1.Nghĩa vụ của bên mua và bên bán

 1. Nghĩa vụ của bên bán

(a) Bên bán phải giao hàng phù hợp và không phụ thuộc vào bên thứ ba Giao hàng là sự bàn giao thực tế hàng hoá cho bên mua. Nếu không có thoả thuận nào về nơi giao hàng, thì bên bán, về nguyên tắc, phải giao hàng tại nơi bên bán có địa điểm/trụ sở kinh doanh tại thời điểm giao kết hợp đồng. Bên bán phải giao hàng vào ngày đã được thoả thuận trong hợp đồng hoặc được hiểu ngầm trong hợp đồng. Nếu ngày giao hàng không được ấn định, thì nguyên tắc về sự hợp lí sẽ được áp dụng. Hàng hoá được giao phải phù hợp. Tính phù hợp của hàng hoá  được hiểu là hàng hoá phải đúng chất lượng, số lượng và mô tả ghi trong hợp đồng và được đóng gói theo cách thức đã được yêu cầu rõ ràng trong hợp đồng,  hoặc như khi bán hàng mẫu .Thêm vào đó, bên bán phải giao những hàng hoá không bị phụ thuộc vào bất cứ quyền hạn hay khiếu nại nào của bên thứ ba, trừ trường hợp người mua đồng ý nhận loại hàng bị phụ thuộc vào quyền hạn và khiếu nại như vậy.  Bên bán phải bảo vệ bên mua không chỉ để chống lại những khiếu nại đủ căn cứ, mà còn cả những khiếu nại thiếu căn cứ. Bên mua phải thông báo  cho bên bán trong một khoảng thời gian hợp lí về sự tồn tại của bất kì quyền hạn hay khiếu nại nào, trừ khi bên bán đã biết về điều đó. CISG có quy định riêng đối với hàng hoá là đối tượng khiếu nại liên quan đến IPRs. (b) Bên bán phải giao các tài liệu, chứng từ liên quan đến hàng hoá được giao.

2. Nghĩa vụ của bên mua

(a) Bên mua phải nhận hàng Việc nhận hàng  có quan hệ chặt chẽ với việc chuyển giao rủi ro. Bên mua phải làm tất cả mọi việc để việc giao hàng có thể diễn ra.  Do đó, bên mua, nếu cần thiết, phải thông báo cho bên bán địa điểm giao hàng cụ thể. Bên mua phải thật sự sở hữu hàng hoá. Về nguyên tắc, rủi ro được chuyển giao tại nơi giao nhận hàng. Nếu bên mua không nhận hàng, thì sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng. Điều này có thể sẽ khiến bên mua phải chịu trách nhiệm về bất kì thiệt hại nào xảy ra đối với hàng hoá. Vấn đề chuyển giao rủi ro được quy định tại các điều từ Điều 66 đến Điều 70. Chuyển giao rủi ro liên quan đến hợp đồng, bao gồm vận tải, được quy định tại Điều 67; nếu liên quan đến hàng hoá quá cảnh, thì xem quy định tại Điều 68. (b) Bên mua phải thanh toán tiền hàng Thanh toán tiền hàng là nghĩa vụ chính của bên mua. Nghĩa vụ thanh toán bao gồm 4 yếu tố chính: Xác định giá hàng; Nơi thanh toán; Thời điểm thanh toán; và Phương thức thanh toán. Các yếu tố này thông thường đã được thoả thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên, trong hợp đồng, các yếu tố này có thể vẫn có những sự mơ hồ, khó hiểu. Trong trường hợp đó, các quy định bổ sung của CISG sẽ được áp dụng. Vì vậy, trừ khi hợp đồng quy định khác đi, bên mua phải thanh toán tại trụ sở kinh doanh của bên bán hoặc tại nơi giao hàng,mà không cần phải thông báo  khi nào hàng hoá hoặc tài liệu, chứng từ thuộc quyền kiểm soát của bên mua. Thủ tục thanh toán cũng là trách nhiệm của bên mua.

2.Thủ tục và thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 

Về lý thuyết, một hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được hình thành theo bất cứ cách thức nào, theo đó chứng tỏ giữa các bên đã đạt được sự thỏa thuận. Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là thời điểm mà các bên đã đạt được sự thỏa thuận. Trong quá trình xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa, các vấn đề pháp lý cơ bản cần được làm rõ là: (i) Đề nghị giao kết hợp đồng; (ii) Chấp nhận đề nghị hợp đồng; (iii) Thời điểm giao kết hợp đồng và hiệu lực của hợp đồng. Những vấn đề này không được Luật Thương mại hiện hành quy định cụ thể, vì vậy, các quy định của Bộ luật dân sự sẽ được áp dụng đối với việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.

Như vậy, thủ tục giao kết hợp đồng được thực hiện như sau:

Trước hết là đề nghị giao kết hợp đồng. Đây là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).

Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định bằng cách cách thức: (i) Do bên đề nghị ấn định; (ii) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

Được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng khi: (i) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân; (ii) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; (iii) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.

Bước hai, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng: Đây là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Điều đáng chú ý là: Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.

Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng được tính như sau:

Nếu bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.

Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý. Tuy nhiên, tính hợp lý này không được giải thích cụ thể mà có thể do hai bên thỏa thuận.

Nếu thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.

Trường hợp khác: Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về thời hạn trả lời. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho hai bên giải quyết nhanh chóng mong muốn và nhu cầu.

Như vậy, qua 2 giai đoạn đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết thì hợp đồng mua bán hàng hóa gần như đi đến giai đoạn ký kết nếu không phát sinh các sự kiện khách quan hoặc chủ quan.

Khi tiến hành soạn thảo và ký kết hợp đồng, các có quyền thỏa thuận về nội dung hợp đồng, nhưng thông thường phải đảm bảo các nội dung: Đối tượng của hợp đồng; Số lượng, chất lượng; Giá, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; Phương thức giải quyết tranh chấp.

Thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo Bộ luật dân sự như sau:

Như đã nói ở trên, việc chấp nhận đề nghị giao kết có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đây cũng là thời điểm hợp đồng được giao kết. Trường hợp đặc biệt các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.

Đối với hợp đồng giao kết bằng lời nói: Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.

Đối với hợp đồng giao kết bằng văn bản: Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.

Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định tại thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.

Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, theo đó, hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.

Đây cũng là thời điểm các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.

3.Các biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng 

Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, nếu một bên vi phạm hợp đồng, bên kia có thể áp dụng các biện pháp khắc phục đã được thống nhất trong hợp đồng, hoặc đã được quy định trong CISG. Cần phải ghi nhớ rằng việc áp dụng các biện pháp khắc phục trong CISG phụ thuộc vào việc liệu đã xảy ra vi phạm hợp đồng hay chưa. Tiếc rằng, CISG lại không định nghĩa thế nào là vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, vi phạm hợp đồng có thể được hiểu thông qua hệ thống các biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng theo quy định của CISG  và khoản 1 Điều 79,  theo đó ‘vi phạm hợp đồng’ bao gồm tất cả các hình thức thực hiện không đúng, cũng như hoàn toàn không thực hiện hợp đồng. Nghĩa vụ theo hợp đồng có thể hoặc là được xác định rõ ràng trong CISG (ví dụ: Giao hàng đúng thời gian, đúng địa điểm   và giao đúng hàng, v.v..), hoặc là được thiết lập và xác định bởi các bên. Bên cạnh đó, để lựa chọn biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng, việc biết được liệu một vi phạm có được coi là ‘vi phạm hợp đồng cơ bản’  hay không, rất quan trọng. Một vi phạm hợp đồng cơ bản bao gồm hai yếu tố: (i) Phải có sự thiệt hại đáng kể, làm cho bên chịu thiệt hại mất đi những gì anh ta có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng; (ii) Có thể tiên liệu được hậu quả của vi phạm. Do đó, việc của bên vi phạm là phải chứng minh được rằng anh ta, hay bất kì người nào có lí trí bình thường, không thể tiên liệu được hậu quả, khi ở vào địa vị và hoàn cảnh tương tự.

4. Các biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng được áp dụng bởi bên mua

 Nếu bên bán không thực hiện bất kì nghĩa vụ nào của mình, bên mua có thể, tùy hoàn cảnh cụ thể, áp dụng một số biện pháp khắc phục như sau: - Buộc thực hiện đúng hợp đồng; - Gia hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ ; - Tuyên bố huỷ hợp đồng, yêu cầu được thông báo theo Điều 26; - Giảm giá; - Áp dụng các biện pháp khắc phục đối với việc chỉ giao hàng từng phần, hoặc giao hàng không phù hợp; - Bồi thường thiệt hại. Trước khi áp dụng các biện pháp khắc phục nêu trên, bên mua cũng có thể gia hạn cho bên bán để bên bán thực hiện nghĩa vụ của mình. Khi nhận thấy rõ ràng rằng bên bán sẽ không hoàn thành các nghĩa vụ của mình, bên mua có thể tạm ngừng hoặc huỷ hợp đồng, kể cả đó là vi phạm cơ bản ban đầu. Số tiền bồi thường thiệt hại được xác định trên cơ sở mức độ thiệt hại, bao gồm cả lợi nhuận bị mất. Cần phải lưu ý rằng trong trường hợp liên quan đến giao hàng không phù hợp/giao hàng sai, bên mua phải kiểm tra hàng hoá và thông báo về việc hàng không phù hợp trong một khoảng thời gian hợp lí. Nếu bên mua không thực hiện điều này, thì bên mua sẽ bị mất hoàn toàn quyền áp dụng các biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng.

5. Biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng được áp dụng bởi bên bán

Các biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng được áp dụng bởi bên bán cũng giống như bởi bên mua: Bên bán cũng có thể yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng, tuyên bố huỷ hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại. Bên bán cũng có thể cho bên mua thêm thời gian thực hiện nghĩa vụ của mình. Cũng giống như bên mua, bên bán có thể ngừng thực hiện các nghĩa vụ của mình hoặc huỷ hợp đồng, nếu nhận thấy rõ ràng rằng bên mua sẽ không thực hiện các nghĩa vụ của mình. CISG quy định các biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng tương đương cho cả bên mua và bên bán. Hơn nữa, sự miễn trừ cũng áp dụng đối với cả hai bên. Điều này có nghĩa là bên mua hoặc bên bán không phải chịu trách nhiệm khi không thực hiện nghĩa vụ của mình, nếu việc đó là do có sự cản trở nằm ngoài khả năng kiểm soát của bên mua hoặc bên bán, làm cho họ không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình. Sự cản trở này được hiểu là bất khả kháng, và không thực hiện được nghĩa vụ do hành động thiếu sót của bên kia. Hơn nữa, cả bên mua và bên bán đều phải cố gắng hạn chế thiệt hại cho đối tác kinh doanh của mình. Nhìn chung, qua các điều khoản của CISG, có thể thấy rằng CISG dường như là một trong những minh chứng thành công nhất về việc thống nhất luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)