Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900 6162
Thưa luật sư! Tôi có câu hỏi mong luật sư trả lời giúp tôi vấn đề này. Tôi có làm ở công ty may mặc và kí hợp đồng vô thời hạn. Năm 2021 tôi bị tai nạn ảnh hưởng đến chân tay và phải điều trị đến nay là hơn một năm và tôi đã đỡ được 90%. Giám đốc bên công ty đó đã gọi cho tôi và muốn chấm dứt hợp đồng lao động với tôi. Do công việc tôi ổn định lại gần nhà nên tôi không muốn mất công việc này. Vậy mong luật sư cho tôi biết giám đốc công ty tôi tự ý chấm dứt hợp đồng lao động với tôi khi tôi chưa đồng ý có đúng không? Cảm ơn Luật sư
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý
Bộ Luật lao động năm 2019
Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là trường hợp một bên trong quan hệ lao động muốn chấm dứt quan hệ lao động mà không cần có sự thỏa thuận hoặc đồng ý với bên còn lại theo quy định của pháp luật.
2. Các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động?
Căn cứ vào điều 36 BLLĐ 2019 thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt trong trường hợp sau
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ:
Nghị định hướng dẫn bộ luật lao động cũ quy định như sau“Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động là không hoàn thành định mức lao động hoặc nhiệm vụ được giao do yếu tố chủ quan và bị lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất hai lần trong 1 tháng mà sau đó vẫn không khắc phục…”. Như vậy, người lao động chỉ được coi là thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng khi người lao động bị Người sử dụng lao động lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất 2 lần trong 1 tháng mà sau đó người lao động vẫn không khắc phục thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động.
Tuy nhiên, đến Bộ luật lao động năm 2019 đã quy định mở hơn cho người sử dụng lao động khi quy định về tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc của người lao động (người lao động hoàn thành công việc hay không hoàn thành công việc hay thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động), người sử dụng lao độngcó quyền tự xây dựng, quy định cụ thể các tiêu chí này trong Quy chế của đơn vị cho phù hợp với đặc thù công việc của đơn vị sử dụng lao động. Khi xây dựng Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc của người lao động , thì người sử dụng lao độngphải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Tuy nhiên, trên thực tế, có trường hợp người sử dụng lao động chưa xây dựng Quy chế quy định về mức độ hoàn thành công việc của người lao động thì khi xử lý trường hợp này cần phải vận dụng linh hoạt quy định pháp luật lao động để đánh giá, chứ không nên hiểu máy móc, cứng nhắc quy định của pháp luật để cho rằng do người sử dụng lao động chưa có Quy chế quy định về vấn đề này nên người sử dụng lao động không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động vì lý do người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc (trường hợp này nếu xét về bản chất đánh giá được người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc thì người sử dụng lao động vẫn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động ).
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với NLĐ bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của NLĐ bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với NLĐ.
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với NLĐ do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc.
Điều kiện để người sử dụng lao động có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ là đơn vị sử dụng lao động chịu sự tác động của lý do khách quan và cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu buộc phải thu hẹp sản xuất, kinh doanh, dẫn đến phải cho 1 số NLĐ nghỉ việc. Trong trường hợp này, người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm đào tạo lại NLĐ để tạo khả năng tối đa tiếp tục sử dụng NLĐ vào những việc làm mới, nếu không giải quyết được việc làm mới thì phải cho NLĐ thôi việc.
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 BLLĐ 2019.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết hạn tạm hoãn thực hiện HĐLĐ mà NLĐ không có mặt tại nơi làm việc thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ.
- Người sử dụng lao độngđơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 BLLĐ 2019, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Khi NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu thì người sử dụng lao động có quyền chấm dứt HĐLĐ với NLĐ để NLĐ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, mà không kể thời gian tham gia đóng bảo hiểm xã hội của NLĐ.
- NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên.
Khi NLĐ nghỉ việc liên tục 05 ngày trở lên mà không có lý do chính đáng, như: bản thân, thân nhân ốm đau (có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền); thiên tai, hỏa hoạn,… thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ. Ngược lại, NLĐ nghỉ việc liên tục 05 ngày trở lên có lý do chính đáng mà người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ được coi là trái pháp luật.
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 BLLĐ 2019 khi giao kết HĐLĐ làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng NLĐ.
Như vậy với trường hợp của bạn thì Giám đốc công ty bạn chấm dứt hợp đồng đơn phương là đúng theo quy định của pháp luật vì hợp đồng của bạn vô thời hạn mà bạn điều trị hơn 1 năm nay với thời gian liên tục. Tuy nhiên trước khi chấm dứt hợp đồng Giám đốc bên bạn phải báo trước 45 ngày theo quy định tại khoản 2 điều 36 Bộ luật lao động năm 2019. Nếu bạn tiếc công việc này mà sức khỏe bạn hoàn toàn bình phục, có thể đảm nhận tốt như trước đây thì bạn có thể tiếp tục giao kết hợp đồng với công ty may đó.
3. Về thủ tục chấm dứt HĐLĐ
Trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ, NSDLĐ phải trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Trong trường hợp không nhất trí được với nhau hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương biết, NSDLĐ mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ (trừ trường hợp NLĐ bị NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ do NLĐ vi phạm kỷ luật lao động ở mức kỷ luật sa thải), NSDLĐ phải báo trước cho NLĐ 1 thời gian nhất định tùy loại HĐLĐ, cụ thể là: ít nhất 45 ngày đối với HĐLĐ không xác định thời hạn; 30 ngày đối với HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và 3 ngày đối với HĐLĐ theo mùa vụ hoặc công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
4. Trường hợp người lao động vi phạm kỷ luật lao động với hình thức kỷ luật sa thải.
Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động, với lý do: người lao động vi phạm kỷ luật lao động với hình thức kỷ luật sa thải theo quy đinh tại khoản 4 Điều 124 BLLĐ 2019.
5. Người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng trái quy định.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Bộ luật lao động 2019
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê