1. Người chết không để lại di chúc ai có quyền hưởng di sản ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em muốn được tư vấn về quyền chuyển nhượng đất. Gia đình có 5 người : bố mẹ và 3 người con . Nhưng bố đã mất ,trước khi mất thì không để lại di chúc hay bất kì gì liên quan đến chuyển nhượng tài sản.
Vậy trong trường hợp này sổ đỏ nhà đất thì ai là người được hưởng, người mẹ có quyền được hưởng và đứng tên nếu vay vốn ngân hàng hay không ?. Gia đình họ muốn vay vốn ngân hàng thì làm thủ tục chuyển nhượng như thế nào để thời gian nhanh nhất ?
Cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì người bố đã mất và không để lại di chúc tuy nhiên bạn lại không nói rõ người bố này mất từ thời điểm nào do đó chúng tôi sẽ trao đổi với bạn như sau:

Điều 645 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 (Văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định:

"Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Như vậy:

- Nếu thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản vẫn còn:

Theo quy định của pháp luật thì di sản của người bố để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật và cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, cụ thể Điểm a Khoản 1 Điều 675 và Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

"Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;...

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

- Nếu thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản không còn:

Điểm 2.4 Mục I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Như vậy, theo những phân tích trên thì những đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất là những người được hưởng di sản do người bố để lại. Nếu gia đình có nhu cầu vay vốn ngân hàng thì phải có sự đồng ý của tất cả những đồng thừa kế trên. Tuy nhiên, nếu những đồng thừa kế có những thỏa thuận khác hay có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế và để lại phần tài sản này cho người mẹ thì người mẹ sẽ có quyền sử dụng mảnh đất này. Và khi người mẹ có quyền sử dụng mảnh đất này thì người mẹ hoàn toàn có quyền thực hiện thủ tục vay vốn ngân hàng mà không cần phải có sự đồng ý của những đồng thừa kế trên.

Thưa luật sư, xin Luật sư cho cháu hỏi trường hợp này: Năm 1963, Ông A kết hôn với bà B sinh được 2 người con là C(1964) và D(1968). C kết hôn với H sinh được 2 người con là E và Q. Năm 2012, C bị tai biến qua đời ko để lại di chúc. Năm 2013, bà B bị bệnh nặng qua đời ko để lại di chúc. C và H có tài sản chung là 500triệu, bà B có tài sản riêng là 50tr và tài sản chung với ông A là 300tr. Chia di sản của bà B thì phải chia như thế nào ạ? Cháu có thắc mắc là nếu chia theo hàng thừa kế thì chỉ chia cho A và D thì E và Q là cháu nội mà vì bố (C) mất mà ko được hưởng thì ko được công bằng cho lắm ? Luật sư trả lời cho cháu với ạ. Cảm ơn Luật sư.

=> Theo dữ liệu bạn đưa ra thì C qua đời năm 2012 và bà B qua đời năm 2013, theo quy định của Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì trường hợp này sẽ xảy ra thừa kế thế vị:

"Điều 677. Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống."

Và theo quy định của Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 trên thì di sản của bà B sẽ được chia thừa kế cho: Cha mẹ đẻ (nếu có) của bà B, cha mẹ nuôi (nếu có) của bà B, ông A, D và E, Q.

Thưa luật sư, xin cho hỏi: Ba mẹ tôi có một căn nhà không có di chúc, và chị dâu tôi kiu hai chi em tôi đi xin giấy phép xây nhà, có hứa là cho chị em tôi ơ, nhưng sau khi xây dựng thì bà chị dâu kiện ra toàn , không cho chị em tôi o đó, và tôi với chị tôi tra lại tiền số diện tích sự dụng thì toà nói lác nhà nhỏ không chia đuợc, cho tôi hỏi là có luật nào bắt buộc như vậy không ? bên toà nói rằng luật là như vậy

=> Theo dữ liệu bạn đưa ra thì chúng tôi có thể hiểu rằng bố mẹ bạn đã mất và không để lại di chúc do vậy di sản sẽ được chia thừa kế theo quy định Điểm a Khoản 1 Điều 675 và Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 nêu trên. Do đó, có thể thấy rằng chị dâu của bạn không thuộc hàng thừa kế thứ nhất để có thể được chia di sản. Do đó, quyền sử dụng đất vẫn là của chị em bạn và của những đồng thừa kế khác (nếu có).

Thưa luật sư, Bố tôi mất hơn 10 năm,sổ đỏ do ông đứng tên. Sau khi ông chết thì ko để lại di chúc gì cả. Hiện tại gia đình còn mẹ tôi & 12 người con. Sổ đó bây giờ vẫn do bố tôi đứng tên, chưa sang tên cho ai đứng cả. Lúc bố tôi mất, mẹ tôi đã bán miếng đất cho một người khác( người này là cháu ruột tôi- con của ngưới chị thứ 2) chỉ bằng giấy viết tay mà thui. =>>>> Tôi nghĩ vì bố mất không để lại di chúc, nên việc sổ đỏ vẫn chưa sang tên như vậy mà mẹ tôi bán đất mà các con không bít như vậy là bất hợp pháp có đúng không khi chưa có chữ ký của các anh em tôi? =>>>> Nếu mẹ tôi được bán thì giấy tay giao kèo giữa 2 người có cần xác nhận của chính quyền j không? hay yêu cầu đối với giấy tay như thế nào là hợp pháp? tôi rất cảm ơn và mong nhận được hồi đáp sớm nhất từ phía luật sư chào luật sư

=> Theo quy định của luật thì chỉ có bố bạn - người đang có quyền sử dụng đất mới có đầy đủ các quyền đối với tài sản đó, Điều 164 và Điều 165 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

"Điều 164. Quyền sở hữu

Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.

Điều 165. Nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu

Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác."

Tuy nhiên, theo dữ liệu bạn đưa ra thì bố bạn đã mất hơn 10 năm và không để lại di chúc như vậy trong trường hợp này di sản của bố bạn để lại sẽ được giải quyết theo quy định của Điểm 2.4 Mục I Nghị quyết 02/2014/NQ-HĐTP quy định như trên. Sau khi thực hiện xong thủ tục chia di sản/chia tài sản chung mới có thể xác định ai là người có quyền đối với tài sản này.

Do đó, có thể thấy rằng việc mẹ của bạn thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chưa thực hiện thủ tục chia di sản/chia tài sản chung là không đúng theo quy định pháp luật.

Thưa luật sư, xin hỏi: Năm 1997 bố mẹ tôi có mua 1 mảnh đất 70m2, đã có sổ đỏ và đứng tên mẹ tôi. Trong sổ hộ khẩu có tên của Bố - Mẹ - Tôi - Chị Gái - Cháu Gái - Em gái tôi. Còn 3 anh chị nữa đã tách sổ. Năm 2015 mẹ tôi đã mất và không để lại di chúc. Vậy bây giờ tôi muốn chuyển sổ đỏ từ mẹ tôi đang đứng tên sang cho tôi thì thủ tục cần những gì. Và làm như thế nào ?. Tôi xin chân thành cảm ơn

=> Theo dữ liệu bạn đưa ra thì mảnh đất này bố mẹ bạn nhận chuyển nhượng từ năm 1997 và khi cấp giấy chứng nhận chỉ có tên mẹ bạn.

- Trường hợp 1: Nếu bố mẹ bạn có thỏa thuận quyền sử dụng đất này là của riêng mẹ bạn thì đây là tài sản riêng của mẹ bạn. Khi mẹ bạn mất đi mà không để lại di chúc thì tài sản này sẽ được chia thừa kế theo pháp luật và cho những đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo những phân tích trên.

- Trường hợp 2: Nếu bố mẹ bạn không có bất kỳ thỏa thuận về xác lập chế độ tài sản của hai vợ chồng thì mảnh đất này mặc dù đứng tên mẹ bạn nhưng theo quy định thì nó vẫn là tài sản chung của cả hai vợ chồng, cụ thể Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này."

Do đó, khi mẹ bạn mất và không để lại di chúc thì di sản này sẽ được chia đôi: một nửa của bố bạn, một nửa của mẹ bạn. Di sản của mẹ bạn sẽ được chia thừa kế theo pháp luật theo như phân tích trên.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Biên bản họp gia đình về chia thừa kế đất đai có hiệu lực pháp luật không ? Thời hạn chia thừa kế

2. Cháu có được hưởng di sản thừa kế của ông bà không ?

Chào luật sư, xin cho tôi hỏi: Ông bà nội tôi có căn nhà, ông tôi đã mất, bà vẫn còn sống. Anh em tôi sống cùng bà trong căn nhà đó từ trước đến giờ( bố tôi đã mất sau khi ông mất). Nay hai cô về đòi bán căn nhà đó để chia tiền bán được.
Vậy tôi có quyền gì trong việc này không ạ ?
Cảm ơn luật sư!

Cháu có được hưởng di sản thừa kế của ông bà không?

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về thừa kế, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tại Điều 66 quy định về việc giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết như sau:

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Theo đó, căn nhà của ông bà nội bạn là tài sản chung của ông bà nên khi ông chết, bà sẽ là người quản lý tài sản chung đó và trường hợp này không có di chúc và những người thừa kế khác cũng không chỉ định người nào khác quản lý di sản. Nay hai cô của bạn ( tức con đẻ của ông bà bạn) về đòi bán căn nhà để chia số tiền bán được thì theo quy định việc này sẽ được giải quyết theo quy định về pháp luật thừa kế.

Đối với tài sản là căn nhà chung của ông bà thì hai cô của bạn chỉ có quyền yêu cầu chia di sản đối với phần tài của ông trong khối tài sản chung đó mà không có quyền đối với cả căn nhà. Vì căn nhà là tài sản chung của ông bà, nên theo nguyên tắc tài sản này sẽ được chia đôi, sau đó phần tài sản của ông sẽ tiếp tục được chia thừa kế theo pháp luật về thừa kế.

Xác định người thừa kế đối với phần di sản của ông nội bạn:

Thừa kế theo hàng thừa kế: Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thừa kế theo hàng thừa kế như sau:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo quy định trên, hàng thừa kế thứ nhất của ông nội bạn gồm: vợ ( bà nội bạn); các con đẻ của ông( hai cô của bạn). Bạn thuộc hàng thừa kế thứ hai, và do hàng thừa kế thứ nhất vẫn còn những người thừa kế còn sống nên bạn không thuộc trường hơp được hưởng thừa kế theo hàng thừa kế của người chết.

Ngoài ra, Điều 652 Bộ luật Dân sự quy định về thừa kế thế vị như sau:

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Theo quy định này, cháu sẽ được hưởng một phần di sản từ di sản của ông để lại khi bố của người cháu đó chết trước hoặc cùng thời điểm với ông, như vậy nếu bố chết sau thời điểm ông chết thì cháu sẽ không được hưởng phần di sản mà bố cháu được hưởng nếu còn sống. Do đó, trong trường hợp của bạn, bố bạn mất sau khi ông bạn mất nên bạn không thuộc đối tượng được hưởng thừa kế theo quy định về thừa kế thế vị.

Từ phân tích trên, bạn không thuộc trường hợp được thừa kế theo hàng thừa kế và cũng không thuộc trường hợp được thừa kế theo quy định về thừa kế thế vị. Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn, khi các cô của bạn đòi bán nhà thì còn phụ thuộc vào quyết định của bà bạn, vì bà bạn vừa là chủ sở hữu của căn nhà vừa là người thừa kế theo pháp luật của ông nội bạn. Mặt khác, qua thông tin bạn cung cấp, bạn và em của bạn đã ở với bà suốt thời gian qua nên sẽ có sự đóng góp, trang bị cho căn nhà, những tài sản mà bạn đóng góp thì bạn có quyền đối với những tài sản đó. Bạn phải chứng minh về việc đóng góp tài sản của mình, nếu bà của bạn và các cô quyết định bán căn nhà thì bạn có quyền yêu cầu được nhận lại phần tài sản của bạn hoặc yêu cầu bồi hoàn phần giá trị tài sản của bạn đã đóng góp trong căn nhà đó.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Di sản dùng vào việc thờ cúng có được phân chia thừa kế hay không ? Thủ tục chia thừa kế

3. Con ngoài giá thú có được hưởng di sản thừa kế ?

Thưa luật sư, tôi có vấn đề cần tư vấn như sau: Vợ chồng tôi cưới nhau được hơn 10 năm nhưng cách đây 1 năm thì chồng tôi đã mất. Thời gian gần đây có người phụ nữ đưa một thằng bé 7 tuổi tới bảo là con của chồng tôi và đòi chia thừa kế cho thằng bé đó.
Tôi trước nay không hề biết tới sự tồn tại của người phụ và đứa trẻ đó. Giờ tôi rất hoang mang, xin hỏi luật sư tôi có phải chia tài sản thừa kế của chồng tôi cho đứa con ngoài giá thú đó không ?
Cảm ơn!

Con ngoài giá thú có được hưởng di sản thừa kế?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế tài sản, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Do trong câu hỏi, bạn không nói rõ, chồng bạn mất có để lại di chúc hay không nên chúng tôi xin đưa ra hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Chồng bạn không để lại di chúc

Pháp luật dân sự không phân biệt quyền thừa kế theo pháp luật của con trong giá thú hay ngoài giá thú đối với di sản của cha. Vì vậy, nếu người phụ nữ kia có đầy đủ chứng cứ để chứng minh đứa trẻ đó là con của người chồng đã mất của bạn, thì đứa trẻ này sẽ được pháp luật bảo vệ quyền được hưởng thừa kế. Khi đó, đứa trẻ đó được coi là con đẻ của chồng bạn.

Do chồng bạn đã mất và không để lại di chúc, nên phần tài sản thuộc quyền sở hữu của chồng bạn sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Pháp luật dân sự quy định về trường hợp khi người chết không để lại di chúc như sau:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;”

Như vậy, đứa trẻ là con của chồn bạn sẽ trở thành những người thừa kế theo pháp luật và được hưởng di sản thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự về thừa kế. Pháp luật quy định về thứ tự ưu tiên trong trường hợp hưởng thừa kế theo pháp luật như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm (BLDS) 2015 về hàng thừa kế theo pháp luật thì đứa trẻ đó thuộc diện hàng thừa kế thứ nhất. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Theo quy định của pháp luật thì những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Như vậy, cần có chứng cứ chứng minh cho việc đứa trẻ kia có phải là con đẻ của chồng bạn hay không. Để thực hiện việc xác minh này, bạn có thể tiến hành xét nghiệm DNA để kiểm tra huyết thống giữa hai người. Nếu đứa trẻ đó chính xác là con ruột của người chồng đã mất bạn thì sẽ được chia thừa kế theo pháp luật.

Trường hợp 2: Chồng bạn có để lại di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo Điều 626 BLDS 2015, người lập di chúc có quyền sau đây:

- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Bạn cần kiểm tra xem chồng bạn có để lại di chúc hay không. Nếu chồng bạn để lại di chúc mà có tên đứa trẻ đó trong di chúc hưởng di sản thì đứa trẻ sẽ được hưởng phần di sản tương ứng với di chúc.

Trường hợp chồng bạn có để lại di chúc nhưng không có tên đứa trẻ hoặc chồng bạn có ghi trong di chúc là không để tài sản thừa kế cho đứa bé đó thì đứa trẻ đó vẫn được hưởng tài sản thừa kế. Pháp luật dân sự quy định về các trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào di chúc như sau:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động”.

Do bạn có nói đứa trẻ kia hiện nay mới chỉ 7 tuổi, vậy nên đứa trẻ đó được coi là con chưa thành niên của chồng bạn. Do đứa trẻ đó là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, nên dù chồng bạn có viết di chúc không để lại di sản cho đứa trẻ thì đứa trẻ vẫn được hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật.

Vì vậy, nếu có đầy đủ chứng cứ để chứng minh quan hệ cha con giữa chồng bạn và đứa trẻ kia thì đứa trẻ đó vẫn được pháp luật bảo vệ quyền được hưởng thừa kế. Theo đó, đứa trẻ đó vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Kỹ năng của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của thân chủ trong vụ việc tranh chấp thừa kế

4. Hưởng di sản thừa kế theo pháp luật ?

Thưa luật sư! Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi là công dân Úc, vẫn giữ quốc tịch Việt Nam. Nay ba mẹ tôi đã mất, để lại cho anh chị em tôi một ngôi nhà tại thành phố Đà Nẵng, xin hỏi tôi có được quyền hưởng thừa kế và đứng tên trên ngôi nhà đó không? Các anh chị em trong gia đình đã đồng ý từ chối quyền thừa kế. Tôi phải làm những thủ tục gì để giải quyết việc này?
Kinh thư !
Người gửi: D.N

>> Luật sư tư vấn quy định về hưởng di sản thừa kế, gọi:1900.6162

Trả lời:

Bố mẹ của bạn mất không để lại di chúc. Tài sản của bố mẹ bạn để lại là một ngôi nhà tại thành phố Đà Nẵng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì căn nhà mà bố mẹ bạn để lại sẽ được chia theo pháp luật.

Căn cứ Điều 676 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 quy định: Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo đó, bạn là con của bố mẹ bạn, bạn là người hưởng thừa kế thuộc hàng thừa kế tại hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ bạn. Bạn không thuộc một trong những trường hợp không được hưởng thừa kế theo quy định tại Điều 643 Bộ Luật Dân sự 2005, bao gồm:

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Chính vì vậy, bạn hoàn toàn có quyền được hưởng thừa kế của bố mẹ bạn như những đồng thừa kế khác. Những đồng thừa kế khác đã từ chối quyền hưởng di sản của mình theo Điều 642 Bộ luật Dân sự 2005 nên bạn là người duy nhất được hưởng thừa kế là căn nhà này một cách hợp pháp.

Để được hưởng di sản là ngôi nhà nêu trên bạn cần tiến hành theo trình tự, thủ tục sau:

Bước 1. Liên hệ với văn phòng công chứng để thực hiện:

- Những người được hưởng di sản thừa liên hệ với phòng công chứng để lập thông báo về việc khai nhận di sản.

- Niêm yết công khai thông báo mở thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại UBND phường, xã nơi có di sản hoặc nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản trong vòng 15 ngày.

- Nếu sau thời gian niêm yết không có tranh chấp hay khiếu nại, người được hưởng di sản tiến hành khai nhận di sản tại phòng công chứng.

Bước 2. Hồ sơ, tài liệu cần chuẩn bị bao gồm:

- Giấy tờ chứng minh tài sản của người để lại di sản thừa kế;

- Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

- Giấy tờ cá nhân của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất;

- Bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi (sổ hộ khẩu, CMND), nếu đã chết thì phải có giấy chứng tử hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền xác nhận đã chết trước thời điểm người để lại di sản thừa kế chết;

- Con đẻ, con nuôi (sổ hộ khẩu, CMND, giấy khai sinh);

- Sơ yếu lý lịch của 1 người nói trên có xác nhận của chính quyền địa phương;

- Thời gian niêm yết công khai là 30 ngày, nếu không có khiếu nại gì thì sẽ tiến hành phân chia thừa kế theo di chúc hoặc phân chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

Bước 3. Nộp thuế

Người được hưởng di sản liên hệ với cơ quan thuế có thẩm quyền để làm thủ tục nộp thuế, lệ phí trước bạ (nếu có).

Bước 4. Sang tên tài sản cho người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc

- Nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ UBND quận, huyện nơi có di sản.

- Cán bộ tiếp nhận hồ sơ ghi phiếu hẹn, nhận phiếu biên nhận có hẹn ngày giải quyết.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng!

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn pháp luật thừa kế thế vị ?Luật sư tư vấn pháp luật về thừa kế ?

>> Xem thêm:  Chia tài sản thừa kế cho chín người con như thế nào ? Tư vấn phân chia tài sản thừa kế là đất đai ?

5. Trách nhiệm khi hưởng di sản thừa kế ?

Kính chào công ty luật Minh Khuê, em có một vấn đề rất mong nhận được tư vấn: Cách đây 5 năm hai vợ chồng anh chị em có vay ngân hàng agribank 20 triệu đồng bằng thế chấp sổ đỏ nhà ở và không may là hai vợ chồng đã mất (chết) để lại một người con (hiện tại còn nhỏ) nên hiện tại không thể trực tiếp đứng ra trả nợ cho ngân hàng.
Đến hiện tại gia đình mới phát hiện ra hai vợ chồng trước nay không đóng lãi cho ngân hàng, vậy mẹ tôi có thể đại diện (tức mẹ ruột của người đi vay và hiện tại đang giữ hồ sơ vay) trực tiếp đứng ra trả nợ gốc là 20 triệu mà con của bà đã vay và xin miễn giảm một phần lãi suất từ trước đến nay chưa đóng cho ngân hàng để lấy lại sổ đỏ cho đứa bé sau này trưởng thành nếu được thì cần phải chuẩn bị những hồ sơ gì nộp cho ngân hàng?
Rất mong nhận được sự tư vấn, chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự về thừa kế tài sản, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Những người được hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngân hàng trong phạm vi di sản do người chết để lại, điều này quy định rõ tại điều 637 Bộ luật Dân sự năm 2005. Hoặc nếu có thỏa thuận khác thì bạn có thể thực hiện theo thỏa thuận đó.

Điều 637. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.

3. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.

Còn về vấn đề lãi suất, đây là giao dịch dân sự tự nguyện giữa bên vay và bên ngân hàng. Vì vậy, bạn có thể thỏa thuận với ngân hàng về vấn đề lãi suất.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Thừa kế - Công ty luật MInh Khuê

>> Xem thêm:  Xác định hàng thừa kế thứ nhất và cách phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật ?