không mong muốn cho người vay; Gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh và uy tín của tổ chức hoặc cá nhân cung cấp dịch vụ tín dụng.

- Thu lãi nợ quá hạn không tuân thủ quy định của pháp luật; thu nợ vay bị quá hạn trả nợ không tuân thủ quy định của pháp luật.

Dựa theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 3 của Nghị định số 88/2019/NĐ-CP về mức phạt tiền, có nội dung như sau: Hình thức xử phạt, mức phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tiền và biện pháp khắc phục hậu quả: Mức phạt tiền quy định trong Chương II của Nghị định này áp dụng cho cá nhân; mức phạt tiền đối với tổ chức có cùng một hành vi vi phạm hành chính là gấp đôi mức phạt tiền đối với cá nhân. Theo quy định trên, tổ chức tín dụng vi phạm hành chính bằng việc áp dụng lãi suất cấp tín dụng không đúng quy định có thể bị xử phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

 

2. Thời hiệu xử phạt hành chính với tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất cấp tín dụng không đúng quy định

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bởi điểm a khoản 4 Điều 1 của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau: Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây:

- Vi phạm hành chính liên quan đến kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm. Điều này có nghĩa là nếu một cá nhân hoặc tổ chức vi phạm các quy định liên quan đến các lĩnh vực nêu trên, họ sẽ bị xử phạt hành chính và thời hiệu của việc xử phạt này kéo dài trong vòng 02 năm kể từ ngày vi phạm. Trong thời gian này, họ phải tuân thủ các biện pháp sửa đổi và đảm bảo không tái phạm.

- Vi phạm hành chính về thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Trong quá trình xử lý vi phạm hành chính về thuế, cơ quan thuế sẽ tiến hành các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật, bao gồm áp đặt các biện pháp phạt như tiền phạt, phạt vi phạm hành chính, thu hồi số thuế nợ và/hoặc yêu cầu bổ sung, sửa chữa các thông tin thuế không chính xác.

Do đó, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất cấp tín dụng không đúng quy định là 01 năm. Trong thời gian thời hiệu xử phạt, tổ chức tín dụng phải tuân thủ các biện pháp sửa đổi, cải thiện và đảm bảo không tái phạm. Nếu vi phạm tái diễn hoặc không tuân thủ các yêu cầu của cơ quan quản lý, có thể sẽ bị áp đặt các biện pháp xử phạt nặng hơn và hậu quả pháp lý khác.

 

3. Thẩm quyền của chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xử phạt tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất cấp tín dụng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 55 của Nghị định 88/2019/NĐ-CP, đã được sửa đổi bởi khoản 43 Điều 1 của Nghị định 143/2021/NĐ-CP về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, có nội dung như sau: Xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp được ủy quyền thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính được quy định trong Chương II của Nghị định này theo thẩm quyền và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Nghị định 88/2019/NĐ-CP, đã được sửa đổi bởi khoản 35 Điều 1 của Nghị định 143/2021/NĐ-CP, về thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, có nội dung như sau: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền: Ra cảnh cáo; Áp dụng mức phạt tiền lên đến 5.000.000 đồng; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 10.000.000 đồng.

Dựa vào điểm d khoản 3 Điều 3 của Nghị định 88/2019/NĐ-CP, quy định về thẩm quyền phạt tiền như sau: Hình thức xử phạt, mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền và biện pháp khắc phục hậu quả Mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền: Thẩm quyền phạt tiền của từng chức danh quy định tại Chương III của Nghị định này là thẩm quyền phạt tiền áp dụng đối với cá nhân. Thẩm quyền phạt tiền áp dụng đối với tổ chức bằng 02 lần thẩm quyền phạt tiền áp dụng đối với cá nhân. Vì vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền cao nhất là 5.000.000 đồng đối với cá nhân và cao nhất là 10.000.000 đồng đối với tổ chức. Tuy nhiên, do tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất cấp tín dụng không đúng quy định có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền cao nhất là 60.000.000 đồng, nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền xử phạt tổ chức này.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Phương pháp tính lãi tiền gửi của tổ chức tín dụng theo quy định? Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!