1. Cơ sở pháp lý

- Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2013

- Nghị định 69/2014/NĐ-CP

- Thông tư 32/2013/TT-NHNN

- Thông tư 16/2015/TT-NHNN

- Thông tư 13/2011/TT-NHNN

2. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước là gì?

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty là một tổ hợp liên kết giữa các pháp nhân độc lập trên cơ sở hoạt động đầu tư và thỏa thuận trong hợp đồng liên kết. Hoạt động đầu tư và thỏa thuận trong hợp đồng liên kết tạo lập quyền và nghĩa Vụ cho mỗi thành viên trong tập đoàn, trong đó có những pháp nhân giữ quyền chi phổi, những pháp nhân bị chi phối và những pháp nhăn không bị chi phối”

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước là tập đoàn kinh tế, tổng công ty có công ty mẹ được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước m chủ sở hữu hoặc công ty mẹ công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước.

3. Nguồn thu ngoại tệ hợp pháp là gì?

>> Xem thêm:  Tập đoàn kinh tế là gì ? Tổng công ty là gì ? Đặc điểm pháp lý, cho ví dụ

Thưa luật sư trong quá trình làm việc, tôi có tìm hiểu thêm thông tin về hoạt động mua, bán ngoại tệ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước. Tôi thấy một vài tài liệu đề cập đến nguồn thu ngoại tệ hợp pháp, tuy nhiên không phân tích rõ. Cho tôi hỏi, pháp luật quy định như thế nào là nguồn thu ngoại tệ hợp pháp? Rất mong nhận được giải đáp. Xin cảm ơn! (Tuất Kiệt - Hải Phòng)

Chào bạn, nội dung bạn hỏi chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Ngày 31/5/2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư 13/2011/TT-NHNN về mua, bán ngoại tệ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Thông tư này quy định việc Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước thực hiện nghĩa vụ bán ngoại tệ cho Tổ chức tín dụng được phép và được quyền mua lại ngoại tệ trong phạm vi số ngoại tệ đã bán từ Tổ chức tín dụng được phép để phục vụ nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp.

Theo đó, nguồn thu ngoại tệ hợp pháp là một trong những khái niệm trọng tâm và được định nghĩa tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư 13/2011/TT-NHNN. Cụ thể như sau:

Nguồn thu ngoại tệ hợp pháp là nguồn thu của Tổ chức từ các giao dịch vãng lai và các giao dịch hợp pháp khác (không phải là nguồn thu từ các giao dịch vốn) theo quy định tại Nghị định số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối.

4. Các nguồn ngoại tệ Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước phải bán cho Tổ chức tín dụng được phép

Thưa luật sư, theo tôi được biết đối với Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phải bán ngoại tệ cho Tổ chức tín dụng được phép. Vậy pháp luật quy định những nguồn ngoại tệ nào phải bán cho Tổ chức tín dụng được phép? Rất mong được luật sư giải đáp. Xin cảm ơn! (Cát Mẫn - Bình Định)

Chào bạn, nội dung bạn hỏi chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Việc mua bán ngoại tệ của Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước được quy định tại Thông tư 13/2011/TT-NHNN. Theo đó, nguồn ngoại tệ tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước phải bán cho Tổ chức tín dụng được phép được quy định cụ thể tại Điều 4 Thông tư này. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, số dư tiền gửi không kỳ hạn và số dư tiền gửi có kỳ hạn trên tài khoản tiền gửi ngoại tệ của Tổ chức tại Tổ chức tín dụng được phép tại thời điểm ngày 01 tháng 07 năm 2011.

Thứ hai, ngoại tệ dưới hình thức kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, trái phiếu hoặc giấy tờ có giá khác (gọi tắt là giấy tờ có giá) theo quy định hiện hành của pháp luật mà Tổ chức mua của Tổ chức tín dụng được phép hoặc tổ chức khác. Kết thúc kỳ hạn của các giấy tờ có giá, Tổ chức chuyển số ngoại tệ (gốc và lãi) vào tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại Tổ chức tín dụng được phép.

Thứ ba, ngoại tệ đang được Tổ chức ủy thác cho vay hoặc ủy thác đầu tư, Tổ chức không được gia hạn Hợp đồng ủy thác. Hết thời hạn ủy thác, Tổ chức chuyển số ngoại tệ thu được (gốc, lãi và các thu nhập hợp pháp khác) về tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại Tổ chức tín dụng được phép.

Thứ tư, các khoản tiền gửi ngoại tệ vào ngày 01 tháng 07 năm 2011 thuộc tài khoản ký quỹ, đặt cọc hay bảo lãnh để thanh toán cho nghĩa vụ nợ trong tương lai, các Tổ chức không phải bán cho Tổ chức tín dụng được phép. Hết thời hạn ký quỹ, đặt cọc hay bảo lãnh; nếu không tiếp tục gia hạn thời gian ký quỹ, đặt cọc hay bảo lãnh hoặc không sử dụng hoặc không sử dụng hết để thanh toán cho nghĩa vụ nợ, Tổ chức chuyển số ngoại tệ về tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại Tổ chức tín dụng được phép.

Thứ năm, Nguồn thu ngoại tệ hợp pháp khác.

5. Nguyên tắc mua bán ngoại tệ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước

Kính chào công ty luật Minh Khuê, tôi tên là Trí Đạt hiện đang là sinh viên học tập tại Hà Nội. Tôi có thắc mắc pháp lý liên quan đến bài tập môn học của tôi mong được các luật gia giải đáp. Nội dung thắc mắc đó là: Nguyên tắc mua bán ngoại tệ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước được quy định như thế nào?

Chào bạn, nội dung bạn hỏi chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Nguyên tắc mua bán ngoại tệ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước được quy định tại Điều 5 Thông tư 13/2011/TT-NHNN. Cụ thể như sau:

1. Hàng tháng, Tổ chức có trách nhiệm tự cân đối nguồn thu ngoại tệ và nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp của Tổ chức, số ngoại tệ còn lại Tổ chức bán cho Tổ chức tín dụng được phép.

2. Tổ chức không được sử dụng một nhu cầu ngoại tệ để gửi cho nhiều Tổ chức tín dụng được phép khác nhau làm cơ sở cân đối thu, chi ngoại tệ trong tháng của Tổ chức.

3. Khi nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp trong tháng lớn hơn số dư hiện có trên tài khoản tiền gửi ngoại tệ của Tổ chức và nguồn thu ngoại tệ trong tháng, trong phạm vi tổng số ngoại tệ đã bán cho Tổ chức tín dụng được phép, Tổ chức được quyền mua lại số ngoại tệ còn thiếu để phục vụ nhu cầu sử dụng hợp pháp.

4. Tổ chức bán ngoại tệ cho Tổ chức tín dụng được phép nào thì thực hiện việc mua lại ngoại tệ từ chính Tổ chức tín dụng đó. Tổ chức tín dụng được phép có trách nhiệm theo dõi, kiểm soát đảm bảo nguyên tắc Tổ chức được mua lại số ngoại tệ tối đa bằng số ngoại tệ mà Tổ chức đã bán cho Tổ chức tín dụng được phép theo quy định tại Thông tư này.

5. Thời hạn Tổ chức được quyền mua lại số ngoại tệ đã bán cho Tổ chức tín dụng được phép là 01 năm kể từ tháng Tổ chức bán ngoại tệ cho Tổ chức tín dụng được phép.

6. Trường hợp khi đã mua lại hết số ngoại tệ mà Tổ chức đã bán cho Tổ chức tín dụng được phép theo quy định tại Thông tư này, Tổ chức vẫn có nhu cầu mua ngoại tệ, việc mua, bán ngoại tệ của Tổ chức và Tổ chức tín dụng được phép thực hiện trên cơ sở thỏa thuận của các bên, tuân thủ quy định hiện hành có liên quan về quản lý ngoại hối.

7. Tổ chức tín dụng được phép có trách nhiệm tự cân đối ngoại tệ để thực hiện việc mua, bán ngoại tệ với các Tổ chức theo quy định tại Thông tư này. Tổ chức tín dụng được phép phải đảm bảo thực hiện các quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc duy trì trạng thái ngoại hối tại thời điểm thực hiện việc mua, bán ngoại tệ với các Tổ chức.

8. Tỷ giá thực hiện mua, bán ngoại tệ của Tổ chức tín dụng được phép và Tổ chức được thực hiện theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nguyên tắc mua bán ngoại tệ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước.

6. Quyền mua lại ngoại tệ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước

Thưa luật sư, theo tôi được biết Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước có quyền mua lại ngoại tệ. Vậy pháp luật quy định Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước được quyền mua lại ngoại tệ khi nào? Rất mong nhận được giải đáp. Xin cảm ơn! (Trí Minh - Đồng Tháp)

Chào bạn, nội dung bạn hỏi chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Quyền mua lại ngoại tệ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước là một trong những nội dung trọng tâm và được quy định tại Điều 12 Thông tư 13/2011/TT-NHNN. Cụ thể như sau:

1. Trường hợp nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp trong tháng của chính các Tổ chức lớn hơn số ngoại tệ thu được và số dư tài khoản tiền gửi ngoại tệ hiện có, trong phạm vi số ngoại tệ đã bán cho Tổ chức tín dụng được phép, Tổ chức được quyền mua số ngoại tệ còn thiếu từ Tổ chức tín dụng được phép trên cơ sở xuất trình tài liệu, chứng từ hợp lệ cho Tổ chức tín dụng được phép để phục vụ nhu cầu sử dụng hợp pháp.

2. Trường hợp cần mua số lượng ngoại tệ lớn (theo quy định của Tổ chức tín dụng được phép) để phục vụ nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp, Tổ chức có trách nhiệm thông báo cho Tổ chức tín dụng được phép biết ít nhất 05 ngày làm việc trước ngày thực mua ngoại tệ để sử dụng.

7. Trách nhiệm của Tập đoàn kinh tế, tổng công ty rong hoạt động mua bán ngoại tệ

Chào luật sư, luật sư giải đáp giúp tôi thắc mắc sau đây ạ. Tôi có đọc được tài liệu về việc tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phải bán lại ngoại tệ cho Tổ chức tín dụng. Vậy pháp luật quy định Trách nhiệm của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước như thế nào trong việc mua bán này? Rất mong được luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!

Chào bạn, nội dung bạn hỏi chúng tôi nghiên cứu giải đáp như sau:

Trách nhiệm của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước trong việc mua bán ngoại tệ được quy định tại Điều 14 Thông tư 13/2011/TT-NHNN. Cụ thể như sau:

Một là, Thực hiện nghiêm túc việc mua, bán ngoại tệ theo quy định tại Thông tư này.

Hai là, Kê khai chính xác các nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp trong tháng để yêu cầu Tổ chức tín dụng được phép giữ lại số ngoại tệ thu được để tự cân đối nhu cầu thu chi ngoại tệ trong tháng của Tổ chức. Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc (Giám đốc) Tổ chức phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, hợp lệ của tài liệu, chứng từ chứng minh nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp trong tháng, tự cân đối khả năng thu, chi ngoại tệ trong tháng để thực hiện quy định mua, bán ngoại tệ với Tổ chức tín dụng được phép theo quy định tại Thông tư này.

Ba là, Xuất trình đầy đủ chứng từ, tài liệu theo quy định và yêu cầu của Tổ chức tín dụng được phép khi thực hiện giao dịch mua, bán ngoại tệ. Trường hợp chứng từ, tài liệu thực hiện các giao dịch có yếu tố bảo mật thông tin, Tổ chức phải có bản cam kết có xác nhận của Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc (Giám đốc) của Tổ chức về tính trung thực, chính xác của nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp để Tổ chức tín dụng có cơ sở thực hiện việc mua, bán ngoại tệ.

Bốn là, lưu giữ các chứng từ liên quan tới việc mua, bán ngoại tệ theo quy định tại Thông tư này để phục vụ công tác kiểm tra, kiểm toán.

Năm là, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước có trách nhiệm rà soát, thống kê danh sách các doanh nghiệp thành viên thuộc đối tượng điều chỉnh của Thông tư này và gửi cho Tổ chức tín dụng được phép nơi có giao dịch tài khoản tiền gửi ngoại tệ để thực hiện việc mua, bán ngoại tệ. Trường hợp có thay đổi về danh sách các doanh nghiệp thành viên thuộc đối tượng điều chỉnh của Thông tư, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước có trách nhiệm thông báo ngay với Tổ chức tín dụng được phép biết, cập nhật danh sách và thực hiện việc mua, bán ngoại tệ theo quy định tại Thông tư này.

Sáu là, tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn, yêu cầu các doanh nghiệp thành viên nghiêm túc triển khai thực hiện việc mua, bán ngoại tệ theo quy định tại Thông tư này.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "quy định pháp luạt về quyền mua, bán ngoại tệ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Bộ phân tư vấn pháp luật ngân hàng - Công ty luật Minh Khuê

Câu hỏi thường gặp về mua bán ngoại tệ

Câu hỏi: Nghĩa vụ bán ngoại tệ là gì?

Trả lời:

Nghĩa vụ bán ngoại tệ là việc Tổ chức phải bán cho Tổ chức tín dụng được phép số ngoại tệ thu được từ các nguồn thu ngoại tệ hợp pháp và số dư trên các tài khoản tiền gửi tại các Tổ chức tín dụng được phép.

Câu hỏi: Quyền mua ngoại tệ là gì?

Trả lời:

Quyền mua ngoại tệ là việc Tổ chức được mua lại ngoại tệ trong phạm vi số ngoại tệ đã bán cho Tổ chức tín dụng được phép để đáp ứng cho các nhu cầu thanh toán vãng lai và các giao dịch hợp pháp khác trên cơ sở xuất trình các hồ sơ, chứng từ hợp lệ có liên quan.

Câu hỏi: Nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp là gì?

Trả lời:

Nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp là các nhu cầu thanh toán ngoại tệ, ký quỹ, đặt cọc cho các nghĩa vụ bằng ngoại tệ hợp pháp theo quy định hiện hành của pháp luật.